MỤC LỤC
Phân công công việc
TÌM HIỂU VÀ TRÌNH BÀY NHỮNG NỘI DUNG ĐÃ TÌM HIỂU VỀ CƠ
CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP:
I. Khái niệm quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp
1. Đơn vị sự nghiệp: (Điều 9 Luật Viên chức năm 2010)
- Đơn vị sự nghiệp là các cơ quan thừa hành, hưởng lương ngân sách nhà
nước, không có chức năng kinh doanh. Cán bộ của đơn vị do nhà nước tuyển dụng
hay bổ nhiệm.
- Đơn vị sự nghiệp công lập gồm:
+ Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện
nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công
lập được giao quyền tự chủ);
+ Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực
hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp
công lập chưa được giao quyền tự chủ).
2. Phân loại đơn vị sự nghiệp: (Điều 4 NĐ số 55/2012 NĐ – CP Quy định
về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập)
Việc phân loại đơn vị sự nghiệp công lập dựa trên các căn cứ sau:
a)
Ngành, lĩnh vực hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập;
Ví dụ:
Trong lĩnh vực y tế có Bệnh viện 115 trực thuộc Sở Y tế Thành phốHồ Chí
Minh là đơn vị sự nghiệp công lập.
Trong lĩnh vực giáo dục có Trường Đại học Kinh tế Luật trực thuộc Đại học
Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị sự nghiệp công lập.
được những mục tiêu nhất định. Để đạt được những mục tiêu đề ra, công tác quản
lý tài chính đơn vị sự nghiệp bao gồm ba khâu công việc: Thứ nhất, lập dự toán thu,
chi ngân sách nhà nước trong phạm vi được cấp có thẩm quyền giao hàng năm;
3
Thứ hai, tổ chức chấp hành dự toán thu, chi tài chính hàng năm theo chế độ, chính
sách của Nhà nước; Thứ ba, quyết toán thu, chi ngân sách Nhà nước.
II. Cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công:
Căn cứ theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 14
tháng 02 năm 2015 quy định về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập.
1. Quy định về tự chủ tài chính như sau:
Tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp theo 4 mức độ chính:
Thứ nhất,tự chủ tài chính đối với đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi
đầu tư;
Thứ hai,tự chủ tài chính đối với đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên;
Thứ ba,tự chủ tài chính đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường
xuyên (do giá, phí dịch vụ sự nghiệp công chưa kết cấu đủ chi phí, được Nhà nước
đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá, phí chưa tính đủ
chi phí);
Thứ tư,tự chủ tài chính đối với đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thường
xuyên (theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, không có nguồn
thu hoặc nguồn thu thấp).
Phân chia nguồn vốn
- Căn cứ vào nhiệm vụ và khả năng nguồn tài chính, đối với các khoản chi
thường xuyên, Thủ trưởng đơn vị được quyết định một số mức chi phí quản lý, chi
phí họat động nghiệp vụ, nhưng tối đa không vượt quá mức chi do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quy định.
- căn cứ tính chất công việc, Thủ trưởng đơn vị được quyết định phương thức
khoán chi phí cho từng bộ phận, đơn vị trực thuộc.
động.
5
- Huy động mọi đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các họat động
sự nghiệp, hạn chế ngân sách nhà nước.
- Bảo đảm cho các đối tượng chính sách- xã hội, đồng bào dân tộc thiểu số,
vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn được cung cấp các dịch vụ tốt hơn.
Nhược điểm
- Vì tự chủ nguồn tài chính nên đôi khi đơn vị sử dụng vào những vấn đề
không cần thiết hoặc chi tiêu quá nhiều, vượt quá khả năng tài chính của đơn vị.
- Hay gặp tình trạng phải giải ngân ồ ạt vào cuối năm.
- Tự chủ về nguồn chi và nguồn thu là không tương xứng.
(vd: thu chi của các trường đại học,…
4. Đổi mới cơ chế quản lý tài chính:
Trong giai đoạn hiện nay, công tác quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công ở
Việt Nam đã từng bước được cải cách và đổi mới trên nhiều phương diện. Mọi
người dân Việt Nam đều được hưởng những dịch vụ công với chất lượng tốt hơn và
công bằng hơn. Quản lý chi tiêu tài chính hiệu quả; Huy động được sự đóng góp
của cộng đồng xã hội cho phát triển hoạt động sự nghiệp; Thúc đẩy các đơn vị chủ
động năng động và sáng tạo hơn trong các hoạt động quản lý và cung cấp dịch vụ
công; đa dạng hóa các loại hình dịch vụ công và nâng cao chất lượng dịch vụ công.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, Chính phủ vẫn còn một số mặt hạn chế, tồn tại, đòi hỏi cần
sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Và cơ chế đã được Chính
phủ kiến nghị đổi mới như sau:
- Tăng cường phân cấp và thực hiện trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
cho các đơn vị sự nghiệp công lập. Đồng bộ về tổ chức thực hiện nhiệm vụ, nhân
lực, tài chính trên cơ sở có tính đến đặc điểm từng loại hình đơn vị, khả năng và
nhu cầu thị trường, trình độ quản lý. Các đơn vị phải chịu trách nhiệm giải trình với
tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Theo Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015
của Bộ Chính trị đối với đơn vị sự nghiệp công lập có nguồn thu sự nghiệp, Nhà
7
nước khuyến khích đẩy mạnh chuyển đổi thêm 10% số lượng viên chức sang cơ
chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm và xã hội hóa, thay thế nguồn trả lương từ ngân
sách Nhà nước bằng việc trả lương từ nguồn thu sự nghiệp.
III. Thực trạng:
- Những cái đã đạt được:
+ Hầu hết các đơn vị thực hiện cơ chế tự chủ đều chú trọng các giải pháp
tăng thu, đặc biệt là thu các hoạt động dịch vụ, tiết kiệm chi phí đầu vào, chi
thường xuyên để từng bước cải thiện thu nhập cán bộ, tích lũy để tăng cường cơ sở
vật chất.
+ Về giải pháp tăng thu: Có sự thảo luận, bàn bạc công khai, dân chủ, trong
đơn vị; xây dựng kế hoạch và các phương án thực hiện nhằm mở rộng hoạt động,
phát triển nguồn thu sự nghiệp; chú trọng đến giải pháp tài chính để động viên
CBVC; tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tham gia vào dịch vụ;…
+ Về giải pháp tiết kiệm chi: Lãnh đạo các đơn vị đều có sự quyết tâm cao,
quán triệt của lãnh đạo đối với cán bộ viên chức; tuyên truyền và vận động CBVC
quán triệt tốt việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí bằng các biện pháp, giải pháp
cụ thể, thiết thực tùy tình hình thực tế và tính chất công việc của mỗi các nhân, mỗi
bộ phận, mỗi tổ chức…
+ Các đơn vị đã chủ động trong việc rà soát, xắp sếp lại bộ máy hoạt động
của đơn vị mình tinh gọn, tiết kiệm chi phí…
- Khó khăn, hạn chế:
+ Nhận thức của người dân, xã hội về đổi mới hoạt động của các đơn vị sự
nghiệp công lập còn hạn chế, chưa đầy đủ, vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự
bao cấp của Nhà nước. Trình độ và tư duy của một bộ phận không nhỏ đội ngũ cán
bộ về công tác quản lý, quản trị nội bộ ở nhiều đơn vị sự nghiệp công lập chậm đổi
vẫn còn dư, theo quy định phải để lại tiếp tục thực hiện tiền lương các năm tiếp
9
theo nên khó khăn về nguồn vốn để phát triển các nhiệm vụ sự nghiệp, mở hoạt
động dịch vụ, mặt khác các đơn vị sự nhiệp tự bảo đảm 100% kinh phí hoạt động
thì khi thay đổi mức tiền lương thì nhà nước cũng không bổ sung khoản kinh phí
này mà đơn vị phải tự cân đối, do đó việc bắt buộc các đơn vị này huy động nguồn
làm lương sẽ không phù hợp thực tế; Việc huy động 40% nguồn làm lương từ
chênh lệch hoạt động dịch vụ tại các đơn vị sự nghiệp là chưa thực sự hợp lý, vì các
đơn vị sự nghiệp có hoạt động dịch vụ đều thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm
như doanh nghiệp, vì vậy nếu huy động nguồn làm lương từ hoạt động dịch vụ sẽ
không kích thích, động viên các đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực này.
IV. Giải pháp:
Để quản lý hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập đạt hiệu quả cao,
thời gian tới, Nhà nước cần tiếp tục tạo hành lang, pháp lý thông thoáng cũng như
có cơ chế chính sách tài chính đối với loại hình dịch vụ này.
- Một là, giải pháp về cơ chế quản lý tài chính:
+ Đưa ra các giải pháp tăng nguồn thu: Tăng nguồn thu là một trong những
nhiệm vụ trọng tâm của các trung tâm khuyến nông. Do vậy, trong thời gian tới,
cần phát huy thành công một số dự án như: Dự án khí sinh học, dự án nông nghiệp
thông minh... và các hợp đồng trách nhiệm ký kết với các dự án ODA nhằm tăng
cường hợp tác quốc tế để có được thêm nguồn thu từ các dự án tài trợ. Ngoài ra,
các trung tâm cần mở rộng và phát triển các dịch vụ, tư vấn khuyến nông để mang
lại nguồn thu cho đơn vị, từ đó góp phần cung cấp cho nông dân các loại giống cây,
giống con, vật tư, phân bón có chất lượng tốt; cung cấp cho các doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực nông nghiệp một dịch vụ tư vấn có chất lượng cao.
+ Đổi mới cơ chế tự chủ trong công tác quản lý, sử dụng nguồn tài chính và
tài sản: Cần tăng cường quản lý việc sử dụng nguồn tài chính để nâng cao năng lực
tự chủ tài chính cho trung tâm. Ngoài ra, cần tập trung quản lý chi tiêu nhằm đảm
11
động. Hàng năm sau khi kiểm tra, xét duyệt quyết toán tài chính năm cho đơn vị
cần phải ra thông báo kết quả kiểm tra, xét duyệt theo đúng tinh thần Thông tư số
01/2007/TT-BTC ngày 02/01/2007 của Bộ Tài chính.
+ Hoàn thiện công tác quản lý và sử dụng tài sản: Tăng cường hơn nữa việc
sử dụng và khai thác tài sản đúng mục đích được giao, đảm bảo tiết kiệm, có hiệu
quả đồng thời phải chịu trách nhiệm nếu có sai phạm trong quản lý, sử dụng tài sản.
Tăng cường đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất của các phòng ban chuyên môn, các
trạm trực thuộc nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ và hoạt động dịch vụ,
sản xuất kinh doanh nhưng tránh đầu tư dàn trải, không đồng bộ gây lãng phí
nguồn vốn...
- Ba là, hoàn thiện thể chế về cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp
công lập.
Tăng cường phân cấp và thực hiện trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao
hơn cho các đơn vị Sự nghiệp công lập đồng bộ cả về tổ chức, thực hiện nhiệm vụ
và tài chính. Trước mắt thực hiện thí điểm đối với nhóm các đơn vị sự nghiệp công
lập có khả năng xã hội hóa cao, tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động như các
trường đại học, dạy nghề, bệnh viện. Thực hiện minh bạch các hoạt động liên
doanh, liên kết; khắc phục tình trạng công - tư lẫn lộn.
- Bốn là, hoàn thiện thể chế về cơ chế đặt hàng, mua hàng, giao nhiệm vụ
cung ứng dịch vụ công. Xây dựng, hoàn thiện và ban hành hệ thống định mức kinh
tế - kỹ thuật và tiêu chí, tiêu chuẩn của từng loại hình dịch vụ sự nghiệp công.
Cùng với đó, đổi mới cơ chế tính giá đặt hàng sản phẩm, dịch vụ sự nghiệp công.
Từng bước tính đúng, tính đủ các chi phí hợp lý trong giá dịch vụ sự nghiệp, phù
hợp với thị trường và khả năng của NSNN.
12
Số liệu trên báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách phải chính xác,
trung thực, khách quan và phải được tổng hợp từ các số liệu của sổ kế toán .
1.2. Mục đích sử dụng:
- Đối với cơ quan chủ quản:
+ Báo cáo tài chính cung cấp các thông tin kinh tế - tài chính cần thiết cho
việc kiểm tra , kiểm soát các khoản chi theo từng nguồn kinh phí, cung cấp thông
tin cho việc quản lý tài sản của Nhà nước, tổng hợp, phân tích, đánh giá các hoạt
động của mỗi đơn vị nói riêng và toàn xã hội nói chung.
+ Từ đó giúp cho Chính phủ có cơ sở để khai thác các nguồn thu, điều chỉnh
các khoản chi một cách hợp lý, từ đó định ra được đường lối phát triển lành mạnh
và đúng đắn.
- Đối với đơn vị hành chính sự nghiệp:
+ Báo cáo tài chính là nguồn thông tin tin cậy để lập kế hoạch kinh phí cho
mỗi kỳ hoạt động một cách hợp lý.
+ Đồng thời phân tích được xu hướng phát triển, từ đó định ra chiến lược
phát triển và biện pháp quản lý tài chính của đơn vị.
2. Trách nhiệm của các đơn vị trong việc lập, nộp báo cáo tài chính
2.1. Trách nhiệm của đơn vị kế toán
Các đơn vị hành chính sự nghiệp tổ chức bộ máy kế toán theo quy định tại
Điều 48 Nghị định số 128/2004/NĐ-CP ngày 31/5/2004, các đơn vị kế toán cấp I, II
gọi là đơn vị kế toán cấp trên, các đơn vị kế toán cấp II, III gọi là đơn vị kế toán
cấp dưới, đơn vị kế toán dưới đơn vị kế toán cấp III (nếu có) gọi là đơn vị kế toán
trực thuộc. Danh mục, mẫu và phương pháp lập báo cáo tài chính quý, năm của đơn
vị kế toán trực thuộc do đơn vị kế toán cấp I quy định. Các đơn vị kế toán có trách
nhiệm lập, nộp báo cáo tài chính và duyệt báo cáo quyết toán ngân sách như sau:
- Các đơn vị kế toán cấp dưới phải lập, nộp báo cáo tài chính quý, năm và
nộp báo cáo quyết toán cho đơn vị kế toán cấp trên, cơ quan Tài chính và cơ quan
14
- Các đơn vị kế toán khi bị chia, tách, sáp nhập, chấm dứt hoạt động phải lập
báo cáo tài chính tại thời điểm quyết định chia, tách, sáp nhập, chấm dứt hoạt động;
4. Kỳ hạn lập báo cáo quyết toán ngân sách
Báo cáo quyết toán ngân sách lập theo năm tài chính là báo cáo tài chính kỳ
kế toán năm sau khi đã được chỉnh lý, sửa đổi, bổ sung trong thời gian chỉnh lý
quyết toán theo qui định của pháp luật.
5. Thời hạn nộp báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách
5.1- Thời hạn nộp báo cáo tài chính
5.1.1- Thời hạn nộp báo cáo tài chính quý
- Đơn vị kế toán trực thuộc (nếu có) nộp báo cáo tài chính quí cho đơn vị kế
toán cấp III, thời hạn nộp báo cáo tài chính do đơn vị kế toán cấp trên cấp III quy
định;
- Đơn vị kế toán cấp III nộp báo cáo tài chính cho đơn vị kế toán cấp II và
cơ quan Tài chính, Kho bạc đồng cấp chậm nhất 10 ngày, sau ngày kết thúc kỳ kế
toán quý;
- Đơn vị kế toán cấp II nộp báo cáo tài chính cho đơn vị kế toán cấp I hoặc
cho cơ quan Tài chính, Kho bạc đồng cấp chậm nhất 20 ngày, sau ngày kết thúc kỳ
kế toán quý;
- Đơn vị kế toán cấp I nộp báo cáo tài chính cho cơ quan Tài chính, Kho
bạc đồng cấp chậm nhất 25 ngày, sau ngày kết thúc kỳ kế toán quý;
5.1.2- Thời hạn nộp báo cáo tài chính năm
a)Đối với đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức có sử dụng kinh phí NSNN
Báo cáo tài chính năm của đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức có sử dụng
kinh phí NSNN sau khi đã được chỉnh lý sửa đổi, bổ sung số liệu trong thời gian
chỉnh lý quyết toán theo quy định của pháp luật thời hạn nộp cho cơ quan có thẩm
quyền theo quy định tại tiết 6.2, điểm 6, mục I phần thứ tư.
16
tình hình tài sản và nguồn hình thành tài sản, kết quả hoạt động sự nghiệp của đơn
vị hành chính, sự nghiệp trong kỳ báo cáo. Báo cáo này mới chỉ liệt kê số liệu trên
các tài khoản phát sinh tại đơn vị; dùng để kiểm tra tính cân đối của các tài khoản
trong quá trình ghi sổ kép.
Cách thức phân loại hệ thống tài khoản hành chính sự nghiệp “dựa trên bản
chất và nội dung nghiệp vụ”, trong đó các tài khoản hỗn hợp như 342 “Thanh toán
nội bộ” với số dư bên nợ hoặc bên có, các tài khoản trung gian loại 5 và loại 6 với
số dư cuối kỳ sẽ khiến người đọc khó xác định được khoản mục nào là tài sản và
khoản mục nào là nguồn hình thành tài sản.
Hơn nữa qua Bảng cân đối tài khoản, người đọc cũng không thể phân loại
được các khoản mục ngắn hạn và dài hạn để đưa ra những nhận định thích hợp về
tình hình tài chính của đơn vị. Vì vậy, chưa phân tích được tình hình tài chính của
đơn vị theo đúng yêu cầu thông tin đầu vào của tổng KTNN.
b) Tổng hợp tình hình kinh phí và quyết toán kinh phí đã sử dụng (Mẫu số
B02-H): Phản ánh tổng quát tình hình tiếp nhận và sử dụng các nguồn kinh phí hiện
có và số kinh phí sử dụng đề nghị quyết toán theo từng nguồn kinh phí. Báo cáo
này chủ yếu phản ánh tình hình tiếp nhận và sử dụng các nguồn kinh phí từ NSNN
nhằm cung cấp thông tin cho các cơ quan cấp trên, cơ quan quản lý nhà nước phục
vụ công tác quyết toán NSNN.
Về góc độ tài chính, mới chỉ phản ánh một phần kết quả hoạt động của đơn
vị (phần thu và chi từ nguồn kinh phí do NSNN đảm bảo); chưa phản ảnh đầy đủ
toàn bộ các hoạt động thu, chi và kết quả hoạt động của đơn vị. Cơ sở ghi nhận,
hạch toán kế toán để lập báo cáo này chưa thực hiện theo cơ sở dồn tích. Do đó,
chưa đáp ứng thông tin đầu vào của tổng KTNN.
c) Báo cáo thu, chi hoạt động sự nghiệp và hoạt động SXKD (Mẫu B03-H):
Phản ánh tổng quát tình hình thu, chi hoạt động sự nghiệp và hoạt động
SXKD của đơn vị. Tuy cơ sở kế toán, lập báo cáo này đã tuân thủ theo cơ sở dồn
18