1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH LÊ QUANG NGỌC
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ
NGHIỆP GIÁO DỤC CÔNG LẬP, TRƢỜNG HỢP TRUNG
TÂM GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN TỈNH PHÚ THỌ LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.,TS. Mai Ngọc Cƣờng Thái Nguyên – 2013
3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài: 1
2. Mục tiêu nghiên cứu: 2
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: 2
4. Ý nghĩa khoa học và những đóng góp mới của đề tài nghiên cứu: 3
5. Kết cấu của luận văn 4
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ TÀI
CHÍNH TẠI ĐƠN VỊ ĐÀO TẠO CÔNG 5
1.1. Cơ sở lý luận: 5
1.1.1. Lý luận chung về đơn vị sự nghiệp công và chính sách tài chính
đối với đơn vị sự nghiệp công: 5
1.1.1.1. Đơn vị sự nghiệp công: 5
1.1.1.2. Những đặc trưng cơ bản của hoạt động sự nghiệp: 6
1.1.1.3. Phân loại hoạt động sự nghiệp 8
1.1.1.4. Vai trò của hoạt động sự nghiệp trong nền kinh tế thị trường 10
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm hoạt động và các loại hình đơn vị sự nghiệp
của đơn vị sự nghiệp ở Việt Nam 11
1.1.2.1. Khái niệm và đặc điểm hoạt động của đơn vị sự nghiệp ở Việt Nam 11
1.4.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc: 36
1.4.1.1. Kinh nghiệm phân loại và xác định mức độ cấp kinh phí cho các đơn
vị sự nghiệp công: 36
1.4.1.2. Kinh nghiệm khoán kinh phí cho các đơn vị sự nghiệp công: 37
1.4.2. Kinh nghiệm của Mỹ: 38
1.4.2.1. Kinh nghiệm về quy trình xây dựng dự toán đối với các đơn vị sự
nghiệp công: 38
1.4.2.2. Kinh nghiệm đánh giá hoạt động: 39
1.4.3. Bài học gợi ý cho Việt Nam: 41
CHƢƠNG 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
2.1. CÁC CÂU HỎI ĐẶT RA CẦN PHẢI GIẢI QUYẾT: 43
2.2. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN ĐƢỢC CHỌN NGHIÊN CỨU: 43
2.2.1. Khái quát về đặc điểm kinh tế xã hội tỉnh Phú Thọ 43
2.2.2. Khái quát về hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công của
tỉnh Phú Thọ 44
2.3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45
2.3.1. Phƣơng pháp thu thập số liệu: 46
2.3.1.1. Số liệu thứ cấp: 46
2.3.1.2. Số liệu sơ cấp : 47
2.3.2. Phƣơng pháp xử lý số liệu: 51
5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2.3.3. Phƣơng pháp phân tích: 51
2.3.4. Phƣơng pháp so sánh: 51
2.3.5. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá: 52
2.3.5.1. Các chỉ tiêu phản ánh nguồn lực đầu vào: 52
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4.1.1. Chủ trƣơng định hƣớng phát triển phát triển kinh tế xã hội và
giáo dục đào tạo của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011-2015 75
4.1.2. Phƣơng hƣớng hoàn thiện quản lý thu chi tài chính tại Trung tâm
GDTX tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011-2015. 76
4.1.2.1. Phương hướng tăng nguồn thu và hoàn thiện quản lý thu tài chính 76
4.1.2.2. Phương hướng điều chỉnh chi và hoàn thiện quản lý chi tài chính 77
4.2. Giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Trung tâm GDTX tỉnh
Phú Thọ giai đoạn 2013-2015 79
4.3. Kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nƣớc các cấp về hỗ trợ hoàn
thiện quản lý thu chi tài chính tại Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ: 83
4.3.1. Đối với Chính phủ: 83
4.3.2. Đối với UBND tỉnh, các Sở, Ban, Ngành của tỉnh Phú Thọ: 84
4.3.3. Đối với Lãnh đạo đơn vị: 86
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 92
Phụ lục 1. Mẫu phiếu điều tra, phỏng vấn M1. Phiếu điều tra cơ bản các
đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 2009-2011 92
Phụ lục 2. Phiếu khảo sát về quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp
giáo dục công lập 94
Phụ lục 3: Tổng hợp trả lời câu hỏi khảo sát 98
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ ĐƢỢC CÔNG BỐ
Quy mô chi của Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ
61
Bảng 3.4
Cơ cấu chi của Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ
63
Bảng 3.5
Phân phối chênh lệch thu chi của Trung tâm giáo dục
thƣờng xuyên tỉnh Phú Thọ
67
Bảng 3.6
Các nhân tố ảnh hƣởng tới việc tăng thu của đơn vị sự
nghiệp công
69
Bảng 3.7
Đánh giá về môi trƣờng chính sách vĩ mô về quản lý tài
chính
72
Bảng 3.8
Đánh giá tình hình tổ chức quản lý về hoạt động tài chính
của đơn vị đào tạo công hiện nay
73
Bảng 4.1
Hƣớng lựa chọn ƣu tiên tăng nguồn thu của đơn vị đào
tạo công lập những năm tới
76
Bảng 4.2
Lựa chọn ƣu tiên cho chi tiêu của đơn vị đào tạo công lập
những năm tới
77
Bảng 4.3
KH-TV: Kế hoạch - Tài vụ
NSNN: Ngân sách Nhà nƣớc
SN: Sự nghiệp
TSCĐ: Tài sản cố định
UBND: Ủy ban Nhân dân
XH: Xã hội
XDCB: Xây dựng cơ bản
XHCN: Xã hội Chủ nghĩa 9
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong các tổ chức kinh tế - xã hội, đơn vị sự nghiệp nói chung, công
tác nhân sự, công tác tài chính, công tác kế hoạch, công tác cơ sở vật chất, …
đã và đang là những công tác trọng tâm quyết định đến sự tồng tạo và phát
triển của đơn vị. Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang phát triển theo
chiều hƣớng nâng cao chất lƣợng và hiệu quả, chú trọng phát triển từ bề rộng
sang chiều sâu, từ số lƣợng sang chất lƣợng, phát triển theo hƣớng bền vững.
Ngành giáo dục và đào tạo của Việt Nam đang thực thi hàng loạt các chính
sách trong đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo thần
Nghị quyết TW6, Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng Khóa 11. Trong đó công
tác tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các cơ sở giáo dục và đào tạo đã và
đang đƣợc triển khai trong toàn quốc, mà trọng tâm là tự chủ về tài chính. Do
vậy, làm thế nào để quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp đƣợc hiệu quả,
tỉnh Phú Thọ, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý tài chính
tại Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ những năm tới
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
a. Đối tượng nghiên cứu:
Là quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập, lấy ví dụ tại
Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ. Vì Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ là một
đơn vị sự nghiệp thuộc sở hữu Nhà nƣớc, nên đổi mới quản lý tài chính tại
Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ bao gồm nhiều nội dung phức tạp nhƣ đổi
mới quản lý tài chính của Nhà nƣớc (với tƣ cách chủ sở hữu đối với Trung
tâm GDTX tỉnh Phú Thọ), đổi mới quản lý tài chính tại chính đơn vị là Trung
tâm GDTX tỉnh Phú Thọ. Do khuôn khổ hạn chế của đề tài, nên trên cơ sở lý
luận chung, luận văn tập trung nghiên cứu quản lý tài chính tại Trung tâm
GDTX tỉnh Phú Thọ. Cơ chế, chế độ quản lý tài chính của Nhà nƣớc đối với
đơn vị SN công đƣợc giới hạn trong các văn bản hiện hành của Nhà nƣớc.
11
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên b. Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Đề tại tập trung nghiên cứu đổi mới quản lý tài chính tại
đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập, lấy ví dụ trƣờng hợp tại Trung tâm
GDTX tỉnh Phú Thọ.
- Về không gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Phú Thọ,
chủ yếu tại Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ.
- Về thời gian: Các số liệu đề tài nghiên cứu từ năm 2009 đến năm
2011.
4. Ý nghĩa khoa học và những đóng góp mới của đề tài nghiên cứu:
Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu.
Chƣơng 3. Thực trạng quản lý tài chính tại Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ.
Chƣơng 4. Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại
Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ. 13
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên CHƢƠNG 1
- Không thực hiện chức năng quản lý Nhà nƣớc và không bao gồm các
đơn vị thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng.
Nhƣ vậy có thể quan niệm rằng: Đơn vị SN công là đơn vị do Nhà nước
thành lập để thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước giao trong các lĩnh vực
chuyên môn, kinh phí hoạt động chủ yếu do Nhà nước cấp không vì mục tiêu
lợi nhuận.
1.1.1.2.Những đặc trưng cơ bản của hoạt động sự nghiệp:
Thứ nhất, hoạt động sự nghiệp có xu hướng cung cấp các loại hàng hóa,
dịch vụ có tính chất của hàng hóa công cộng hoặc hàng hóa khuyến dụng.
Kết quả của hoạt động sự nghiệp chủ yếu là học vấn, kỹ năng lao động
của nhân dân, các giá trị văn hóa, khoa học, nghệ thuật khó đánh giá đƣợc giá
trị kinh tế bằng tiền, nhƣng có ý nghĩa tăng hiệu quả kinh tế xã hội chung,
tăng năng lực sản xuất của quốc gia, tăng chất lƣợng sống của nhân dân, tăng
phúc lợi xã hội, tạo hiệu ứng tích cực cho các lĩnh vực khác, lợi ích đem lại
không chỉ cho ngƣời hƣởng thụ trực tiếp mà còn cho những ngƣời khác ….
Nhiều sản phẩm của các đơn vị sự nghiệp có giá trị sử dụng tăng thêm khi
tăng ngƣời sử dụng mà không tăng chi phí nhƣ phát thanh, truyền hình…
Theo ý kiến của nhà kinh tế đƣợc giải thƣởng Noben J. Stieglits, nhà nƣớc
cung cấp hàng hóa công cộng sẽ có lợi hơn tƣ nhân [14, tr.170-173].
Hơn nữa, trong xã hội hiện đại, để đảm bảo công bằng và tiến bộ xã
hội, Nhà nƣớc nên cung cấp nhiều hàng hóa công cộng. Bởi vì, nhờ sử dụng
những hàng hóa công cộng do hoạt động sự nghiệp tạo ra mà quá trình sản
xuất của cải vật chất đƣợc thuận lợi và ngày càng đạt hiệu quả cao hơn.
Hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, thể dục thể thao đem đến tri
thức và bảo đảm sức khỏe cho lực lƣợng lao động, tạo điều kiện cho lao
động có chất lƣợng ngày càng tốt hơn; hoạt động sự nghiệp khoa học, văn
hóa thông tin mang lại những hiểu biết của con ngƣời về tự nhiên, xã hội,
tạo ra những công nghệ mới phục vụ sản xuất và đời sống Nếu không có
Nhà nƣớc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, nhất là các chƣơng
trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng, chƣơng trình dân số, kế hoạch hóa gia
đình, chƣơng trình phát triển giáo dục, chƣơng trình phát triển văn hóa
16
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Những chƣơng trình mục tiêu quốc gia chi phối hoạt động sự nghiệp nằm
trong tổng thể chiến lƣợc, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội nói chung.
Hơn nữa, nhu cầu về các sản phẩm, dịch vụ sự nghiệp của xã hội thì
nhiều vô hạn, trong khi đó nguồn tài chính của Nhà nƣớc giành cho các hoạt
động này lại bị hạn chế bởi ngân sách nhà nƣớc cũng nhƣ mối quan hệ với các
nhu cầu chi tiêu khác của Nhà nƣớc. Chính vì thế, cung sản phẩm, dịch vụ sự
nghiệp luôn thấp hơn nhu cầu và việc xác định phải cung cấp các loại sản
phẩm, dịch vụ sự nghiệp với quy mô bao nhiêu luôn là vấn đề hóc búa của các
Nhà nƣớc.
Thứ tư, sản phẩm của các hoạt động sự nghiệp có tính ích lợi chung và
lâu dài.
Sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra chủ yếu là những giá
trị về tri thức, văn hóa, phát minh, sức khỏe, đạo đức, các giá trị về xã hội Đây
là những sản phẩm thƣờng mang lại lợi ích cho nhiều ngƣời, cho nhiều đối
tƣợng trên phạm vi rộng. Nhiều sản phẩm sự nghiệp có tác dụng lâu dài nhƣ các
phát minh khoa học, các giá trị văn hóa, trình độ học vấn, kỹ năng lao động…
Nhìn chung, đại bộ phận các sản phẩm do hoạt động sự nghiệp tạo ra là
sản phẩm có tính phục vụ không chỉ bó hẹp trong một ngành hoặc một lĩnh
vực nhất định, những sản phẩm đó khi tiêu dùng thƣờng có tác dụng lan toả
và vực đƣợc sử dụng đi, sử dụng lại nhiều lần.
1.1.1.3. Phân loại hoạt động sự nghiệp
Hoạt động sự nghiệp trong xã hội rất đa dạng, phong phú và có thể
chức và duy trì hoạt động liên tục và xã hội luôn luôn có nhu cầu tiêu dùng
sản phẩm dịch vụ của nó, bất luận điều kiện kinh tế xã hội trong từng giai
đoạn nhƣ thế nào. Thuộc về hoạt động sự nghiệp thƣờng xuyên là các hoạt
động về giáo dục tiểu học, đào tạo, khoa học, y tế, văn hóa …
+ Hoạt động sự nghiệp không thƣờng xuyên: Là những hoạt động sự
nghiệp để thực hiện các chƣơng trình cụ thể của Nhà nƣớc trong một giai
đoạn nhất định.
18
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1.1.1.4. Vai trò của hoạt động sự nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Trong thời đại ngày nay, một nƣớc giầu hay nghèo, lạc hậu hay phát
triển không phải chỉ phụ thuộc vào khối lƣợng hàng hóa tƣ nhân mà ngƣời
dân có đƣợc do trao đổi trên thị trƣờng, mà còn phụ thuộc vào khối lƣợng
phúc lợi xã hội mà họ đƣợc hƣởng, trong đó có các sản phẩm, dịch vụ do hoạt
động sự nghiệp cung cấp. Hơn nữa, tiềm năng phát triển nhanh hay chậm
trong tƣơng lai của một nƣớc không những do số lƣợng lao động, tài nguyên
thiên nhiên và vốn đã tích lũy đƣợc quyết định, mà chủ yếu là do khả năng
phát huy tiềm năng sáng tạo của con ngƣời chi phối. Tiềm năng sáng tạo này
nằm trong các yếu tố cấu thành con ngƣời về trình độ văn hóa, tri thức khoa
học, thể lực, tâm hồn, đạo đức lối sống, thị hiếu, thẩm mỹ, giao tiếp của mỗi
cá nhân và của cả cộng đồng… Đa phần yếu tố cấu thành tiềm năng sáng tạo
của con ngƣời do hoạt động sự nghiệp cung cấp trong quá khứ, hiện tại và
tƣơng lai.
Hoạt động sự nghiệp là động lực to lớn giúp dân tộc bảo tồn và phát
triển văn hóa, truyền thống, các giá trị đạo đức… Nghị quyết Đại hội toàn
quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X đã khẳng định: “Văn hóa là nền
thực hiện các hoạt động sự nghiệp. Đó là đơn vị thuộc sở hữu nhà nƣớc, hoạt
động trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, văn hóa, thông tin, nghiên cứu
khoa học, y tế, không theo nguyên tắc hạch toán kinh doanh [24].
ĐVSN thuộc khu vực phi lợi nhuận, sự chi tiêu của các đơn vị này,
theo con mắt của các nhà quản lý tài chính nhà nƣớc, mất đi, không thu hồi lại
đƣợc vốn gốc, mặc dù các đơn vị này vẫn tính khấu hao tài sản cố định. Trong
quá trình hoạt động, các ĐVSN đƣợc Nhà nƣớc trang trải kinh phí đáp ứng
nhu cầu chi tiêu từ ngân sách nhà nƣớc hoặc đƣợc bổ sung từ các nguồn khác.
Đặc điểm hoạt động của các ĐVSN là rất đa dạng, bắt nguồn từ nhu
cầu phát triển kinh tế xã hội và vai trò của Nhà nƣớc trong nền kinh tế thị
trƣờng. Mục đích hoạt động của các ĐVSN là phục vụ lợi ích cộng đồng, xã
hội, đất nƣớc. Trong quá trình cung cấp hàng hóa và dịch vụ công cho xã hội,
các ĐVSN đƣợc phép tạo lập nguồn thu nhập nhất định thông qua các khoản
thu phí và các khoản thu từ cung ứng dịch vụ do Nhà nƣớc quy định để trang
trải các khoản chi tiêu. Quản lý tài chính ĐVSN phải tuân thủ theo những quy
định pháp lý của Nhà nƣớc. Tùy theo đặc điểm tạo lập nguồn thu của các
20
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐVSN, Nhà nƣớc áp dụng cơ chế tài chính thích hợp để các ĐVSN thực hiện
tốt chức năng, nhiệm vụ của mình. Phù hợp với xu hƣớng cải cách khu vực
công trong bối cảnh hội nhập, Nhà nƣớc thực hiện chính sách đổi mới cơ chế
quản lý tài chính đối với các ĐVSN theo hƣớng nâng cao quyền tự chủ tài
chính nhằm nâng cao chất lƣợng dịch vụ công phục vụ xã hội.
ĐVSN có những đặc điểm khác với cơ quan hành chính. Cơ quan hành
chính là những tổ chức cung cấp trực tiếp các dịch vụ hành chính công cho
ngƣời dân khi thực hiện chức năng quản lý Nhà nƣớc của mình. Các dịch vụ
hành chính công đƣợc cung cấp theo luật định, với chất lƣợng đồng nhất cho
vụ chính trị-xã hội, vừa mang tính hàng hóa đòi hỏi phải bù đắp chi phí. Với
chức năng phục vụ xã hội, sản phẩm của hoạt động sự nghiệp không thể đo
bằng giá trị tiền tệ hữu hình. Những đơn vị tạo ra sản phẩm đó không thể và
càng không hạch toán đƣợc lỗ lãi đơn thuần bởi sản phẩm của nó thuộc chức
năng phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội. Mặt khác, mỗi sản phẩm này đều
mang trong nó giá trị đã hao phí để tạo ra nó. Để tái sản xuất giản đơn, các
ĐVSN phải thu lại từ ngân sách nhà nƣớc và từ chi trả của ngƣời hƣởng thụ.
Hiệu quả hoạt động của ĐVSN không đơn thuần đo đếm bằng tiền, mà
thƣờng đƣợc tính bằng các giá trị phi tiền tệ. Chính vì thế, việc đánh giá hiệu
quả hoạt động của các ĐVSN thƣờng khó khăn.
1.1.2.2. Các loại hình đơn vị sự nghiệp ở Việt Nam
Có rất nhiều tiêu thức để phân loại ĐVSN.
* Căn cứ vào vị trí, ĐVSN đƣợc phân loại thành:
- ĐVSN ở Trung ƣơng là những ĐVSN trực thuộc Chính phủ nhƣ
Thông tấn xã Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), Đài Truyền hình
Việt Nam (VTV), các bệnh viện, trƣờng học, các nhà xuất bản quốc gia…
- ĐVSN ở địa phƣơng nhƣ đài phát thanh truyền hình ở địa phƣơng,
các bệnh viện, trƣờng học, do địa phƣơng quản lý,
* Căn cứ vào từng lĩnh vực hoạt động sự nghiệp cụ thể, ĐVSN bao gồm:
- ĐVSN giáo dục, đào tạo.
- ĐVSN y tế (Bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân)
- ĐVSN văn hóa, thông tin
- ĐVSN phát thanh, truyền hình
- ĐVSN dân số-trẻ em, kế hoạch hóa gia đình
- ĐVSN thể dục, thể thao
- ĐVSN khoa học công nghệ, môi trƣờng
22
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
dụng tiết kiệm và sinh lợi nhiều nhất.
23
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Chủ thể quản lý tài chính ĐVSN gồm cơ quan nhà nƣớc chuyên trách,
bộ phận quản lý tài chính trong ĐVSN.
* Quản lý tài chính ĐVSN từ phía Nhà nước (với tƣ cách chủ sở hữu và
cơ quan quản lý hành chính của Nhà nƣớc). Tùy theo tổ chức bộ máy nhà
nƣớc trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, có các cơ quan nhà nƣớc trực tiếp
quản lý tài chính ĐVSN khác nhau. Hiện nay, cơ quan chuyên trách quản lý
tài chính các ĐVSN ở trung ƣơng là Bộ Tài Chính, Bộ chủ quản, ở địa
phƣơng là Sở Tài chính và Sở chủ quản.
Mục tiêu của Nhà nƣớc trong quản lý tài chính các ĐVSN là đề ra
chính sách, chế độ, quy chế hoạt động tài chính phù hợp với luật pháp và chức
năng, nhiệm vụ của ĐVSN.
* Quản lý tài chính ở ĐVSN:
Chủ thể quản lý tài chính là các bộ phận chuyên trách về tài chính trong
các ĐVSN. Thông thƣờng, đó là bộ phận kế toán-tài vụ. Nếu trong ĐVSN còn
có các đơn vị độc lập có tƣ cách pháp nhân thì đơn vị trực thuộc đó cũng tiến
hành quản lý tài chính trong đơn vị mình. Mục tiêu quản lý tài chính của
ĐVSN là sử dụng đúng mục đích, đúng chế độ nhà nƣớc và tiết kiệm nguồn
tài chính của mình.
1.1.3.2. Vai trò của quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp trong
điều kiện kinh tế thị trường nước ta
Quản lý tài chính là một trong những hoạt động quản lý quan trọng của
bất kỳ một tổ chức nào trong điều kiện kinh tế thị trƣờng. Bởi vì, tài chính biểu
hiện tổng hợp và bao quát hoạt động của đơn vị. Thông qua quản lý tài chính,
chủ thể quản lý không chỉ kiểm soát đƣợc toàn bộ chu trình hoạt động của đơn vị
1.2.1. Mục tiêu, nguyên tắc và nội dung quản lý tài chính ở các đơn
vị sự nghiệp:
1.2.1.1 Mục tiêu quản lý tài chính ở đơn vị sự nghiệp:
Việc quản lý tài chính ĐVSN nhằm đạt tới các mục tiêu:
- Làm cho ĐVSN hoạt động có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày
càng cao của xã hội.
- Tạo động lực khuyến khích các ĐVSN tích cực, chủ động tổ chức hoạt
động hợp lý, xác định số biên chế cần có, sắp xếp, tổ chức và phân công lao
động khoa học, nâng cao chất lƣợng công việc nhằm sử dụng kinh phí tiết kiệm.
25
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên - Nêu cao ý thức trách nhiệm, tăng cƣờng đấu tranh chống các hiện
tƣợng tiêu cực trong sử dụng tài chính.
- Tạo điều kiện để công chức phát huy khả năng, nâng cao chất lƣợng
công tác và tăng thu nhập vật chất cho cá nhân và tập thể.
1.2.1.2. Nguyên tắc quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp
- Nguyên tắc hiệu quả: Là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong quản
lý tài chính nói chung và trong quản lý các ĐVSN nói riêng. Hiệu quả trong
quản lý tài chính thể hiện ở sự so sánh giữa kết quả đạt đƣợc trên tất cả các
lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội với chi phí bỏ ra. Tuân thủ nguyên tắc này
là khi tiến hành quản lý tài chính các ĐVSN, Nhà nƣớc cần quan tâm cả hiệu
quả về xã hội và hiệu quả kinh tế. Mặc dù rất khó định lƣợng hiệu quả về xã
hội, song những lợi ích đem lại về xã hội luôn đƣợc đề cập, cân nhắc thận
trọng trong quá trình quản lý tài chính công. Nhà nƣớc phải cân đối giữa việc
thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu trên cơ sở lợi ích của toàn thể cộng đồng,
những mục tiêu chính trị quan trọng cần phải đạt đƣợc trong từng giai đoạn
nhất định với định mức chi hợp lý. Hiệu quả kinh tế là tiêu thức quan trọng để