1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
ĐINH THỊ HẢI HẬU
TỰ CHỦ TÀI CHÍNH
ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP DU LỊCH CÔNG
LẬP
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
HÀ NỘI – NĂM 2008
3
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục sơ đồ
MỞ ĐẦU
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI
ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
1.1 Những vấn đề cơ bản về ĐVSN công lập
1.1.1 Hoạt động sự nghiệp
1.1.2 ĐVSN công lập
1.2 Nội dung của cơ chế tự chủ tài chính đối với ĐVSN công lập
1.2.1 Điều kiện ĐVSN công lập thực hiện tự chủ tài chính
1.2.2 Nội dung của cơ chế tự chủ tài chính đối với ĐVSN công lập
2.1.1 Giới thiệu về Tổng cục du lịch và ĐVSN du lịch trực thuộc
2.1.2 Tự chủ tài chính đối với các ĐVSN du lịch
2.2 Thực trạng tự chủ tài chính đối với một số ĐVSN du lịch có thu
trên địa bàn Hà Nội
2.2.1 Thực trạng tự chủ tài chính đối với một số ĐVSN du lịch có thu trên
địa bàn Hà Nội
2.2.2 Đánh giá tổng quát tình hình thực hiện tự chủ tài chính đối với một số
ĐVSN du lịch có thu trên địa bàn Hà Nội
Tóm tắt chƣơng 2
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI
VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP DU LỊCH CÔNG LẬP
3.1 Định hƣớng tăng cƣờng tự chủ tài chính đối với ĐVSN du lịch công
lập
3.1.1 Dự báo xu hƣớng thay đổi của du lịch và ĐVSN du lịch công lập
3.1.2 Nội dung định hƣớng tăng cƣờng tự chủ tài chính đối với các ĐVSN
du lịch công lập
3.2 Các giải pháp và kiến nghị tăng cƣờng tự chủ tài chính đối với
ĐVSN du lịch công lập
TCDL
- Tổng cục du lịch
TSCĐ
- Tài sản cố định
7 DANH MỤC BẢNG
Bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1
Nguồn thu từ NSNN
Bảng 2.2
Chi tiết kinh phí NSNN cấp tại trƣờng cao đẳng du lịch
Hà Nội
Bảng 2.3
Khung học phí hàng tháng đối với giáo dục nghề nghiệp
và đại học
Bảng 2.4
Nguồn thu từ HĐSN và nguồn thu khác
Bảng 2.5
Tổng các nguồn thu
8 MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, dƣới sự lãnh đạo và quản lý của
Đảng và Nhà nƣớc, đất nƣớc ta đang từng bƣớc “ thay da đổi thịt”, nền kinh tế
tăng trƣởng nhanh, đời sống nhân dân đƣợc nâng cao. Trong công cuộc đổi
mới kinh tế - xã hội của đất nƣớc, ngành du lịch ngày càng giữ một vị trí quan
trọng trong nền kinh tế quốc dân. Đảng và Nhà nƣớc ta đã nhấn mạnh: “Phát
triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lƣợc phát
triển kinh tế – xã hội góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nƣớc nhằm mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh”
Thực hiện Nghị quyết của Đảng, Chính phủ đã phê duyệt chƣơng trình
tổng thể cải cách hành chính nhà nƣớc giai đoạn 2001-2010, trong đó cải cách
cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sử dụng vốn NSNN bao gồm cả
ĐVSN công lập là một trong những nội dung quan trọng. Cho đến nay, mặc
dù đã đạt đƣợc sự tăng trƣởng khá cao về mọi mặt, ngành du lịch Việt Nam
vẫn còn gặp nhiều khó khăn nhất là về cơ chế tài chính. Cơ chế tài chính hiện
tại còn nhiều thiếu sót, bất cập, lãng phí chƣa phù hợp với yêu cầu đặc thù của
ngành du lịch trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Đối với các ĐVSN du
lịch có thu các nguồn lực vẫn chƣa đƣợc khai thác triệt để, tính chủ động,
sáng tạo trong việc sử dụng nguồn lực chƣa đƣợc phát huy, vẫn còn tâm lý ỷ
lại Nhà Nƣớc, không chịu trách nhiệm về các quyết định của mình.
Thực hiện Nghị định số 10/2002/NĐ-CP về chế độ tài chính đối với
ĐVSN có thu ngày 16 tháng 01 năm 2002, các ĐVSN du lịch có thu đã từng
bƣớc đổi mới cơ chế quản lý tài chính tại đơn vị, phát huy đƣợc tính chủ
động, sáng tạo trong lĩnh vực tài chính. Từ khi Nghị định số 43/2006/NĐ-CP
ngày 26 tháng 4 năm 2006 quy định về quyền tự chủ , tự chịu trách nhiệm
- Đề tài “Cơ chế tự chủ tài chính đối với các trường giáo dục phổ thông
công lập ở Thanh Hóa” – Luận văn thạc sỹ kinh tế của tác giả Dƣơng Long
Khánh – Học viện tài chính – năm 2006 10 Các công trình khoa học nêu trên đã đề cập tới một số khía cạnh về quản lý
tài chính và cơ chế tự chủ tài chính nhƣng chƣa có đề tài nào nghiên cứu về
tự chủ tài chính đối với ĐVSN du lịch công lập
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hóa lý luận về tự chủ tài chính đối với ĐVSN du lịch
công lập
- Phân tích thực trạng tình hình thực hiện tự chủ tài chính đối với
ĐVSN công lập (minh họa số liệu ở các ĐVSN du lịch có thu trên địa bàn Hà
Nội)
- Luận văn đặt mục tiêu cao nhất và bao trùm là chỉ ra những công
việc cần phải làm ngay để tăng cƣờng thực hiện tự chủ tài chính đối với các
ĐVSN du lịch công lập trong điều kiện mới nhằm thực hiện một cách tốt
nhất, nhanh nhất những mục tiêu chiến lƣợc về phát triển du lịch và cải cách
hành chính Nhà nƣớc theo tinh thần Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và Nhà
nƣớc
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài: là những vấn đề lý luận và thực tiễn
về tự chủ tài chính đối với ĐVSN du lịch công lập
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: là tình hình thực hiện tự chủ tài
chính ở một số ĐVSN du lịch có thu trên địa bàn Hà Nội từ năm 2004 đến
năm 2006 và các giải pháp nhằm tăng cƣờng thực hiện tự chủ tài chính đối
với ĐVSN du lịch công lập
họa số liệu ở các ĐVSN du lịch có thu trên địa bàn Hà Nội)
Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng tự chủ tài chính đối với ĐVSN du lịch
công lập 12 CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ
TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐVSN CÔNG LẬP
1.1.1 HĐSN
Khái niệm HĐSN
HĐSN là những hoạt động không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất,
nhƣng nó tác động trực tiếp đến lực lƣợng sản xuất và quan hệ sản xuất, có
tính quyết định năng suất lao động xã hội.
Trong tác phẩm của mình, C.Mác và F.Ăng ghen khi nghiên cứu xã hội
nhƣ một hệ thống diễn biến liên tục đã nêu trong xã hội ít nhất có 5 hệ thống:
- Hệ thống sản xuất vật chất làm chức năng chủ yếu đảm bảo sự trao
đổi vật chất giữa con ngƣời và thiên nhiên.
- Hệ thống tái sản sinh và phát triển về mặt sinh học của con ngƣời, bao
gồm cả các hệ thống tổ chức gia đình cƣới hỏi, hệ thống dịch vụ, y tế và rèn
luyện thân thể, chức năng của nó là duy trì loài ngƣời.
- Hệ thống sản xuất tinh thần, làm chức năng bồi dƣỡng con ngƣời về
mặt tri thức, tìm cảm và đạo đức để trở thành những thành viên tích cực của
xã hội.
- Hệ thống giao tiếp xã hội làm chức năng liên kết tất cả mọi ngƣời
trong cộng đồng xã hội, giúp cho xã hội hoạt động đƣợc nhƣ một hệ thống
- HĐSN gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất và giá trị
tinh thần tạo ra “hàng hoá công cộng” ở dạng vật chất và phi vật chất phục vụ
cho quá trình tái sản xuất xã hội;
- HĐSN không nhằm mục đích thu lợi nhuận trực tiếp. Nhà nƣớc tổ
chức, duy trì và tài trợ cho các HĐSN để cung cấp những sản phẩm cho thị 14 trƣờng nhằm thực hiện vai trò của Nhà nƣớc trong việc phân phối lại thu nhập
và thực hiện các chính sách phúc lợi công cộng;
- HĐSN luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chƣơng trình phát triển
kinh tế xã hội của Nhà nƣớc. Nhà nƣớc với vai trò của mình thực hiện một
cách triệt để có hiệu quả các chƣơng trình mục tiêu quốc gia.
HĐSN trong xã hội rất đa dạng, phong phú. Dưới các tiêu thức
khác nhau HĐSN có thể được phân loại như sau:
- Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, các HĐSN đƣợc chia thành: HĐSN
kinh tế và HĐSN văn hoá xã hội
+ HĐSN kinh tế: là HĐSN phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho yêu cầu
sản xuất kinh doanh đảm bảo cho các ngành kinh tế hoạt động bình thƣờng
+ HĐSN văn hoá xã hội: là HĐSN phục vụ cho các yêu cầu phát triển
của xã hội về văn hoá, sức khoẻ và các nhu cầu về đời sống tinh thần của
nhân dân
- Căn cứ vào đặc điểm nguồn tài chính đảm bảo cho HĐSN, HĐSN đƣợc
chia thành HĐSN có thu và HĐSN không có thu
+ HĐSN có thu: là HĐSN mà nhu cầu tài chính đảm bảo cho chúng hoạt
động ngoài việc Nhà nƣớc cung cấp còn đƣợc thu một phần dƣới dạng phí, lệ
phí và các khoản đóng góp của ngƣời tiêu dùng để không ngừng nâng cao
chất lƣợng và mở rộng quy mô hoạt động
- Có mở tài khoản tại kho bạc Nhà nƣớc để ký gửi các khoản thu, chi
tài chính.
Đặc điểm ĐVSN công lập:
- ĐVSN công lập là một tổ chức hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã
hội, không vì mục đích kiếm lời
Các ĐVSN đƣợc thành lập để thực hiện những chức năng, nhiệm vụ và
đáp ứng những nhu cầu nhất định của xã hội. Trong quá trình hoạt động, đơn
vị hành chính sự nghiệp có thể đƣợc Nhà nƣớc cấp kinh phí hoặc tự trang trải
kinh phí, nhƣng không vì mục đích kiếm lời. Các sản phẩm của ĐVSN công 16 lập nếu cần đƣợc “khuyến dụng” thì có thể do Nhà nƣớc đứng ra cung cấp
không thu tiền để xã hội tiêu dùng. Trong trƣờng hợp có thu tiền của ngƣời
tiêu dùng thì cũng chỉ thu nhằm bù đắp một phần chi phí đầu vào để tạo ra
chúng.
Tuy nhiên, xã hội đòi hỏi tính hiệu quả trong quá trình hoạt động của
các ĐVSN đƣợc hiểu ở hai khía cạnh: chất lƣợng phục vụ và tiết kiệm nguồn
lực cho xã hội.
- Sản phẩm của các ĐVSN công lập là sản phẩm mang lợi ích chung và
có tính lâu dài
Sản phẩm, dịch vụ do HĐSN tạo ra chủ yếu là những giá trị về trí thức,
văn hoá, phát minh, sức khoẻ, đạo đức, các giá trị về xã hội…là những sản
phẩm vô hình và có thể dùng chung cho nhiều ngƣời, cho nhiều đối tƣợng
trên phạm vi rộng.
- ĐVSN công lập được tự chủ tài chính, đƣợc chủ động bố trí kinh
phí để thực hiện nhiệm vụ, đƣợc ổn định kinh phí hoạt động thƣờng xuyên do
NSNN cấp đối với ĐVSN tự bảo đảm một phần chi phí theo định kỳ 3 năm và
nguồn thu sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thƣờng xuyên,
phần còn lại đƣợc NSNN cấp. Mức tự đảm bảo chi phí hoạt động thƣờng
xuyên của ĐVSN có thu tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động đƣợc xác
định nhỏ hơn 100%.
+ ĐVSN công lập do NSNN đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động: là
ĐVSN có nguồn thu sự nghiệp thấp, kinh phí hoạt động thƣờng xuyên theo
chức năng, nhiệm vụ do NSNN đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động
- Căn cứ vào từng lĩnh vực HĐSN, ĐVSN có thu được chia thành:
+ ĐVSN Văn hoá – Thông tin:
o Các đoàn nghệ thuật (cá múa nhạc, kịch, cải lƣơng, chèo, tuồng,
múa, rối, xiếc…)
o Các nhà bảo tàng (lịch sử, cách mạng, mỹ thuật, văn hoá, phụ nữ…)
o Các nhà triển lãm
o Các nhà văn hóa
o Các thƣ viện
o Các tạp chí
o Đài phát thanh, truyền thanh 18 o Đài truyền hình, phát hình
o Hội (văn hoá, nhiếp ảnh, mỹ thuật, nhạc sỹ, múa…)
+ Giáo dục – đào tạo
o Các trƣờng phổ thông(mầm non, tiểu học, phổ thông cơ sở, phổ
thông trung học)
o Các học viện trƣờng, trung tâm đào tạo (đại học, cao đẳng, trung
học, dạy nghề)
o Các trạm, trại, trung tâm thực hành xƣởng thực tập…
o Các viện thiết kế, quy hoạch nông thôn, đô thị
o Các trung tâm bảo vệ rừng, cục bảo vệ thực vật, trung tâm nƣớc
sạch vệ sinh môi trƣờng, trung tâm dâu tằm tơ… trung tâm đăng kiểm, trung
tâm kiểm định an toàn lao động….
o Các ĐVSN giao thông đƣờng bộ, đƣờng sông (các khu quản lý đƣờng
bộ 2,4,7…các phân khu quản lý đƣờng bộ, các đoạn quản lý đƣờng sông…).
o Các cảng vụ đƣờng biển, đƣờng sông, đƣờng hàng không…
Vai trò của ĐVSN công lập trong nền kinh tế xã hội
Quá trình lao động sáng tạo của con ngƣời là sự tự rèn luyện, tự bồi
dƣỡng, hoàn thiện bản thân con ngƣời, làm cho con ngƣời ngày càng hoàn
thiện, khả năng lao động sáng tạo của con ngƣời ngày càng nâng cao. Sự sáng
tạo của con ngƣời đƣợc thể hiện trên ba mặt: sáng tạo ra cuộc sống vật chất,
sáng tạo ra cuộc sống tinh thần và sáng tạo ra chính bản thân con ngƣời. Hoạt
động của các lĩnh vực văn hoá, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, y tế,
thể dục thể thao… đã tham gia vào cả ba mặt sáng tạo của con ngƣời. Chính
vì vậy nó đã tạo ra sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng cá nhân và tiêu dùng xã
hội, quá trình tiêu thụ sản phẩm này đã sáng tạo ra nguồn thu cho xã hội.
Sự tồn tại tất yếu của HĐSN công lập và ĐVSN công lập bởi
những yếu tố sau đây:
- Xuất phát từ chức năng, vai trò của HĐSN: 20 Trong thời đại ngày nay, một nƣớc giầu hay nghèo không phải do có
nhiều hay ít lao động và tài nguyên thiên nhiên mà chủ yếu là do khả năng
phát huy tiềm năng sáng tạo nguồn lực con ngƣời lớn hay nhỏ. Tiềm năng
sáng tạo này nằm trong các yếu tố cấu thành con ngƣời về trình độ văn hoá,
trí thức khoa học, thể lực, tâm hồn, đạo đức lối sống, thị hiếu, thẩm mỹ, giao
trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Chức năng của các lĩnh vực văn hoá – thông tin, giáo dục – đào tạo,
nghiên cứu khoa học, y tế, thể dục thể thao…là sáng tạo ra những sản phẩm
đặc biệt. Các sản phẩm này không chỉ ở dạng vật chất mà còn ở dạng phi vật
chất, phi hình thể nhƣ trình độ văn hoá, kiến thức khoa học (tự nhiên, xã hội,
nhân văn …), quan điểm chính trị, tƣ tƣởng đạo đức, thẩm mỹ kinh nghiệm,
kỹ năng kỹ xảo, sức khoẻ, tài năng….
Với chức năng phục vụ xã hội, giáo dục đào tạo, thể dục thể thao, y
tế… có giá trị tinh thần vô hạn không thể đo bằng giá trị tiền tệ hữu hạn.
Những đơn vị tạo ra sản phẩm đó là trƣờng học, bệnh viện, đoàn nghệ thuật,
viện nghiên cứu khoa học… những đơn vị này không thể và càng không hạch
toán đƣợc lỗ lãi đơn thuần bởi sản phẩm của nó thuộc chức năng phục vụ
nhân dân, phục vụ xã hội.
Mặt khác, mỗi sản phẩm xã hội giáo dục đào tạo, thể dục thể thao, y tế
… đều mang trong nó giá trị lao động hao phí. Để bù đắp phần hao phí đó các
trƣờng, viện nghiên cứu khoa học, đoàn nghệ thuật… phải thu lại của ngƣời
hƣởng thụ một phần chi phí.
Các lĩnh vực văn hoá, giáo dục – đào tạo, thể dục thể thao, y tế nghiên
cứu khoa học…đã tạo ra những sản phẩm đặc biệt vừa mang tính phục vụ
chính trị - xã hội vừa mang tính hàng hoá đòi hỏi phải bù đắp chi phí. Đó
chính là sự tồn tại tất yếu của các HĐSN công lập và các ĐVSN công lập
trong lĩnh vực này.
22 - Xuất phát từ vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước trong nền kinh tế
nhiều thành phần theo cơ chế thị trường:
Trong nền kinh tế thị trƣờng các lĩnh vực văn hoá thông tin, giáo dục
đào tạo, nghiên cứu khoa học, thể dục thể thao, y tế… phải tự vận hành để
thích nghi với các qui luật khách quan (qui luật giá trị, qui luật cạnh tranh…)
đồng thời phải thực hiện chức năng phục vụ nhân dân. Đó là sự tồn tại khách
quan của HĐSN công lập và ĐVSN công lập trong nền kinh tế thị trƣờng.
- Xuất phát từ chủ trương đa dạng hoá nguồn tài chính cho các HĐSN:
Mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng nƣớc ta thành một
nƣớc công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, dân giàu nƣớc mạnh, xã
hội công bằng văn minh. Đó là một xã hội phát triển đến mức các hoạt động
kinh tế, văn hoá xã hội không còn là những tổ chức riêng rẽ, phân tán mà
đƣợc hợp tác liên kết, quan hệ với nhau trong sự phân công lao động xã hội
ngày càng phát triển theo chiều rộng và chiều sâu. Nghĩa là các hoạt động
kinh tế, văn hoá xã hội đƣợc “Xã hội hóa”, mọi lực lƣợng từ Nhà nƣớc đến
tập thể, tƣ nhân đều có trách nhiệm thực hiện, nói cách khác “cả xã hội cùng
làm”, “Nhà nƣớc và nhân dân cùng làm” kinh tế văn hoá, xã hội.
Đa dạng hoá nguồn tài chính trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục đào tạo,
nghiên cứu khoa học, thể dục thể thao, y tế… là thực hiện xã hội hoá nguồn
tài chính nhằm làm cho mọi ngƣời dân, mọi tổ chức, mọi thành phần kinh tế
thực hiện nghĩa vụ, quyền hạn, lợi ích trong sự nghiệp phát triển và hƣởng thụ
thành quả của các HĐSN này.
Tóm lại, các ĐVSN công lập có chức năng chính là thực hiện nhiệm vụ
chính trị chuyên môn để tạo ra những sản phẩm chủ yếu phục vụ giá trị tinh
thần, giá trị đạo đức, trình độ kiến thức, thẩm mỹ, sức khoẻ, kỹ năng, kỹ
xảo… đồng thời tận dụng khả năng về nhân lực, vật lực của đơn vị để hoạt
động có thu. Bởi vậy các đơn vị này không thực hiện cơ chế quản lý tài chính
giống nhƣ đối với Tổng Công ty Nhà nƣớc hoặc doanh nghiệp công ích, nó
đòi hỏi một cơ chế quản lý thích hợp để đảm nhiệm chức năng vừa phục vụ 24
25 - Huy động vốn và vay vốn tín dụng: ĐVSN có hoạt động dịch vụ
đƣợc vay vốn của các tổ chức tín dụng, đƣợc huy động vốn của cán bộ, viên
chức trong đơn vị để đầu tƣ mở rộng và nâng cao chất lƣợng HĐSN, tổ chức
hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tự chịu trách nhiệm
trả nợ vay theo quy định của pháp luật.
- Quản lý và sử dụng tài sản: ĐVSN thực hiện đầu tƣ, mua sắm, quản
lý, sử dụng tài sản nhà nƣớc theo quy định của pháp luật về quản lý tài sản
nhà nƣớc tại ĐVSN. Đối với TSCĐ sử dụng vào hoạt động dịch vụ phải thực
hiện trích khấu hao thu hồi vốn theo quy định áp dụng cho doanh nghiệp nhà
nƣớc. Số tiền trích khấu hao TSCĐ và tiền thu từ thanh lý tài sản thuộc nguồn
vốn NSNN đơn vị đƣợc để lại bổ sung quỹ phát triển HĐSN. Số tiền trích
khấu hao, tiền thu thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn vay đƣợc dùng để trả nợ
vay. Trƣờng hợp đã trả đủ nợ vay, đơn vị đƣợc để lại để bổ sung quỹ phát
triển HĐSN đối với số còn lại (nếu có)
- Tài khoản giao dịch: ĐVSN mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nƣớc để
phản ánh các khoản kinh phí thuộc NSNN theo quy định của Luật NSNN;
đƣợc mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nƣớc để phản
ánh các khoản thu, chi của hoạt động dịch vụ
1.2.2.2 Nội dung tự chủ tài chính đối với ĐVSN công lập
Nguồn tài chính của ĐVSN công lập
Nguồn tài chính của ĐVSN công lập bao gồm từ các nguồn sau:
Thứ nhất: Kinh phí do NSNN cấp
Nguồn tài chính cơ bản của hầu hết các ĐVSN công lập là nguồn từ
NSNN cung cấp để đơn vị thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn của Nhà
nƣớc giao. Đối với cả 2 loại ĐVSN tự bảo đảm chi phí và ĐVSN tự bảo đảm
một phần chi phí, kinh phí do NSNN cấp gồm: