MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC HÌNH iii
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH
TRONG THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 7
1.1. Cơ sở lý luận 7
1.1.1. Khái quát chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và chính sách FDI
của nước chủ nhà 7
1.1.2. Chính sách tài chính trong thu hút FDI 12
1.2. Cơ sở thực tiễn 19
1.2.1. Trung Quốc 19
1.2.2. Malaysia 23
1.2.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 25
CHƢƠNG 2 27
CHÍNH SÁCH ƢU ĐÃI THUẾ TRONG THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP
NƢỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1997 – 2011 27
2.1. Quá trình điều chỉnh chính sách ƣu đãi thuế trong thu hút FDI vào Việt
Nam giai đoạn 1997-2011 27
2.1.1. Thuế thu nhập doanh nghiệp 27
2.1.2. Thuế xuất khẩu, nhập khẩu 28
2.1. 3. Thuế thu nhập cá nhân 30
2.1.4. Thuế giá trị gia tăng 32
2.1. 5. Thuế tiêu thụ đặc biệt 35
2.1.6. Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài (CLNRNN) 37
2.1.7. Điều chỉnh chính sách ưu đãi thuế tại các địa phương 38
2.2. Dấu hiệu về phản ứng của dòng FDI đối với điều chỉnh chính sách ƣu đãi
thuế giai đoạn 1997-2011 38
2.2.1. Tăng/giảm vốn ĐTNN 38
i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
1
ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
2
BCC
Hợp đồng hợp tác kinh doanh
3
BOT
Xây dựng – Vận hành – Chuyển giao
4
BT
Xây dựng – Chuyển giao
5
BTA
Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ
6
BTO
Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh
7
CLNRNN
Chuyển lợi nhuận ra nước ngoài
8
HĐBT
Hội đồng bộ trưởng
19
ITA
Hỗ trợ cho hoạt động đầu tư
ii
20
KCN
Khu công nghiệp
21
KCNC
Khu công nghệ cao
22
KCX
Khu chế xuất
23
KHCN
Khoa học công nghệ
24
KHĐT
Kế hoạch đầu tư
25
KKT
Khu kinh tế
26
M & A
Sáp nhập và mua lại
27
MNCs
Hội nghị của Liên Hợp quốc về Thương mại và Phát triển
9
WFOE
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
10
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
11
XK
Xuất khẩu
iii
DANH MỤC BẢNG
STT
Số hiệu
Nội dung
Trang
1
Bảng 2.1
Cơ cấu vốn ĐTNN phân theo hình thức đầu tư từ
1988 – 2011
42
2
Bảng 2.2
Cơ cấu vốn ĐTNN phân theo lĩnh vực đầu tư từ 1988
– 2011
42
làm chậm lại tốc độ tăng trưởng và đưa nền kinh tế nước ta lâm vào tình trạng khó
khăn. Giai đoạn sau khủng hoảng được coi là giai đoạn suy thoái của thu hút vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã đưa ra nhiều biện pháp thay đổi chính sách
mở cửa, cải thiện nhanh môi trường thu hút đầu tư nước ngoài nhằm đối phó với
tình trạng sụt giảm của luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và những diễn biến
mới của tiến trình toàn cầu hoá. Việc thay đổi chính sách tài chính, đặc biệt là chính
sách thuế theo hướng tăng quyền lợi cho các nhà đầu tư đã được Chính phủ Việt
Nam thực hiện được xem như là một biện pháp cấp thiết nhằm tăng sức hấp dẫn cho
môi trường Đầu tư.
Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, nhiều ý kiến cho rằng Việt
Nam vẫn chưa tận dụng tối ưu cơ hội thu hút FDI và chưa tối đa được lợi ích mà
đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể mang lại; Việc áp dụng chính sách tài chính trong
thu hút Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, đặc biệt là chính sách thuế còn
nhiều hạn chế, vướng mắc và chưa đạt được như mong muốn. Vậy phải chăng chính
sách tài chính, đặc biệt là chính sách thuế trong thu hút FDI của Việt Nam còn chưa
phù hợp với thực tiễn? mục tiêu thay đổi chính sách thuế theo hướng tăng quyền lợi
cho các nhà đầu tư còn chưa gặp nhau giữa chính phủ Việt Nam và các nhà đầu tư
nước ngoài? Hay chủ trương, chính sách đúng nhưng việc quản lý, thực hiện còn có
2
nhiều quy định chồng chéo, thủ tục phiền hà? Ở một số nước Châu Á đã áp dụng
chính sách này như thế nào và chúng ta học tập được gì từ kinh nghiệm của những
nước đó? Trong giai đoạn tới chúng ta cần điều chỉnh chính sách thuế như thế nào
để việc thu hút FDI vào Việt Nam đạt được kết quả mong muốn?
Việc nghiên cứu chính sách tài chính, đặc biệt là chính sách thuế trong thu
hút Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam là rất cần thiết giúp cho chúng ta trước
hết để lý giải những vướng mắc trên, sau góp phần làm sáng rõ, bổ sung cơ sở khoa
học và thực tiễn về chính sách ưu đãi về thuế nhằm tăng cường thu hút Đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Đó chính là lý do để tác giả chọn đề tài “Chính
- Luận án của Hoàng Văn Huấn (1995) đã nêu ra những vấn đề lý luận và kinh
nghiệm về Đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số nước trên Thế giới, trong khu vực
và ở Việt Nam. Thực trạng chính sách Đầu tư trực tiếp nước ngoài và vai trò tổ chức
quản lý nhà nước đối với hoạt động này ở Việt Nam. Luận án cũng đưa ra một số giải
pháp hoàn thiện chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam. Tuy
nhiên khi đề cập đến từng chính sách cụ thể thì tác giả cũng chỉ đưa ra được những
nét cơ bản nhất, rất chung chung về những chính sách đó, không thể giúp chúng ta có
được cái nhìn sâu sắc về hệ thống chính sách thu hút FDI ở Việt Nam.
- Luận án của Trần Ngọc Hoàng (2004) đã nêu được những vấn đề cơ bản về thuế
và vai trò của thuế trong việc thu hút vốn Đầu tư FDI; thực trạng của chính sách thuế đối
với khu vực FDI tại Việt Nam nhưng năm vừa qua (1988 - 2002) và đưa ra những giải
pháp hệ thống chính sách này. Tuy nhiên, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu chính sách thuế
đối với khu vực đầu tư nước ngoài chứ chưa nghiên cứu những chính sách khác tác động
đến việc thu hút vốn Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.
- TS. Đinh Văn Ân, TS. Nguyễn Thị Tuệ Anh và cộng sự (2008) đã nêu được
kết quả thu hút và thực hiện vốn Đầu tư trực tiếp nước ngoài 20 năm (1988 - 2007).
Các tác giả đã tiến hành điều tra một số doanh nghiệp chịu ảnh hưởng trực tiếp khi
Việt Nam thực hiện cam kết WTO; đưa ra được kết quả thực hiện vốn đầu tư và sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đó. Các tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị
chính sách nhằm thu hút FDI trong thời gian tới, song chưa đề cập đến chính sách
thu hút FDI và những thay đổi chính sách đó tác động tới kết quả thu hút FDI sau
khi Việt Nam gia nhập WTO.
4
- Lê Xuân Sang (2007) đã tóm lược tính cần thiết phải điều chỉnh chính sách
thuế, thuế quan và trợ cấp sau khi gia nhập WTO, phân tích một số bài học rút ra từ
kinh nghiệm quốc tế, điểm qua thành tựu và một số hạn chế của chính sách thuế,
thuế quan và trợ cấp của Việt Nam theo các quan điểm hiệu quả kinh tế và tính
tương thích của chính sách hiện hành so với các quy định của WTO. Từ những phân
tích đó, bài viết đã đưa ra một số phương hướng điều chỉnh chính sách thuế và trợ
hút Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu chính sách tài chính trong thu hút FDI ở Việt Nam, đặc biệt là từ
sau khủng hoảng tài chính Châu Á 1997, từ đó đưa ra một số hàm ý về chính sách
tài chính trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát một số vấn đề lý luận và thực tiễn về FDI và chính sách tài chính,
chú trọng vào chính sách ưu đãi thuế trong thu hút FDI.
- Tập trung nghiên cứu chính sách ưu đãi thuế trong thu hút FDI vào Việt
Nam giai đoạn 1997 - 2011. Làm rõ quá trình thay đổi chính sách ưu đãi thuế thu
hút FDI và những dấu hiệu về phản ứng của dòng FDI đối với điều chỉnh chính sách
ưu đãi thuế giai đoạn 1997-2011.
- Đưa ra một số hàm ý về chính sách ưu đãi thuế thu hút FDI ở Việt Nam để
Việt Nam có thể cải thiện môi trường đầu tư, tăng thu hút FDI trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn
- Nghiên cứu việc áp dụng chính sách tài chính, cụ thể là chính sách ưu đãi thuế
trong thu hút FDI vào Việt Nam
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn định hướng nghiên cứu chính sách tài chính, tập trung vào chính sách
ưu đãi về thuế trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam giai đoạn 1997 –
2011 bao gồm quá trình điều chỉnh, mục đích điều chỉnh và dấu hiệu phản ứng của
dòng FDI vào Việt Nam sau khi có những điều chỉnh của chính sách ưu đãi thuế.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
6
- Phương pháp kế thừa: Luận văn thu thập, tổng hợp, phân tích và đánh giá
các tài liệu có sẵn từ những nghiên cứu trước đây, kế thừa có chọn lọc những tài
liệu đó.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH TRONG THU
HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Khái quát chung về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) và chính sách FDI
của nƣớc chủ nhà
1.1.1.1. Bản chất, đặc điểm và các hình thức FDI chủ yếu
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI = Foreign Direct Investment) là hình thức
đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập
cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản
lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã
được đưa ra bởi các tổ chức kinh tế quốc tế có uy tín.
Tổ chức thương mại thế giới WTO đưa ra định nghĩa về FDI như sau: “Đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu
tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản
lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính
khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở
nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường
hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi
nhánh công ty".
Khác với các đầu tư trong nước hoặc thậm chí cả các đầu tư bằng nguồn vốn
ODA, FDI có các đặc trưng riêng có tính chất đặc thù, ngoài các đặc trưng cơ bản
của một đầu tư nói chung. Các đặc trưng có tính chất đặc thù của FDI là:
- Nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp tham gia điều hành hoặc tự điều hành dự án.
- Chủ đầu tư có quốc tịch nước ngoài.
- Dự án đầu tư quốc tế chịu sự chi phối đồng thời của nhiều hệ thống pháp
luật (luật pháp quốc gia và quốc tế). Trong quá trình tự do hóa thương mại và đầu tư
8
thì các quốc gia đều phải tiến hành cải tiến hệ thống pháp luật của mình cho phù
nghệ thiết kế và xây dựng, công nghệ quản lý, marketing…
Góp phần phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm: Phát triển nguồn
nhân lực và tạo việc làm là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bởi vì
nhân tố này có ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động sản xuất, các vấn đề xã hội và
mức độ tiêu dùng của dân cư. Phần lớn các doanh nghiệp có vốn FDI đề tổ chức các
khóa đào tạo nghề tại các nước sở tại, trường hợp cần thiết họ còn gửi lao động đi
đào tạo ở nước ngoài. Bên cạnh việc giúp nước sở tại có được đội ngũ lao động với
trình độ chuyên môn cao, có tác phong công nghiệp, tạo việc làm cho nhiều người
thuộc lĩnh vực cung cấp dịch vụ.
Thúc đẩy xuất nhập khẩu: Các doanh nghiệp có vốn FDI luôn phải nhập
nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh của mình và đưa các sản
phẩm đã qua gia công chế biến ra bán ở thị trường trong và ngoài nước, qua đó đã
thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu của nước sở tại. Đối với các nhà đầu tư nước
ngoài, xuất khẩu là yếu tố quan trọng giúp họ thu được lợi nhuận cao, thông qua
xuất khẩu những lợi thế so sánh của các yếu tố sản xuất được khai thác có hiệu quả
hơn. Bởi vậy, đẩy mạnh xuất khẩu luôn là ưu tiên đặc biệt của các doanh nghiệp có
vốn FDI. Đối với nước sở tại, xuất khẩu là nhân tố quyết định đến tốc độ tăng
trưởng của nền kinh tế. Như vậy, tác dụng thúc đẩy xuất khẩu của FDI đã mang lại
lợi ích cho cả hai phía.
Hình thành liên kết các ngành công nghiệp: Nhu cầu trao đổi hàng hóa
giữa các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn FDI thường xuyên
xảy ra. Xuất phát từ nhu cầu này, mối liên kết giữa các ngành công nghiệp được
hình thành và phát triển. Việc hình thành mối liên kết này là cơ sở quan trọng để
chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy xuất nhập khẩu của
nước sở tại.
Ngoài các vai trò kể trên, FDI trong một chừng mực nào đó có thể góp phần
nâng cao chất lượng môi trường, xóa bỏ độc quyền, tăng cường an ninh quốc gia,
phát triển văn hóa – xã hội… Tuy nhiên, những tác động chỉ có thể có khi nước sở
10
Các chính sách, quy định của nước chủ nhà cần phải thống nhất với nhau,
tránh việc các nhà đầu tư không biết thực hiện theo chính sách hoặc quy định nào là
đúng và cũng tránh cho các nhà đầu tư vi pham pháp luật của nước chủ nhà.
Chính sách hay quy định của nước chủ nhà minh bạch, đồng bộ, chặt chẽ,
hiệu quả thực hiện cao và phù hợp với thông lệ quốc tế sẽ góp phần tăng dòng vốn
đầu tư quốc tế vào nước chủ nhà.
Vị trí địa lý – điều kiện tự nhiên: Bao gồm các yếu tố về khoảng cách,địa
điểm, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, dân số Đây là những yếu tố tác động quan
trọng đến tính sinh lãi hoặc rủi ro của các hoạt động đầu tư. Vị trí địa lý thuận lợi,
không cách trở sẽ dẫn đến chi phí vận chuyển thấp, giảm được giá thành và hạn chế
rủi ro. Một nước sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài nếu có nguồn khoáng sản
dồi dào với trữ lượng lớn, nhiều danh lam thắng cảnh đẹp và dân số đông. Quy mô
dân số đông không chỉ có lợi về cung cấp nguồn lao động mà còn tạo ra thị
trườntiêu thụ lớn., tuy nhiên mức độ hấp dẫn của yếu tố này đối với các nhà đầu tư
còn phụ thuộc vào chất lượng của thị trường lao động và sức mua của dân cư.
Trình độ phát triển của nền kinh tế: là các mức độ phát triển về quản lý
kinh tế vĩ mô, cơ sở hạ tầng, chât lượng cung cấp dịch vụ cho các hoạt động kinh
doanh của các nhà đầu tư nước ngoài và mức độ cạnh tranh của thị trường nước chủ
nhà. Trình độ quản lý kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng lớn đến sự ổn định của kinh tế vĩ
mô, các thủ tục hành chính và tham nhũng. Những nước có trình độ quản lý kinh tế
vĩ mô kém thường dẫn tới tình trạng lạm phát cao, nợ nước ngoài lớn, tốc độ tăng
trưởng kinh tế thấp, các thủ tục hành chính rườm rà, nạn tham nhũng Mặt khác, sự
phát triển của cơ sở hạ tầng và dịch vụ sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi và giảm
những chi phí phát sinh cho các hoạt động đầu tư.
Đặc điểm phát triển văn hóa – xã hội: Đặc điểm phát triển văn hóa – xã
hội cũng ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động đầu tư nước ngoài. Nó bao gồm các
yếu tố chủ yếu về ngôn ngữ, tôn giáo, giá trị đạo đức và tinh thần dân tộc, phong tục
tập quán, thị hiếu thẩm mỹ và giáo dục. Sự bất đồng về ngôn ngữ là một trong
những khó khăn nhất cho các nhà đầu tư khi kinh doanh ở nước ngoài. Nó không
12
13
chất như giảm nhẹ gánh nặng thuế, vừa mang tính chất áp dụng các mức thuế suất
phân biệt. Tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý, nhà nước có thể tăng hoặc giảm quy mô
và mức độ của các ưu đãi thuế để kích thích tăng tích lũy và tích tụ trong các doanh
nghiệp. Điều đó, cho phép nhà nước linh hoạt điều chỉnh nền kinh tế tuỳ thuộc vào
cục diện thị trường.
Một chính sách thuế hợp lý, ổn định rõ ràng và công bằng sẽ thúc đẩy đầu tư
phát triển. Là một bộ phận quan trọng của chính sách kinh tế tài chính, chính sách thuế
với những sắc thuế và những quy định cụ thể về thuế suất, ưu đãi miễn giảm ảnh hưởng
trực tiếp đến lợi nhuận, thu nhập của nhà đầu tư. Suy cho cùng mục tiêu của mọi hoạt
động đầu tư là giành được hiệu quả trong tương lai, đó là thu nhập ròng hay còn gọi là
phần giá trị gia tăng sau khi đã hoàn đủ vốn ban đầu đã bỏ ra. Thu nhập ròng càng lớn
thì sức thu hút đầu tư càng mạnh. Do đó, chính sách thuế có tác dụng rất quan trọng
trong việc khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển.
Trong nền kinh tế thị trường, thuế được coi là công cụ quan trọng để điều tiết
vĩ mô nền kinh tế. Thuế không những là nguồn thu quan trọng, chủ yếu của ngân
sách nhà nước, mà còn ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế. Đối với nhà đầu
tư nước ngoài, khi bỏ vốn đầu tư họ luôn quan tâm đến mức độ an toàn của vốn và
phần lợi nhuận thu được so với vốn bỏ ra. Nhưng trong thời gian tới vấn đề an toàn
vốn không còn là sự quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư, cho nên vai trò của thuế
có tác động lớn đến FDI vì thuế ảnh hưởng quan trọng đến tỷ suất lợi nhuận của vốn
đầu tư, khi một nhà đầu tư dự định đầu tư vào một dự án nào đó họ sẽ quan tâm
trước hết đến lợi nhuận; thuế tác động đến lợi nhuận và do đó ảnh hưởng đến quyết
định đầu tư; thuế đóng vai trò bảo vệ sản xuất trong nước (thuế quan nhập khẩu) sẽ
kích thích đầu tư nước ngoài vào nền kinh tế nội địa, thông thường một mặt hàng
nào đó đánh thuế nhập khẩu cao ở nước sở tại thì các nhà đầu tư sẽ nghĩ đến việc
đầu tư sản xuất vào mặt hàng đó. Để tránh hàng rào thuế quan, thuế tạo ra thị trường
đủ lớn cho các nhà đầu tư sản xuất vào một ngành nào đó. Trong kinh tế có một
khái niệm: Hiệu quả của quy mô sản xuất, theo khái niệm này thì quy mô sản xuất
nào phải chịu thuế vốn.
15
Khi thực hiện chuyển nhượng vốn, tùy thuộc vào đối tượng được chuyển
nhượng (nhà đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư trong nước) mà các mức thuế suất thuế
vốn cũng khác nhau. Thông thường việc chuyển nhượng vốn cho các nhà đầu tư
trong nước chịu mức thuế suất thấp hơn.
Miễn, giảm thuế đối với thuế thu nhập doanh nghiệp: Sau khi kinh doanh
có lãi, trong một thời gian các nhà đầu tư được hưởng ưu đãi không phải nộp thuế.
Kỳ miễn thuế này phụ thuộc vào ngành công nghiệp mà nhà đầu tư kinh doanh. Sau
một thời gian miễn thuế, các nước tiến hành giảm thuế.
Miễn, giảm các loại thuế thu nhập khác: Nội dung của việc miễn, giảm
này là chính phủ cho phép các nhà đầu tư không phải nộp các khoản thuế như thuế
doanh thu, lợi tức. Ngành được miễn giảm có thể là các ngành định hướng xuất
khẩu (chính phủ sẽ quy định thế nào là ngành định hướng xuất khẩu) hay ngành thu
về nhiều ngoại tệ cho đất nước
Miễn hoặc giảm thuế hàng tƣ liệu sản xuất nhập khẩu (vốn): Nội dung
của việc miễn, giảm này là chính phủ không thu thuế nhập khẩu tư liệu sản xuất
(bao gồm máy móc và các linh kiện, phụ tùng thay thế, nguyên, nhiên, vật liệu)
phục vụ các ngành khuyến khích như ngành hướng vào xuất khẩu hay các ngành
thực hiện chiến lược công nghiệp hóa đất nước (các dự án khuyến khích đầu tư).
Điều cần lưu ý là có những phương tiện, thiết bị như máy quay video, băng video,
điện thoại tức là những thứ dễ mua sắm trong nước thì không nên nằm trong danh
mục miễn giảm thuế này. Do đó, các chính phủ cần đưa ra danh sách các mặt hàng
không được thực hiện miễn giảm thuế cũng như đưa ra danh sách các máy móc thiết
bị của một số ngành khuyến khích đưa vào trong nước.
Miễn thuế đối với việc chuyển nhƣợng bản quyền: Việc miễn thuế bản
quyền nhằm khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công nghệ vào
nước sở tại. Tuy nhiên, các chính phủ cũng cân nhắc xem nên miễn thuế bản quyền
trong suốt thời gian hợp đồng hay chỉ miễn thuế cho một số năm.
lợi ích của từng chủ thể kinh doanh. Tuy có những ưu điểm nhất định nhưng ưu đãi
thuế mang tính cá biệt cũng tạo ra những điều kiện không công bằng trong sản xuất
kinh doanh, làm xói mòn tính cạnh tranh giữa các chủ thể kinh tể, gây nên hậu quả
tâm lý xấu đối với người nộp thuế và tạo ra những tiền để trốn thuế, từ đó làm mất
tính chất trung lập của thuế.
Ưu đãi thuế theo ngành thường là những ưu đãi thuế mang tính mục đích nên
đảm bảo tính công bằng hơn so với ưu đãi thuế cá biệt. Tuy nhiên, nếu áp dụng quá
rộng rãi ưu đãi thuế theo ngành thì, bản chất của chúng lại chẳng khác gì so với thay
đổi gánh nặng thuế.
1.1.2.3. Sự cần thiết của việc điều chỉnh chính sách thuế trong thu hút FDI
Sự thay đổi của môi trƣờng đầu tƣ ở nƣớc chủ nhà: Hiện nay nhiều quốc
gia tiếp nhận đầu tư đã nỗ lực cải thiện môi trường để thu hút FDI. Chính những nỗ
lực nhằm thay đổi môi trường đầu tư này đòi hỏi phải có những điều chỉnh cần thiết
về chính sách và pháp luật FDI, đặc biệt là chính sách thuế thu hút FDI.
Sự thay đổi của môi trƣờng đầu tƣ quốc tế: Một thách thức đối với các
nhà hoạch định chính sách của các nước tiếp nhận đầu tư là làm thế nào để đưa đất
nước của họ tham gia vào quá trình thương mại toàn cầu trong bối cảnh tất cả các
quốc gia đang hướng tới một hệ thống quy tắc toàn cầu về hàng hoá và dịch vụ.
Khi mà tất cả các quốc gia đã có luật chơi chung như vậy, sự tăng lên của các
nước tiếp nhận đầu tư khiến cho tính cạnh tranh quốc tế về môi trường đầu tư càng
trở nên khốc liệt hơn. Ngay tại những nước Đông và Đông Nam Á ví như Malaysia,
Singapore hay Hàn Quốc, chi phí sản xuất càng ngày càng tăng lên so với các nước
đang phát triển khác đã trở thành mối quan ngại lớn đối với các công ty xuyên quốc
gia. Và chính điều này lại là động lực cho các quốc gia khác thu hút các nguồn vốn
FDI vào thị trường còn tương đối cạnh tranh về mặt chi phí của mình. Chính phủ
các nước Đông và Đông Nam Á cũng đi đầu trong việc điều chỉnh các chính sách
FDI để phù hợp với xu thế chuyển giao các bước sản xuất trong chuỗi sản xuất toàn
cầu của các công ty xuyên quốc gia, điển hình là trong ngành dệt may. Chính sách
18
tế quốc gia mình.
Kể từ hơn 2 thập kỷ vừa qua, Trung Quốc nằm trong số những nền kinh tế
tăng trưởng nhanh nhất trên Thế giới, được coi là “công xưởng sản xuất” của Thế
giới. Malaysia thu hút vốn ĐTNN vào phát triển ngành công nghiệp điện tử, đã biến
malaysia trở thành xưởng sản xuất điện tử lớn nhất khu vực ASEAN.
Để có được những thành công của việc thu hút ĐTNN vào phát triển nền
kinh tế xã hội, hai quốc gia trên đã có những điều chỉnh chính sách ưu đãi thuế thu
hút ĐTNN tùy theo từng thời điểm nhằm thu hút vốn ĐTNN vào phát triển kinh tế
đất nước.
Từ những thành quả phát triển kinh tế xã hội từ thu hút ĐTNN; hơn nữa,
cùng năm trong khu vực Châu Á, với những điểm tương đồng về nền văn hóa xã
hội, con người, khí hậu và môi trường sống giữa Việt Nam và hai quốc gia này, luận
văn sẽ nêu ra một số đặc điểm về chính sách thuế và những điều chỉnh chính sách
thuế thu hút FDI của Trung Quốc và Malaysia, từ đó rút ra một số bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam.
1.2.1. Trung Quốc
Kể từ khi bắt đầu thực hiện chính sách cải cách – mở cửa (Năm 1979), Trung
Quốc đã xác định “thu hút tiền vốn bên ngoài thúc đẩy kinh tế quốc dân phát triển là
một chính sách có tính chất lâu dài trong việc thực hiện chiến lược mở cửa với bên
ngoài”. Từ đó cho đến nay, chính sách mở cửa thu hút FDI của Trung Quốc đã
giành được những thành tựu khiến cho cả thế giới quan tâm chú ý. Thành công đó
đã góp phần đưa Trung Quốc từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một nước
có nền công nghiệp tương đối phát triển, một cường quốc có tiềm lực hùng mạnh,
một địch thủ đáng gờm trong cạnh tranh kinh tế của các nước, kể cả cường quốc
kinh tế số 1 thế giới Hoa Kỳ.
20
1.2.1.1. Đặc điểm chủ yếu FDI ở Trung Quốc
Lượng đầu tư rất lớn, đứng đầu thế giới về thu hút đầu tư nước ngoài, vượt
qua cả Mỹ: Theo Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) thì Trung Quốc đã