Ứng dụng mô hình camel trong phân tích tài chính tại ngân hàng TMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THU DUNG

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH CAMEL TRONG PHÂN
TÍCH
TÀI CHÍNH TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÁC
DOANH NGHIỆP
NGOÀI QUỐC DOANH VIỆT NAM

Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số: 60 34 05
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH


CAMEL 13
1.2.2.1. Phân tích vốn của NHTM 14
1.2.2.2. Phân tích chất l-ợng tài sản Có 18
1.2.2.3. Phân tích khả năng quản lý 22
1.2.2.4. Phân tích khả năng sinh lời 23
1.2.2.5. Phân tích khả năng thanh khoản 28
CHƯƠNG 2: Thực trạng phân tích tài chính tại Ngân hàng
TMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam 34
2.1. Tổng quan về Ngân hàng TMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam
(VPBank) 34
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của VPBank 34
2.1.2. Bộ máy tổ chức hoạt động của VPBank 36

2.1.3. Các hoạt động chính của VPBank 36
2.1.3.1. Quản trị điều hành 36
2.1.3.2. Công tác quản trị rủi ro 36
2.1.3.3. Hoạt động huy động vốn 37
2.1.3.4. Hoạt động tín dụng 38
2.1.3.5. Các hoạt động kinh doanh khác 39
2.1.3.6. Hoạt động của các Công ty trực thuộc 41
2.1.3.7. Các hoạt động khác 44
2.1.4. Tình hình tài chính 45
2.1.4.1. Vốn điều lệ 45
2.1.4.2. Tổng tài sản 45
2.1.4.3. Kết quả hoạt động kinh doanh 46
2.2. Đánh giá thực trạng công tác phân tích tài chính tại VPBank 47
2.2.1. Phân tích nguồn vốn (C) 47

ngân hàng 83
3.2.1.4. Tuyển dụng và đào tạo về phân tích tài chính cho các cán bộ
chuyên trách 84
3.2.1.5. Ban hành quy trình phân tích chuẩn 85
3.2.2. Các đề xuất về hệ thống chỉ tiêu phân tích theo mô hình CAMEL trong nội
dung phân tích tài chính tại VPBank 87
3.2.2.1. Xây dựng các chỉ tiêu phân tích vốn của ngân hàng 87
3.2.2.2. Xây dựng các chỉ tiêu phân tích chất l-ợng tài sản Có của ngân hàng 87
3.2.2.3. Xây dựng các chỉ tiêu phân tích khả năng sinh lời của ngân hàng 87
3.2.2.4. Xây dựng các chỉ tiêu phân tích khả năng thanh khoản của
ngân hàng 88
3.3. Kiến nghị 89
KếT LUậN 90
TàI LIệU THAM KHảO 91 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

NHNN
Ngân hàng Nhà nước
NHTM
Ngân hàng thương mại
TCTD
Tổ chức tín dụng
TMCP
Thương mại cổ phần
USD

Bảng 2.3: Nợ phải trả và vốn cổ đông năm 2005-2006 47
Bảng 2.4: Tiền gửi của các TCTD khác tại VPBank năm 2005-2006 48
Bảng 2.5: Tiền gửi khách hàng tại VPBank năm 2005-2006 50
Bảng 2.6: Các cam kết ngoại bảng năm 2005-2006 50
Bảng 2.7: Các chỉ tiêu về vốn xây dựng theo mô hình CAMEL 52
Bảng 2.8: Quy mô và kết cấu tài sản Có 2005-2006 của VPBank 54
Bảng 2.9: Chi tiết tiền gửi của các TCTD tại VPBank năm 2005-2006 55
Bảng 2.10.1: Tình hình d- nợ năm 2005-2006 56
Bảng 2.10.2: Tình hình d- nợ năm 2005-2006 55
Bảng 2.10.3: Tình hình d- nợ năm 2005-2006 55
Bảng 2.11: Góp vốn mua cổ phần năm 2005-2006 58
Bảng 2.12: Tình hình tài sản cố định năm 2005-2006 59
Bảng 2.13: Các chỉ tiêu về chất l-ợng tài sản theo mô hình CAMEL 61
Bảng 2.14: Báo cáo kết quả kinh doanh lập theo chuẩn mực kế toán quốc tế năm
2005-2006 63
Bảng 2.15: Chi tiết thu nhập và chi phí từ lãi năm 2005-2006 64
Bảng 2.16: Khả năng sinh lời năm 2005-2006 66
Bảng 2.17: Chi tiết cơ cấu thu nhập năm 2005-2006 66
Bảng 2.18: Các chỉ tiêu về khả năng sinh lời theo mô hình CAMEL 67
Bảng 2.19: Các chỉ tiêu về khả năng thanh khoản theo mô hình CAMEL 70

Hỡnh 2.1: Doanh s chuyn tin trong nc ca VPBank nm 2004-2006 41
Hỡnh 2.2: Vn iu l ca VPBank nm 2003-2007 45
Hỡnh 2.3: Tng ti sn ca VPBank nm 2003-2007 46
Hỡnh 2.4: Li nhun trc thu ca VPBank nm 2003-2007 47

2
được chấp nhận rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới đối với việc phân tích tài chính
ngân hàng. Mô hình này rất hữu ích cho các nhà phân tích tài chính cũng như nhà
quản lý ngân hàng trong việc đánh giá và đưa ra dự đoán sự lành mạnh của NHTM
một cách đáng tin cậy, từ đó nhận biết những cơ hội kinh doanh, những dấu hiệu rủi
ro và đưa ra các quyết định hợp lý nhằm nâng cao khả năng sinh lời của Ngân hàng.
Hiện nay, việc áp dụng mô hình CAMEL vào phân tích tài chính của các Ngân
hàng Việt Nam còn nhiều vấn đề cần hoàn thiện. Ngân hàng TMCP các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam (VPBank) là ngân hàng thương mại cổ phần đã
trải qua 14 năm hoạt động với những thăng trầm trong quá trình hình thành và phát
triển. Trước những thách thức của xu thế hội nhập kinh tế quốc tế về trình độ quản
lý, vốn, công nghệ, các tiêu chuẩn về kế toán và kiểm toán…thì công tác phân tích
tài chính của VPBank càng trở nên quan trọng để giúp các nhà lãnh đạo đưa ra các
quyết định quản lý kinh doanh phù hợp, nâng cao năng lực cạnh tranh để chiến
thắng trong cuộc cạnh tranh khốc liệt đang diễn ra .
Tuy nhiên, công tác phân tích tài chính của VPBank hiện nay còn nhiều hạn
chế. Về đội ngũ phân tích: Ngân hàng chưa tổ chức được bộ phận phân tích chuyên
nghiệp, trình độ phân tích của nhân viên phân tích còn hạn chế. Về điều kiện phân
tích: do sự hạn chế về công nghệ tin học ngân hàng nên việc kết xuất các dữ liệu
cho công tác phân tích tài chính chưa đáp ứng được yêu cầu, các báo cáo tài chính
chỉ mang tính chất thống kê. Về nội dung phân tích: Ngân hàng chưa xây dựng
được hệ thống các chỉ tiêu cho phân tích các báo cáo tài chính nên việc phân tích
còn sơ sài, mới chỉ tính toán một số các chỉ tiêu tài chính, chưa có sự liên kết giữa
các chỉ tiêu đó trong phân tích.
Nhận thấy được tầm quan trọng và sự cần thiết của công tác phân tích tài
chính tại Ngân hàng Ngoài quốc doanh cũng như tính hữu ích của mô hình CAMEL

 Đưa ra các để xuất nhằm ứng dụng mô hình CAMEL vào phân tích tài
chính tại VPBank.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác phân tích tài chính tại VPBank.
- Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong hoạt động
phân tích tài chính tại VPBank và lấy số liệu trên các báo cáo tài chính của VPBank
trong 3 năm 2004, 2005, 2006 để minh giải cho việc ứng dụng mô hình CAMEL
trong phân tích tài chính tại VPBank.

4
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cơ bản như:
- Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
- Tổng hợp, so sánh, phân tích số liệu
- Thống kê kinh tế…
6. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
Đưa ra các đề xuất và kiến nghị nhằm ứng dụng thành công mô hình CAMEL
vào công tác phân tích tài chính tại VPBank.
7. Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về phân tích tài chính Ngân hàng
thương mại theo mô hình CAMEL.
- Chương 2: Thực trạng phân tích tài chính tại Ngân hàng TMCP các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam.
- Chương 3: Các đề xuất nhằm ứng dụng mô hình CAMEL trong phân tích tài
chính tại Ngân hàng TMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam.


hoạt động của ngân hàng nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi khách hàng và phù hợp
với lợi ích chung của quốc gia.
Có thể định nghĩa ngân hàng qua chức năng (các dịch vụ) mà chúng thực hiện
trong nền kinh tế. Vấn đề là ở chỗ không chỉ chức năng của các ngân hàng đang
thay đổi mà chức năng của các đối thủ cạnh tranh chính của ngân hàng cũng không
ngừng thay đổi. Thực tế là rất nhiều tổ chức tài chính bao gồm cả các công ty kinh
doanh chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quỹ tương hỗ và công ty bảo
hiểm đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng. Ngược lại, ngân hàng
cũng đối phó với các đối thủ cạnh tranh (các tổ chức tài chính phi ngân hàng) bằng
cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ, hướng về lĩnh vực bất động sản và môi
giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào quỹ tương hỗ và thực
hiện nhiều dịch vụ mới khác.

6
Xét trên phương diện những loại hình tổ chức tài chính cung cấp thì Ngân
hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa
dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện
nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền
kinh tế (Theo sách Quản trị Ngân hàng thương mại của Peter S.Rose).
Ngân hàng bao gồm nhiều loại tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói
chung và hệ thống tài chính nói riêng. Ngân hàng với tên gọi riêng theo từng nhóm
khác nhau có mục đích hoạt động đặc biệt, có sự khác nhau trong tài sản có (nghĩa
là đối tượng đầu tư). Người ta phân biệt ngân hàng thương mại với các tổ chức tài
chính khác bằng việc phân biệt tài sản ngân hàng thương mại dựa trên tài sản. Với
cách phân biệt này, một ngân hàng thương mại được xác định với đặc trưng có tỷ lệ
vốn cho vay vào mục đích thương mại và công nghiệp là chiếm đa số trong tài sản
của nó. Ngân hàng thương mại chiếm vị trí quan trọng nhất về quy mô tài sản và về

(dịch vụ thanh toán, đại lý, tư vấn, thông tin, giữ hộ chứng từ, vật quý giá ). Ba
loại nghiệp vụ này có quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ, thúc đẩy nhau phát triển,
tạo nên uy tín cho ngân hàng. Có huy động được vốn thì mới có nguồn cho vay, cho
vay hiệu quả, phát triển kinh tế thì mới có nguồn để huy động vào; đồng thời muốn
cho vay và huy động vốn tốt thì ngân hàng phải làm tốt nghiệp vụ môi giới trung
gian của mình. Nói chung ngân hàng thương mại giúp cho các đơn vị sản xuất kinh
doanh giải quyết nhu cầu về vốn lưu động trong một lúc nào đó của quá trình hoạt
động. Nhờ những hoạt động cung cấp tín dụng, ngân hàng thương mại đã lưu động
hóa tiền tệ, góp phần vào việc lưu động hóa cả hàng hóa.
1.1.1.2 Đặc điểm hoạt động của ngân hàng thương mại
Với tư cách là một trung gian tài chính, ngân hàng thương mại là một doanh
nghiệp vì nó cũng có vốn riêng, có hoạt động mua vào bán ra, có chi phí và hoạt
động vì mục tiêu lợi nhuận. Nhưng ngân hàng thương mại là doanh nghiệp có hoạt
động đặc thù so với các doanh nghiệp nói chung vì những đặc điểm sau đây:
- Hoạt động của ngân hàng thương mại là kinh doanh tiền tệ , vàng bạc, chứng
khoán và cung cấp các dịch vụ ngân hàng theo pháp luật.
- Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại dựa trên cơ sở “đi vay” để
cho vay thông qua các nghiệp vụ tín dụng của mình hay nói cách khác là đi mua
“quyền sử dụng tiền” để bán lại “quyền sử dụng tiền” đó cho các đối tượng khác.

8
Ngân hàng thương mại phải bỏ chi phí mua lại “quyền sử dụng” của tiền trong một
thời gian nhất định và có hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi cho chủ sở hữu của nó
theo những cam kết đã thỏa thuận. Ngân hàng thương mại không thể bán “tiền” mà
chỉ bán giá trị sử dụng của tiền, sau khi khai thác giá trị sử dụng khoản tiền vay
trong thời hạn cam kết, người vay phải hoàn trả toàn bộ giá trị tiền vay cộng thêm
khoản lợi tức trả cho người cho vay.

- Mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng (người gửi tiền, người vay tiền)
dựa trên cơ sở tín nhiệm lẫn nhau và tạo điều kiện thuận lợi cho nhau. Kinh doanh
tín dụng ngân hàng là kinh doanh “quyền sử dụng các khoản tiền tệ”, ngân hàng chỉ
bán “giá trị sử dụng của tiền” chứ không bán “tiền”, nên khi hết thời hạn sử dụng
theo cam kết, tiền quay về giữ nguyên giá trị của nó, phần chênh lệch theo thỏa
thuận nếu có là “giá bán” quyền sử dụng khoản cho vay trong thời gian nhất định.
Do vậy tiền vay (phần gốc) chỉ là vật chuyên chở giá trị sử dụng của tiền, nên nó
được phát ra qua các thời gian nhất định rồi sẽ thu về, nó không được bán đứt. Hơn
nữa giá bán (lãi suất) quyền sử dụng tiền tệ thường rất nhỏ so với giá trị của khoản
vay nên sự bù đắp khi có rủi ro xảy ra là quá ít ỏi. Chính vì thế, trong hoạt động tín
dụng của ngân hàng, yếu tố lòng tin là rất quan trọng và được đặt lên hàng đầu. Khi
nói đến lòng tin, tất nhiên là nói về sự trung thực, đứng đắn nghĩa là quyết tâm trả
nợ của người vay khi khoản vay đến hạn nhưng cũng nói đến khả năng của người
vay trong hoạt động nghề nghiệp của họ.
- Hoạt động của ngân hàng thương mại là một trong những hoạt động có nhiều
rủi ro, nhạy cảm với thị trường, do đó ngân hàng thương mại là một loại hình doanh
nghiệp được giám sát và quản lý chặt chẽ nhất của Nhà nước. Các ngân hàng
thương mại cũng cần phải thực hiện nhiều biện pháp đảm bảo an toàn hoạt động
như: cần duy trì mức vốn nhất định nhằm đảm bảo khả năng chi trả, có khả năng
chống đỡ những biến động của thị trường; lựa chọn khách hàng, hạn chế tín dụng,
giám sát thực hiện, đa dạng hóa tài sản để phân tán rủi ro; sử dụng thị trường tiết
kiệm kỳ hạn hoặc thị trường lựa chọn các công cụ nợ và phương pháp đổi chéo lãi
suất để hạn chế rủi ro lãi suất, tỷ giá
1.1.2. Hoạt động phân tích tài chính Ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Khái niệm và sự cần thiết của phân tích tài chính Ngân hàng thương mại
Phân tích tài chính ngân hàng thương mại là tổng hòa các phương pháp và
công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác nhằm xác định

vậy, phân tích tài chính ngân hàng thương mại là một hoạt động quan trọng không

11
thể thiếu đối với các nhà quản trị ngân hàng, các cổ đông, các nhà đầu tư, cơ quan
quản lý và những đối tượng có lợi ích liên quan đến hoạt động của ngân hàng.
Phân tích tài chính ngân hàng thương mại tại các quốc gia được thực hiện
theo những thông lệ khác nhau. Tại các nền kinh tế đã phát triển, các Ngân hàng
thương mại đã phối hợp cùng nghiên cứu và thống nhất trong việc sử dụng các công
cụ cũng như mô hình chuẩn trong phân tích tài chính, thậm chí hệ thống các chỉ tiêu
sử dụng để phân tích và đánh giá cũng đã được thiết kế thành bộ chỉ tiêu chuẩn với
các mức chất lượng được tham chiếu. Tuy nhiên, ở thị trường mới nổi hay các nền
kinh tế chuyển đổi như Việt Nam thì việc sử dụng các công cụ trong phân tích còn
chưa thống nhất và đồng bộ cũng như chưa có sự nghiên cứu, tìm tòi sử dụng các
công cụ đang được cộng đồng ngân hàng trên thế giới chọn làm công cụ chuẩn
trong phân tích. Quá trình hội nhập đòi hỏi một luật chơi chung, cạnh tranh toàn cầu
đã dẫn đến các tiêu chí đánh giá trong phân tích tài chính ngân hàng thương mại cần
phải được thống nhất, khuôn khổ phân tích phải đi theo chuẩn mực quốc tế. Vì vậy,
việc lựa chọn các công cụ thích hợp trong phân tích tài chính là rất quan trọng nhằm
xử lý thông tin một cách hiệu quả, chất lượng để đưa ra những nhận định và đánh
giá đúng đắn về hoạt động của ngân hàng cũng như giúp cho ngân hàng hoà nhập
vào sân chơi chung trong những cuộc chơi trên thị trường quốc tế.
1.1.2.2. Những nguyên tắc trong phân tích tài chính ngân hàng thương mại
Khi phân tích tài chính ngân hàng thương mại, nhà phân tích cần đảm bảo các
nguyên tắc sau:
Thứ nhất: Phải nghiên cứu, xem xét các sự kiện ở trạng thái vận động và phát
triển. Tự thân số liệu kế toán trong một chu kỳ phân tích không phản ảnh được chất
lượng hoạt động, xu hướng phát triển của đơn vị; vì vậy, cần nghiên cứu, so sánh

các chỉ tiêu, chẳng hạn khi phân tích lợi nhuận, nhà phân tích phải quan tâm đến hai
yếu tố thu nhập và chi phí, nghiên cứu kỹ hai yếu tố đó sẽ có thể phát hiện được
nguyên nhân làm tăng, giảm lợi nhuận và từ đó có thể đề ra các biện pháp làm tăng
lợi nhuận ngân hàng.
1.2. Nội dung của mô hình CAMEL
1.2.1. Khái niệm
CAMEL là phương pháp phân tích ngân hàng được xây dựng ở Mỹ từ năm

13
những năm 1980. Ngày nay, phương pháp này được coi là một phương pháp chuẩn
được công nhận rộng rãi trên thế giới đối với việc phân tích tài chính trong ngành
ngân hàng. Đây là một công cụ rất hữu ích trong việc đưa ra các dự đoán liệu ngân
hàng có lành mạnh hay không và nó cho phép các nhà phân tích tài chính xác định
giá trị của ngân hàng với mức độ tin cậy nhất.
Theo mô hình này, các nhà phân tích phải phân tích tài chính của ngân hàng
thương mại cả các nhân tố định tính và định lượng. CAMEL là chữ viết tắt bằng
tiếng Anh của 5 nhân tố mà theo nhận định của cộng đồng ngân hàng thế giới,
muốn duy trì được tính lành mạnh và ổn định của một ngân hàng, cần phải có 5 yếu
tố này. Đó là:
C (capital): Vốn của ngân hàng
A (asset quality): Chất lượng tài sản
M (management ability): Năng lực quản lý
E (earning): Khả năng sinh lời
L (liquidity): Khả năng thanh khoản.
Các yếu tố của mô hình CAMEL đã đưa ra những điểm nổi bật nhất về tình
hình tài chính của ngân hàng và các yếu tố này được đặt dưới những điều kiện của
mỗi quốc gia về môi trường kinh tế, chính trị, luật pháp. Trong môi trường kinh tế

cổ đông để đảm bảo cho các danh mục này. Một ngân hàng chỉ mua trái phiếu chính
phủ hoặc chỉ thực hiện các khoản cho vay ngắn hạn có bảo đảm sẽ không cần phải
có nhiều vốn như một ngân hàng cùng quy mô nhưng có các khoản cho vay không
bảo đảm đến các doanh nghiệp nhỏ. Vì loại ngân hàng thứ hai có nhiều rủi ro hơn
nên người ta mong muốn có nhiều vốn hơn để bảo vệ những người chủ nợ tránh
khỏi tổn thất. Tuy nhiên, phần thưởng cho các cổ đông ở ngân hàng thứ hai này là:
rủi ro cao sẽ thu được lợi nhuận nhiều hơn nếu có một sự quản lý vốn hợp lý.
Như vậy, khi xem xét về vốn, các nhà phân tích thường nghiên cứu tới quy mô
vốn chủ sở hữu, khả năng tạo vốn từ lợi nhuận để lại của ngân hàng và quan trọng
nhất là xem xét sự hợp lý về vốn của một ngân hàng trong việc bù đắp các tài sản có
rủi ro qua việc xem xét mối tương quan của vốn với tổng tài sản quy đổi theo mức
độ rủi ro.
Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là, một mức vốn bao nhiêu là hợp lý và an toàn? Nhà

15
ngân hàng phải đối mặt với tình huống khó xử sau:
- Có nhiều vốn sẽ giảm đòn bẩy hoặc khả năng của ngân hàng trong việc tối đa
hoá tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) cho các cổ đông; nhưng
- Có quá ít vốn sẽ đặt ngân hàng vào một mức độ bất cân xứng về rủi ro khi
thất bại nếu những chuyện không may xảy ra.
Nhìn chung, các ngân hàng thường thích một mức vốn thấp hơn nhằm tối đa
hoá tỷ lệ cổ tức cho các cổ đông trong khi các cơ quan quản lý cấp cao lại thích một
mức độ cao hơn nhằm đảm bảo sự an toàn cho hệ thống ngân hàng và tăng cường
mức độ ổn định của thị trường.
* Các tỷ lệ chính đo lƣờng mức độ hợp lý và an toàn vốn của Ngân hàng
thƣơng mại
(1) Tỷ lệ BIS= Vốn tự có/Tài sản có rủi ro

được xem là sức mạnh và tiềm lực thực sự của ngân hàng.
- Vốn cấp 2 (vốn bổ sung): giá trị tăng thêm của tài sản cố định được định giá
lại, dự trữ không công khai, dự phòng chung hay dự phòng tổn thất nợ chung, các
khoản nợ thứ cấp, các công cụ vốn nợ khác (chứng chỉ đầu tư, trái phiếu chuyển
đổi, cổ phiếu ưu tiên,….)
Vốn cấp 1 cộng với vốn cấp 2 tạo thành vốn tự có của ngân hàng sau khi giảm
trừ đi một số khoản mục. Các khoản giảm trừ khỏi vốn tự có bao gồm phần giá trị
giảm đi do đánh giá lại tài sản cố định, các loại chứng khoán đầu tư, các khoản vốn
góp tại các công ty con hạch toán độc lập, các khoản lỗ luỹ kế.
Theo quy định của Hiệp định Basle, các tài sản của ngân hàng (cả trong và
ngoài bảng cân đối kế toán) được phân thành 4 nhóm tương ứng với mức độ rủi ro
của từng nhóm. Mỗi nhóm được gán với 1 hệ số rủi ro tương ứng. Tổng tài sản rủi
ro của ngân hàng được tính bằng cách nhân tổng tài sản của mỗi nhóm với hệ số rủi
ro của nhóm tài sản đó rồi cộng lại. Kết quả được “tổng tài sản có rủi ro”.
Những yêu cầu về vốn bao gồm:
- Tỷ lệ giữa vốn cấp 1 trên tổng tài sản có rủi ro ít nhất phải đạt mức 4%.
- Tỷ lệ giữa tổng số vốn (vốn cấp 1 và vốn cấp 2) trên tổng tài sản theo tỷ lệ
rủi ro tối thiểu là 8%, trong đó vốn cấp 2 được giới hạn tối đa là 100% của vốn cấp
1.

17
Mức chất lượng của chỉ tiêu BIS: lớn hơn hoặc bằng 10% đối với các ngân
hàng hạng nhất.
Ý nghĩa của chỉ tiêu: Chỉ số BIS ngày nay được công nhận là một tiêu chuẩn
về mức độ an toàn vốn cho hầu hết các ngân hàng trên thế giới. Chỉ số này đại diện
cho những nỗ lực đầu tiên nhấn mạnh vào yêu cầu vốn cơ sở tối thiểu cho các ngân
hàng trên quy mô quốc tế.

thanh toán của một Ngân hàng. Tài sản Có có chất lượng kém là nguyên nhân chính
dẫn đến thất bại của hầu hết các Ngân hàng. Quản trị kém trong chính sách cho vay
cả trong quá khứ và hiện tại luôn luôn là lý do làm nên chất lượng kém của tài sản
Có. Điều này dẫn đến áp lực đối với vị thế về tài trợ vốn cho ngân hàng trong ngắn
hạn, kết quả dẫn đến khủng hoảng về thanh khoản hoặc làm cho ngân hàng hoàn
toàn phá sản.
Việc đánh giá chất lượng tài sản Có là một trong những khía cạnh khó nhất
trong phân tích tài chính ngân hàng. Đối với khó khăn này, nhà phân tích phải đi
theo hai hướng: (1) đánh giá mức độ mạnh yếu trong quản trị rủi ro tín dụng của
ngân hàng, (2) đánh giá chất lượng của các khoản đầu tư và danh mục cho vay bằng
việc sử dụng phân tích xu thế và so sánh.
* Quản trị rủi ro tín dụng:
Rủi ro tín dụng là sự bộc lộ những bất lợi tiềm năng đến lợi nhuận và giá trị
thị trường của tài sản do chất lượng tài sản đã bị giảm đi. Không giống như các rủi
ro khác trong ngân hàng, chính sách và thực tiễn rủi ro tín dụng được thiết kế để
phòng tránh hơn là để đo lường, quản trị và rào chắn. Những phương pháp đối với
quản trị rủi ro tín dụng bao gồm phòng tránh và kiểm soát tổn thất.
Phòng tránh đưa ra những chính sách xác định các phạm vi thích hợp và mong
muốn thực hiện. Ví dụ như một chính sách tín dụng ngăn cấm việc cho vay bất
động sản hoặc cho vay ở các nước đang phát triển- hoặc là Chính phủ hoặc là các
thực thể kinh doanh.
Kiểm soát tổn thất liên quan đến việc duy trì tính đa dạng trong các thành
phần của danh mục (ví dụ như cho vay phân biệt theo ngành, khu vực địa lý, loại
nợ, hồ sơ khách hàng, phân tích tín dụng thích hợp, các thủ tục thế chấp).
Đánh giá chất lượng đầu tư và danh mục cho vay
Ngân hàng thực hiện chức năng như một trung gian tài chính vì vậy danh mục


Trích đoạn Kết quả hoạt động kinh doanh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status