class="bi x0 y0 w1 h1"
TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH TE VÀ KINH
DOANH
QUỐC TÊ
CHUYÊN NGÀNH
KINH TẾ
Đối
NGOẠI
so
ca
oa
KHOA
LUẨN
TÓT
NGHIẸP
(Mứt
ÁP
DỤNG MÔ
HÌNH
CAMEL TRONG
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
TẠI
NGÂN HÀNG ĐẦU Tư VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT
NAM
Sinh viên thực hiện
Lớp
BIỂU
LỜI
MỞ
ĐÀU
CHƯƠNG
ì:
LÝ LUẬN cơ BẢN VỀ MÔ
HÌNH
CẠMEL 4
ì.
Tổng
quát
về
phân
tích
tài
chính ngân hàng thương
mại
4
Ì.
Khái
niệm
phân
tích
tài
chính ngân hàng thương
mại
4
2.
Sự
mô
hình Camel
10
Ì.
Nội dung
mô
hình Camel
lo
1.1.
Phân
tích
nguồn vốn
10
Ì .2.
Phân
tích
chất
lượng
tài sản
14
Ì .3.
Phân
tích
khả
năng
quản lý
18
Ì .4.
Phân
tích
điểm
của
mô
hình Camel
11
CHƯƠNG
li:
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI NGÂN HÀNG
ĐẦU TƯ VÀ
PHÁT
TRIỂN
VIỆT
NAM BẰNG MÔ
HÌNH
CAMEL 33
ì.
Tổng
quan về
Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển
Việt
Nam 33
Ì.
Khái quát về quá trình hình thành và phát
triển
của
Ngân hàng Đầu tư
và
Phát
triển
Thẳng
Pháp
4
-
K44
w
r r
Đại học Ngoại Thương
-
Khoa Kinh
tê
và
Kinh doanh Quôc
tê
li.
Phân
tích
tài
chính
tại
Ngân hàng Đầu
tư
và Phát
triển
Việt
Nam 37
Ì.
Phân
tích
nguồn vốn
tài
sản
45
2.1.
Thực
trạng
phân
tích
chất
lượng
tài
sản
45
2.2.
Đánh
giá
chất
lượng
phân
tích
tài sản
52
2.3.
Phân
tích
chất
lượng
tài
sản
theo
sinh
lời
60
3.3.
Phân
tích
khả
năng
sinh
lời
theo
mô
hình Camel
61
4.
Phân
tích
khả
năng
thanh
khoản
65
4. Ì.
Thực
trạng
phân
tích
khả
năng
thanh
NHẰM
ỦNG
DỤNG
HIỆU
QUẢ
MỒ
HÌNH
CAMEL
TRONG
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI NGÂN HÀNG
ĐẦU TƯ
VÀ
PHÁT
TRIỂN
VỆT
NAM 70
ì.
Kết quả
và
hạn chế
trong
công
tác
phân
tích
tài
chính
tại
Ngân hàng Đầu tư và
Phát
được
70
1.2.
Các
yếu
tố
tiếp
nhận
71
2.
Những hạn chế
trong
phân tích tài chính
tại
Ngân hàng Đầu tư
và
Phát
triển
Việt
Nam
và các nguyên nhân
72
2.1.
Những
hạn chế
72
2.2.
Nguyên nhân
73
n.
và
Kinh doanh Quốc
tê
1.
Những định
hướng
phát
triển
và
mục
tiêu
công tác phân tích
tài
chính của
BIDV
trong
thời
gian
tới
76
1.1.
Định
hương
phát
triển
của
Ngân
hàng
Đầu tư và
Phát
tài
chính
tại
BIDV còn
nhiều
hạn che
79
4.
Ngân hàng
Nhà
nước
Việt
Nam
thực
hiện
quản lý,
giám sát
và
xếp
hạng
đối với
các
TCTD
dựa
trên
các
nội
dung của
Camel
80
thông
tin
phù họp
với
nhu
cầu
phân
tích
tài
chính
tại
Ngân
hàng
83
1.1.
Các thông
tin
trong nội
bộ Ngân hàng
83
Ì .2.
Các thông
tin
bên ngoài
84
2.
Hoàn
thiện
và
nâng
nhánh
85
4.
Tuyển dụng
và đào
tạo
cán bộ chuyên
trách
về
phân
tích
tài
chính
86
5.
Ban
hành
qui
trình
chuấn
cho
phân tích
tài
chính
theo
mô
hình
Camel
87
6.
91
TÀI
LIỆU
THAM KHẢO 93
Hoàng
Văn
Thắng
Pháp
4
-
K44
r ĩ £
Đại học Ngoại Thương
-
Khoa Kinh
tê và
Kinh doanh Quốc
tê
DANH
MỤC
BẢNG
BIỂU
Bảng
1:
Nợ
phải
trả
và vốn chủ sở hữu
của
Ngân hàng Đầu tư và Phát
toán
của
Ngân hàng Đầu
tư
và
Phát
triển
Việt
Nam năm
2006
-
2008
40
Bảng
4:
Các
chỉ số
an toàn
vốn của
Ngân hàng Đầu
tư
và Phát
triển
Việt
Nam năm
2006-2008
.7. . 41
Bảng
5:
Các
hàng,
sau
khi trừ
dự phòng
rủi
ro tín
dụng
của
Ngân hàng Đầu
tư
và
Phát
triển
Việt
Nam năm
2006
-
2008
47
Bảng
8:
Các
chỉ số
cơ
bản về chờt
lượng
tài sản của
Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển
Việt
về
chờt
lượng
tài sản của
Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển
Việt
Nam
theo
mô hình Camel năm
2006
-
2008
53
Bảng
11:
Báo cáo
kết
quả
kinh
doanh
hợp
nhờt
toàn
hệ
thống
của
Ngân hàng Đầu tư
và
Phát
của
Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển
Việt
Nam năm
2006
-
2008
60
Bảng
14:
Các
chỉ số
về
khả
năng
sinh
lời
của
Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển
Việt
Nam
theo
mô hình Camel năm
2006
-
2008
61
Bảng
2006
-
2008 68
Hoàng Văn Thằng
Pháp 4
-
K44
r
r r
Đại học Ngoại Thương
-
Khoa Kinh
tê
và
Kinh doanh Quốc
tê
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIÊT TÁT
AIG
:
Tập đoàn Tài chính quôc
tê
Mỹ
ALCO
:
Hội
đồng
quản lý
tài sản
Nợ
-
vê
tiêu
chuân vòn quôc
tê
được
soạn
thảo bởi
Uy
ban
Basle
về
Giám
sát
Ngân hàng (còn
gọi
là Hiệp
định
Basel)
BIDV
:
Ngân hàng Đầu
tư
và
Phát
triựn
Việt
Nam
BIS
:
Ngân hàng
:
Dự
án
hiện
đại
hóa công
nghệ
ngân hàng
CIC
: Trung
tâm thông
tin
tín dụng
DPRR
:
Dự
phòng
rủi
ro
DPTTN
:
Dự
phòng
tổn thất
nợ
ÉC
:
Vốn chù
sở
hữu
:
Hệ
thống
thông
tin
quản
lý
NHNN
:
Ngân hàng Nhà nước
NHTM
:
Ngân hàng thương mại
NNVN
:
Nhà nước
Việt
Nam
NI
: Lợi
nhuận sau
thuế
NPLs
:
Nợ
xấu
r
Hoàng
Văn
Thăng
toán
điện
tử
QĐ-HĐQT
:
Quyết
định
của Hội
đồng
quản
trị
QĐ-NH
:
Quyết
định
của
ngân
hàng
QĐ-NHNN
:
Quyết
định
của
Ngân hàng Nhà nước
ROA
:
Sức
sinh
lời
của tài
túi
dụng
USD
:
Đồng
Đôla Mỹ
VCSH
:
Vốn
chủ sở
hỹu
VD
:
Ví dụ
VID
:
Ngân hàng
Liên
doanh
Việt
Nam
-
Malaysia
VN
: Việt
Nam
VND
:
Đồng
Việt
càng
lớn"
- đó là một
triết
lý
kinh tế
đã
được
kiểm
nghiệm
rất
nhiều
qua
thực
tế.
Nó có
thể
được sử
dụng
để
cảnh
báo
nhà đầu tư
trong tất
cả hầu
hết
các
lĩnh
vực của nền
kinh
triển
của ngân hàng đã có
nhứng
phát
triển
vượt
bậc về số
lượng,
kéo
theo
đó,
chất
lượng
cũng
phải
được
cải
thiện
để
giứ
được mức cân
bằng
trong
sự phát
triển
của mỗi
quốc
gia
và của toàn
thế
và
cuộc
đại
khủng
hoảng
năm
2008
mà
thế
giới
vẫn đang
phải
chịu
hậu quả
nặng
nề và tìm
hướng
khắc
phục
hậu
quả, cải
thiện
nền
kinh tế
toàn
cầu.
Điều
đó cho
thấy
chất
tài
chính ngân hàng của
Việt
Nam nói riêng
cũng
bị ảnh
hưởng
rất lớn,
yêu cầu là
chúng
ta cần phải
có một cơ
chế
giám
sát,
kiểm
soát
tài
chính
chặt
chẽ được đưa
ra
bởi
Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại
phải
tuân
thủ
theo.
Bên
cạnh
phục
vụ cho công tác
quản
trị,
dự bảo
rủi
ro hiệu quả.
Một trong
các phương pháp phân tích tài chính được công
nhận
rộng
rãi
đối với việc
phân tích
tài
chính ngân hàng
là
phương pháp Camel được xây
dựng
ở Mỹ
từ
nhứng
năm 1980 dựa trên
việc
phân tích các nhân
tố
cả định tính và
định
lượng.
Mô hình Camel
-
K44
ĩ
r
ĩ
Đại học Ngoại nương
-
Khoa Kinh
tê
và Kinh doanh Quôc
tê
doanh, những
dấu
hiệu
rủi
ro
và đưa
ra
các
quyết
định họp lý nhằm nâng cao khả
năng
sirửi lời
của
ngân hàng.
Hiện
nay,
việc
áp
dụng
những
thách
thẩc
của xu
thế hội
nhập
kinh tế
quốc
tế
về trình độ
quản lý,
vốn,
công
nghệ,
các tiêu
chuẩn
về kế toán và
kiểm
toán
thì công tác phân tích tài
chính của BIDV càng
trở
nên
quan
trọng
để giúp các nhà lãnh đạo đưa
ra
các
r ít
quyết
tại
BIDV
cũng
như tính hữu ích của mô hình Camel
trong
phân tích tài
ỉ * •
*"
chính ngân hàng, em đã
quyết
định
lựa
chọn
đê
tài:
"Áp dụng mô hình Camel
2 'ỉ t
trong
phân
tích
tài
chính
tại
Ngân hàng Đâu tư và Phát
triẽn Việt
Nam" đê
nghiên cẩu cho
khoa
luận
của
của mình,
từ
việc
nghiên cẩu lý
thuyết
phân tích tài chính ngân hàng thương
mại,
mô hình phân
tích
tài
chính
chuẩn quốc
tế,
đến
việc
phân tích
hoạt
động
của
Ngân hàng Đầu tư
và Phát
triển
Việt
Nam
bằng Camel,
rồi
đưa
ra
một số
giải
tối
ưu
nhất
trong
tình hình
kinh tế
tài chính
hiện
nay sao cho phù hợp và
đạt hiệu
quả cao
nhất
trong
quá trình
thực
hành
nghề
nghiệp
trong
lĩnh
vực đầu
tư tài chính ngân hàng sau này của bản thân sau
khi tốt
nghiệp
Đại
học
Ngoại
Thương.
r
Hoàng Văn Thăng
động của Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển
Việt
Nam, em có
thể
tìm
hiểu
sâu kỳ hơn về một
trong
những
tổ
chức
kinh tế
lớn nhất
của
Việt
Nam
tiến
tới
phát
triển
thành một Tập đoàn
tài
chính Ngân hàng tầm cỡ
khu vực.
Và
cũng
có
thể nói
đây chính
nghiên cứu
Đối
tượng
nghiên cứu
của
khóa
luận là thực
trạng
phân tích
tài
chính
tại
Ngân hàng Đầu tư và
Phát
triển
Việt
Nam
theo
những
chỉ
tiêu
mà Ngân hàng
lựa
chọn,
cùng
với
tình hình
hoạt
động cùa Ngân hàng này thông qua
việc
được
lấy
tò
sách,
báo, tạp
chí
trong nội
bộ Ngân
hàng,
trong
nước và một
số
thông
tin
nước ngoài cùng
với
các Báo cáo thường niên của Ngân hàng này
trong
các năm
2006,
2007,2008
(một sổ
thông
tin
có
thể
lấy
từ
các Báo cáo thường niên năm
2003,
trong
công
tác
phân
tích
hoạt
động
của
Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển
Việt
Nam. Vì
vậy,
phương pháp nghiên cứu ở đây
vừa
mang
tính lý
thuyết
vừa
mang
tính
thực
tiễn.
Các phương pháp chủ yếu được sử
dụng
là
phương pháp mô
tờ,
phương pháp
tổng
bằng
mô hình Camel
Chương
IU:
Một số
giời
pháp nhằm ứng
dụng
hiệu
quờ mô hình Camel
trong
phân
tích
tài
chính
tại
Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển
Việt
Nam.
r
Hoàng Văn Thăng
3
Pháp 4
-
K44
ĩ
ĩ Ắ
Đại học Ngoại Thương
-
khác nhằm
xác
định
vị trí
và đánh giá tình hình
tài
chính
trong
quá
khứ, hiện
tại,
đánh giá
rủi
ro,
mức độ và
hiệu
quả
hoạt
động
của
NHTM,
cung
cấp cho các nhà
quản
lý
kinh tế
tài
chính
vĩ
mô
dữ
liệu
được
cung
cấp
trong
các báo cáo tài chính nhằm
rút ra
những
đánh giá có
ích,
có
ý
nghĩa
cho
việc ra
quyết
định.
2.
Sự
cân ỉhiêt
của
phân tích tài chính Ngân hàng thương mai
Sự an toàn của các ngân hàng thương mại luôn là mối
quan
tâm
đối với
nhiều
người,
từ
ờ
bất
cứ
loại
hình
doanh
nghiệp
nào khác.
Các
thua lỗ
của ngân hàng
có
thể
làm
mất vốn đầu
tư
của
các cổ
đông,
mất các
khoản
tiền
gửi,
bao
gồm
tiền
tiết
kiệm
mà
nhiều
khác.
Hoạt
động
của
ngân hàng thương mại
cũng
là
hoạt
động
rất
nhạy
cảm
với
các
lĩnh
vực
kinh tế -
chính
trị
- xã
hội trong
nước và ngoài
nước,
bất
kỳ
những
chấn
động nào
của
nền
đưa đến sự phá
sản,
để phát
hiện
những
dấu
hiệu,
nguy
cơ
rủi
ro,
người
ta phải
tìm
những
công
cụ
báo
động,
để phát
hiện
sớm
những
khó khăn của ngân hàng trước
khi
nhưng
khó khăn
đó
phát
sinh
Khoa Kinh
tê
và Kinh doanh Quốc
tê
thương
mại.
Phân tích tài chính ngân hàng thương mại sẽ đưa
ra
một bức
tranh
về
thực
trạng
hoạt
động tài chính của ngân hàng, xác định đầy đủ, đúng đắn
những
nguyên nhân và mức độ ảnh
hưởng
của các nhân tố đến tình hình tài
chính của ngân hàng. Vì
vậy,
phân tích tài chính ngân hàng thương mại là một
hoạt
động
quan
trọng
không
thể
thiếu
đối với
được
thực
hiện
theo
những
thông
lệ
khác
nhau. Tại
các nền
kinh
tế
đã phát
triển,
các Ngân hàng
thương mại đã
phấi
họp cùng nghiên cứu và
thống nhất
trong việc
sử
dụng
các
công cụ
cũng
như mô hình
chuẩn
trong
phân tích tài chính,
thậm
như
Việt
Nam thì
việc
sử
dụng
các công cụ
trong
phân tích còn chưa
thống nhất
và đồng bộ
cũng
như chưa có sự nghiên
cứu,
tìm tòi sử
dụng
các công cụ đang được
cộng
đồng ngân hàng trên
thế
giới
chọn
làm công cụ
chuẩn
trong
phân
tích.
Quá trình
hội nhập
đòi
trọng
nhằm xử lý thông
tin
một cách
hiệu
quả, chất
lượng
để đưa
ra
nhưng
nhận
định và đánh giá đúng đắn về
hoạt
động
của
ngân hàng
cũng
như giúp cho ngân hàng hoa
nhập
vào sân chơi
chung
trong
những cuộc
chơi trên
thị
trường
quốc
tế.
3.
Một
5
Pháp 4
-
K44
Ị ĩ £
Đại học Ngoại Thương
-
Khoa Kinh
tê
và
Kinh doanh Quốc
tê
bằng
cách phân
tích
thành các bộ
phận cấu
thành để
chỉ ra
thực
trạng
quản
trị
tài
chính
cũng
như
tiềm
năng và các
vấn
cho
các nhà
quản
trị
ngân hàng
có
hướng
cải
thiỷn
khả
năng
sinh
lời
của
hỷ
thống
mình.
3.7.2.
Nội dung
của
mô
hình
Dupont
Ì.
Ì
.2. Ì.
Tỷ
số
ROE
(Return
này đo
lường
khả
năng
sinh
lời
(lợi
nhuận sau
thuế
kiếm
được)
trên
một
đông vòn bỏ vào ngân hàng thương
mại.
Hầu như các chủ sở hữu đều ưa thích
tỷ
số ROE
cao.
Tuy
nhiên,
tỷ số
ROE
cao
không
phải
lúc
nào
cũng
là
ngân hàng.
Phân
tích thành
các bộ
phận câu
thành
Để
thấy
được
tiềm
năng
cũng
như đánh giá đúng được mức độ
rủi
ro
trong
hoạt
động ngân hàng dựa
trên
tỷ
số
ROE, chúng
ta
sẽ
phân
tích
ROE thành
2
chỉ
tiêu
sản
của
ngân
hàng thương
mại
EM
(Equity
multiplier):
số nhân vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương
mại
(đo
lường
độ
bẩy
tài
chính
của
ngân hàng)
EM:
tỷ
sổ này đo
lường
mồi
đồng
vốn
chủ sở hữu
của
ngân hàng
thì
sẽ
rủi
ro
trả
nợ của ngân hàng. Vì
vậy,
các nhà
quản
trị
ngân hàng
thương
mại cũng cần đặc
biỷt
chú
ý
đến
viỷc
tăng
ROE
bằng
cách tăng
chỉ
tiêu
EM.
Hoàng Văn Thăng
6
Pháp 4
-
K44
ĩ
t ĩ
mình.
Chỉ tiêu này có ảnh
hưởng tỷ
lệ thuận
đến tỷ
số phân tích chính của
Dupont
- ROE
(khi
ROA
tăng,
ROE sẽ tăng và
ngược
lại).
Đe có
thể
phân tích và đưa
ra
được
những nhận
xét về các yếu
tổ
ảnh
hưởng đến
ROE thông
qua
RŨA, chúng
ta
phải
phân tích các
đó:
PM
(Proíĩt
margin):
phản
ánh số
lợi
nhuận
sau
thuế
mà ngân
hàng thương
mại
thu
được
trên
Ì
đồng
tổng thu
nhập
AU
(Asset
utility):
phản
ánh
tổng thu
nhập
(trong
và ngoài
lãi)
thì
lợi
nhuận
đạt
được càng
cao.
Còn AU đo
lường khả
năng
tạo ra thu
nhập
của tài
sản
mà ngân hàng đang nắm
giữ.
Thu
nhập
từ
Ì
đồng
tài
sản
càng cao thì
lợi
nhuận
của ngân hàng
cũng
lớn theo.
Tuy
nhiên,
đó,
chúng
ta
sẽ
đi phân tích các
chỉ
tiêu PM và AU thành
các
yếu
tố
cắu
thành khác
nữa.
Ì.
Ì
.2.3.
Các
yếu
tố
cắu
thành PM
PM =
Ì
- (Chi
phí
lãi
/
Tổng
thu
nhập
lãi
+ Tỷ
suắt chi
phí dự phòng + Tỷ
suắt chi
phí
ngoài
lãi
+ Tỷ
suắt thuế thu
nhập)
Việc
giảm
giá
trị
của
bắt
cứ
tỷ
số
nào
trong
số các
yếu
tố:
Tỷ
suắt chi
phí
lãi,
Tỷ
Kinh doanh Quôc
tê
thương
mại.
Tuy
nhiên,
việc
giảm
các
tỷ
số này đều làm tăng khả năng
sinh lời
của
ngân hàng nhưng
cũng
có
thể tạo
ra tình
huống
có vấn đề của tổ
chức.
Những
vấn
đề
rủi
ro
sẽ được
nhận
biết
và phân tích rõ hơn về mức độ ảnh
tiết
theo từng
loại
chi
phí bao gồm
chi
phí nhân
viên,
chi
phí
tài
sản
khác ).
Ì.
Ì
.2.4.
Các
yếu
tố
cấu
thành AU
AU = Thu
nhập lãi
/
Tổng
tài sản
+ Thu
nhập
ngoài
lãi
mình có
hiệu
quả và
tạo ra
xu
hưồng
tích
cực
cho ngân
hàng.
Nhưng
cũng cần
phải
cảnh
giác
rằng
việc
tăng cao các
tỷ
số
này
cũng
kéo
theo
những
kết
quả không
chắc chắn
hay
những
quan
sát
bằng
cách phân tích
thu
nhập
thành
thu
nhập lãi
kinh
doanh,
thu
nhập lãi
tiêu
dùng
.)•
Như
vậy,
việc
sử
dụng
mô hình
Dupont
trong
phân tích tài chính ngân
hàng thương mại có ý
nghĩa
rất
quan
trọng.
đối
tượng
sử
dụng
thông
tin
trong
quá trình
ra
các
quyết
định đầu tư
kinh
tế
một cách
hiệu
quả.
3.2.
Mô
hình
Camel
3.2.1.
Sự
ra đời
của
mô
hình
Cameỉ
Camel
là phương pháp phân tích ngân hàng được xây
Đây là một công cụ
rất
hữu ích
trong việc
đưa
ra
các dự đoán
liệu
ngân hàng có
lành
mạnh
hay không và nó cho phép các nhà phân tích
tài
chính xác định giá
trị
của
ngân hàng
vồi
mức độ
tin
cậy
nhất.
Hoàng Văn Thắng
8
Pháp 4
-
K44
r ĩ Ẩ
Đại học Ngoại Thương
-
thế
giới,
muốn duy
trì
được tính lành
mạnh
và ổn định của một ngân hàng,
cần
phải
có 5
yếu
tố
này.
Đó là:
c
(cáphai):
vốn
của
ngân hàng
A
(asset
quality):
Chất
lượng
tài
sản
M
(management
ability):
Năng
quốc
gia
về môi trường
kinh
tế,
chính
trị, luật
pháp.
Trong
môi trường
kinh
tế
và
luật
pháp của một
quốc
gia,
công
việc
của nhà phân tích là xác định
được
mức độ an toàn vốn của một ngân
hàng,
chất
lượng
tài sản, nguồn
vốn và
các
khoản
đầu
phân tích.
Camel
dễ làm
ta
liên
tường
đến hình
tượng
con
lạc
đà đang
tải
những
kiện
hàng
nặng
nề đi
trong
sa mạc. Nhà
quản
trị
ngân hàng
cũng
phải
chịu
một gánh
nặng
về công
việc
và trách
giới
Camel
được đưa
ra
và sử
dụng
như một quy
tắc
chuẩn
trong
công tác phân
tích tài chính nhằm giám sát
tài
chính
đối
với
một
tổ chức
tín
dụng.
Đây không
phải
là một
chuẩn
mữc
luật lệ,
quy định các
tổ chức
tài chính đều
phải
dung
nữa là mức độ
nhạy
cảm
với
thị
trường của các ngân
hàng (S -
Sensitivity).
Tuy
nhiên,
ở hầu
hết
các
quốc
gia
phát
triển,
người
ta
chỉ
sử
dụng
mô hình Camel
thay
cho
Camels
để phân tích đánh giá năng
lữc
hoạt
Nepal,
Kenya
lại
sử
dụng
Cael
(vốn,
tài
sản,
sinh
lời,
thanh
khoản -
Capital,
Assets,
Earnings,
Liquidity)
thay
cho Camel.
Ta có
thể lấy
một vài
ví
dụ:
Hồng Kông sử
dụng
mô hình Camel
(vốn,
tài
sản,
-
Capital,
Assets,
Management,
Earnings,
Liquidity
and
Stress
testing).
r
Còn ở
Việt
Nam,
hiện
nay
Ngân hàng Nhà nước
cũng
đã đưa
ra
các quyêt
đằnh
về
việc
đánh
giá,
xếp hạng
các
tổ
chức tín dụng bằng
phương pháp
việc
sử
dụng
các
nội
dung
về vốn
tự có,
Chất
lượng
hoạt
động,
Công
tác quản
trằ,
kiểm
soát,
điều
hành,
Kết
quả
kinh
doanh
và Khả năng
thanh
khoản
để
thực
hiện
phân
trong
số
tất
cả các ngân hàng thương mại
Việt
Nam,
người
ta
chưa
hề sử dụng
mô hình
Camel,
Cael
hay
Camels
theo
đúng
nghĩa
thực
sự
của
nó
trong
công tác phân tích
tài
chính
phục
vụ
ra quyết
đằnh
số đó
cũng
chỉ
có
rất
ít
tiêu
chuẩn của
Camel được ứng
dụng.
Đó là một
điểm
yếu
rất
lớn
đối
với
các
tổ
chức tài
chính
Việt
Nam
cần
phải
được
khắc phục nhanh
chóng để
có
thể
Một
là
đê bù đáp
những
tổn
thất
không
mong
đợi;
Hai
là đảm bảo sự an toàn cho
người
gửi
tiền
cũng
như các
chủ
nợ;
Ba
là
đảm bảo tuân
thủ
những
qui
đằnh
của
cơ
quan quản
lý
đặt
tê
ì r r ì
trường
họp tôn
thát.
Mức độ vòn càng cao cho phép nhà
quản
trị theo
đuôi
những
cơ
hội
kinh
doanh
với
những
rủi
ro
cao
hơn.
Mức độ
vốn
thấp
sẽ
thu
hẹp
mục
tiêu
của
nhà
của bảng
cân
đối
kế toán,
chúng
ta
có
thể thấy rằng,
danh
mục các
khoản
nợ càng
nhiều
rủi
ro thì
đòi
hỏi
càng
nhiều
vốn của
cổ đông để đảm bảo cho các
danh
mục
này.
Một ngân hàng
chỉ
mua
trái
phiếu
chính phủ
thứ hai
có
nhiều
rủi
ro
hơn nên
người
ta
mong
muốn
có
nhiều
vốn hơn để
bảo
vằ
những
người
chủ
nợ tránh
khỏi
tổn
thất.
Tuy
nhiên,
phần
thưởng cho các
cổ
đông ở ngân hàng
thứ hai
này
tạo
vốn
từ
lợi
nhuận
để
lại
của
ngân hàng
và
quan
trọng
nhất
là
xem xét
sự họp lý
về
vốn của
một ngân hàng
trong viằc
bù
r r t t
đáp các
tài sản
có
rủi
ro
qua
viằc
xem xét môi tương
sau:
- Có
nhiều
vốn sẽ
giảm
đòn bẩy
hoặc khả
năng
của
ngân hàng
ừong
viêc
tối
đa
hoa
tỷ
lằ
lợi
nhuận
trên
vốn chủ sở
hữu (ROE)
cho
các cổ
đông;
nhưng
- Có quá
ít
vốn
sẽ
các cơ
quan quản
lý cấp cao
lại
thích một mức độ cao hơn nhằm đảm bảo sự an toàn cho hằ
thống
ngân hàng và
tăng
cường
mức độ ổn
định
của
thị
trường.
ị. Các
tỷ
lằ
chính đo
lường
mức độ hợp lý và an toàn vốn
của
ngân
hàng thương mại
r
Hoàng Văn Thăng
li
Pháp 4
-
K44
r r r
đại
diện
cho nhóm 12 nước
bao
gồm:
Bỉ,
Canada,
Pháp,
Đức,
Ý,
Nhật
Bản,
Hà
Lan,
Thụy
Điặn,
Thụy
Sĩ,
Anh,
Mỹ,
Luxembourg.
Hội
đồng này hình thành
dưới
sự
bảo trợ của
Ngân hàng
thanh
toán
quốc
tại
các
quốc
gia
đang phát
triặn.
Peter
Cooke,
Chủ
tịch
Hội
đồng
là
người
dẫn đầu
trong việc đặt ra
một mức
chuẩn
tối
thiặu
cho độ an toàn
vốn.
Hiệp
định
đạt
được
thoa
thuận
năm 1988
gọi là
nghị
tuân
thủ
vào năm
1992.
Chúng
ta cần
chú
ý
rằng,
hướng dẫn BIS
chỉ
là
lời
khuyên và không có ràng
buộc
về mặt pháp lý
nhưng các ngân hàng
Trung
ương thành viên được
khuyến
khích đi
theo
nhưng
nguyên
tắc
của
Hiệp
định đặ có
những
sửa đổi
bổ
sung
thêm các
điều
khoản
về
rủi
ro thị
trường và có
hiệu
lực cuối
năm
1997.
Tháng
06/1999,
theo
đề
nghị
của Hội
đồng
quản
trị
nhóm các nước thành
viên,
một số
qui
định
trong
Hiệp
trong
đó:
- Vốn
cấp Ì (vốn
cơ
sở):
gồm
vốn
cổ đông đã
góp,
thặng
dư
vốn
cổ
phần,
dự trừ
công
khai
(các
quĩ
dự
trữ,
thu
nhập
đặ
lại)
trừ đi
lợi
thế
thương
tổn
thất
nợ
Hoàng Văn Thắng
12
Pháp 4
-
K44
r p Ị.
Đại học Ngoại Thương
-
Khoa Kinh
tê
và
Kinh doanh Quốc
tê
chung,
các
khoản
nợ
thứ cấp,
các công cụ vốn nợ khác
(chứng
chỉ
đầu
tư,
trái
phiếu
chuyển
đổi,
tự
có bao gồm phân
giá
trị
giảm
đi do đánh giá
lại
tài sản
cố
định,
các
loại
chứng
khoán đầu
tư,
các
khoản vốn
góp
tại
các công
ty
con hạch
toán
độc
lập,
các
khoản
lỗ
lũy
kế.
tương
ứng.
Tổng
tài
sản
rủi
ro của
ngân hàng được tính
bằng
cách nhân
tổng
tài
sản
của
mỗi nhóm
với
hệ
số
rủi
ro của
nhóm
tài sản
đó
rồi
cộng
lại.
Kết
quả được
"tổng
tài sản
tổng
tài sản
theo tỷ
lệ rủi
ro
tối
thiểu
là
8%,
trong
đậ
vốn cấp
2 được
giới
hạn
tối
đa
là 100% vốn cấp
Ì.
Mức
chất
lượng
của
chỉ
tiêu
BIS: lớn
hơn
hoặc bằng
10%
đối
đầu tiên
nhấn
mạnh
vào yêu
cầu
vốn cơ sở
tối
thiểu
cho
các ngân hàng
trên
qui
mô
quốc
tế.
Nhược
điểm
của chỉ
tiêu:
Khó khăn
đối với
việc
xác đinh các số
liệu
để
tính toán
chỉ
tiêu như
tài
sản
mức độ nợ
trên
vốn chủ sở
hữu
được
nhiều
ngân hàng áp
dụng.
Hệ số này cho
biết
khả
năng huy động vốn của
ngân hàng
lớn
gấp nhiêu
lần
so
với
vốn chủ sở
hữu.
Từ
đó,
chúng
ta
có
thể
đo
lường
vào mức độ phụ
thuộc
-
K44
ỉ
f
ĩ
Đại học Ngoại Thương
-
Khoa Kinh
tê
và Kinh doanh Quốc
tê
Hệ số
tạo
vốn
nội
bộ cho
biết
khả năng tăng vốn
tự
có của ngân hàng từ
lợi
nhuận
để
lại.
Hệ số này càng
lớn
càng
tốt
(ở
các ngân hàng trên
cũng
sử
dụng
chính số vốn của mình để
kinh
doanh.
Điều
này đòi
hỏi
một
phần
trăm
nhất
định tài sản
phải
có vốn tự có của chính
ngân
hàng.
Nếu vốn của ngân hàng
rớt
xuống bằng 0,
ngân hàng sẽ phá
sản.
Vì
lý do này, vốn được
coi
là tấm nệm tài chính cho phép ngân hàng
trụ
lại
trong
sản
Tài sản là
phần
sử
dụng nguồn
vốn đưa vào
kinh
doanh
và duy trì khả
năng
thanh
toán của một ngân hàng. Tài sản có
chất
lượng
kém là nguyên nhân
chính dẫn đến
thất
bại
của
hầu
hết
các ngân
hàng.
Quản
trị
kém
trong
chính sách
cho
vay cả
sản.
Việc
đánh giá
chất
lượng
tài sản là một
trong
nhụng
khía
cạnh
khó
nhất
trong
phân tích
tài
chính ngân
hàng.
Đối với
khó khăn
này,
nhà phân tích
phải
đi
theo hai
hướng:
(Ì) Đánh
giá
mức độ
mạnh
yếu
dụng
Rủi
ro
tín
dụng
là sự bộc
lộ
nhụng bất
lợi
tiềm
tàng đến
lợi
nhuận
và giá
trị
thị
trường
của tài
sản
của
tổ
chức
tín
dụng
do
chất
lượng
tài
sản đã
bị
đốc Ngân hàng Nhà
nước
ban hành Quy định về phân
loại
nợ,
trích
lập
và sử
dụng
dự phòng đế xử lý
rủi
ro
tín
dụng
trong
hoạt
động ngân hàng
của
tổ
chức
tín
dụng: "Rủi ro
tín
dụng
Ương
hoạt
động ngân hàng
của
tổ
chức
giống
như các
rủi
ro
khác
trong
ngân
hàng,
chính sách và
thực
tiễn
rủi
ro
tín
dụng
được
thiết
kế để phòng tránh hơn là để đo
lường,
quản
trị
và rào
chắn.
Những phương pháp
đối
với
quản
trị
rủi
ro
là Chính phủ
ì
hoờc là
các
chủ
thê
kinh
doanh.
Kiểm
soát
tổn
thất
liên
quan
đến
việc
duy
trì
tính đa
dạng
trong
các thành
phần
của
danh
mục. Ví dụ như cho vay phân
biệt
theo
ngành, khu vực địa lý,
loại
nhất
của
họ chính là các
khoản
cho
vay.
Tuy nhiên,
cũng
không nên bò qua các
khoản
mục đầu tư vào
chứng
khoán và
tiền
gửi
liên
ngân hàng. Ngoài tính
thanh
khoản
theo
yêu
cầu, danh
mục
những
tài sản này
cũng
đóng góp vào sự tăng trưởng
thu nhập
của ngân hàng. Nhà phân tích nên
theo
đối
kế
toán
dưới
dạng
giá
trị
ghi
sổ.
Điểm
này khác
biệt
so
với
các
thực
tiễn
các
tổ
chức
phi
tài
chính,
hầu
hết
các
khoản
mục này được
thể
hiện
điều chỉnh tài sản của
họ
theo
giá
thị
trường.
Đánh giá
chất
lượng
của
danh
mục các
khoản
cho vay có một chút thách
thức
khác
biệt.
Nếu một nhà phân tích có
thể
kiểm
tra
mỗi
khoản
vay
trong
sổ
r
Hoàng Văn Thăng
15
Pháp 4
nhà phân
tích.
Đó
là những
thông
tin
không đầy
đủ
hoặc
mâu
thuẫn
nhau
về
danh
mục các
khoản
vay.
Hoặc,
quan
trọng
hơn là,
thiếu
sự
công
khai
về
chất
lượng
các
khoản cho vay
khoản
tổn
thất
nợ
(5)
Chi
tiết
các
khoản vay
đã được
thu hồi
hoặc xoa nợ.
Két
quả
là,
cả
những
sự so
sánh
bên
Ương
và bên
ngoài
đều
không
có
hiệu
quả
Hơn
nữa,
mang
tính cá nhân
đời
với
các
vấn
đề
chất
lượng
tài
sản.
Các
chỉ
tiêu
đánh
giá
chất lượng
tài
sản
(1)
Tỷ
lệ
dự phòng
Tỷ
lệ
dự phòng =
Lợi
nhuận
trước
thuế,
Dư nợ bình quân
Mức
chất
lượng
của
chỉ
tiêu:
tời
đa 1%
Ý
nghĩa của chỉ
tiêu:
Chi
phí dự phòng
tổn
thất
nợ
trong
một năm
phản
ánh
những
thay đổi
trong
chất
lượng
cũng
như
qui
mô của
bị quá hạn
trả
từ
90 ngày
trờ
lên.
Mức
chất
lượng
của
chỉ
tiêu:
> Ì
Ý
nghĩa
của chỉ
tiêu:
Hệ
thờng
các ngân hàng thành viên của BIS đều
định
nghĩa
nợ
xấu là khoản
nợ đã quá
hạn
từ
90 ngày
trở
lên.
khoản
dự phòng thích họp
bởi
tài khoản
dự
trữ
tổn
thất
nợ,
dự
trữ
này
cộng dồn
có
thể lớn
hơn
cả
các
khoản
nợ
xấu bằng
một
tỉ
lệ
biên
thích
họp.
(4)
Tỉ
lệ
trong
tổng
dư nợ của ngân
hàng.
Con số mông
muốn
là 1,5%. Tuy
nhiên,
cũng
như
bất
kỳ
chỉ
tiêu
nào,
xu hướng vẫn
là yếu
tố
quan
trọng
nhất
để
quan
sát.
Chỉ
tiêu
này càng cao
thì
càng đòi
hỏi
phần
trăm các
khoản
nợ
có
vấn
đề
trong
tổng tài
sản.
Nhược
điểm
của
chỉ
tiêu:
Tương
tự
như
vậy,
việc
tính toán các
chỉ
tiêu
được
giả
đinh
là
các thông
tin
về
trong
hoạt
động
của
ngân hàng.
Nếu
cho vay
chiếm
tỉ
trọng
lớn
trong
tổng
tài sản
có
nghĩa
mức độ
tập
trung
tín
dụng
lớn.
Ngược
lại,
nếu
ngân hàng có
tỉ
trọng
dư nợ
tín dụng
đầu
kỳ
Tốc
độ tăng
trưởng
tín dụng của
ngân hàng được xem
xét
trong
mối
tương
quan
với
giai
đoạn phát
triển
của
ngân hàng và
tốc
độ tăng trưởng
tín dụng
của
cả hệ
thống
ngân hàng do Ngân hàng
Trung
ương
khống chế
hàng năm.
(8)