Đầu tư phát triển tại Tổng Công ty Viễn thông Quân đội - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
*** Nguyễn Duy Đức
Đầu tư phát triển tại Tổng Công ty Viễn
thông Quân đội Chuyên ngành : Kinh doanh và quản lý
Mã số : 60 34 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KIN DOANH VÀ QUẢN LÝ
1.2.6 Đầu tư hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng 9
1.2.7 Đầu tư tiếp thị và xúc tiến tiêu thụ sản phẩm 10
1.2.8 Đầu tư xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm 11
1.3 KẾT QUẢ VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
TRONG DOANH NGHIỆP 12
1.3.1 Kết quả đầu tư phát triển 12
1.3.2 Hiệu quả đầu tư phát triển 14
1.3.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính, kinh tế xã hội 14

1.4 CÁC NHÂN TỐ XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ VÀ HIỆU
QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG DOANH NGHIỆP
VIỄN THÔNG 18
CHƯƠNG II: 23
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TẠI TỔNG
CÔNG TY VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI GIAI ĐOẠN 2003-2007 23
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỔNG CÔNG TY VIỄN THÔNG QUÂN
ĐỘI 23
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 23
2.1.2 Cơ cấu tổ chức hoạt động của Tổng Công ty viễn thông Quân đội 26
2.2 THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TẠI TỔNG CÔNG TY VIỄN
THÔNG QUÂN ĐỘI GIAI ĐOẠN 2003-2007 27
2.2.1 Quy mô vốn đầu tư phát triển 27
2.2.2 Nguồn vốn đầu tư phát triển của TCTVTQĐ 30
2.2.3 Nội dung đầu tư phát triển tại TCTVTQĐ trong thời gian qua 32
2.2.3.1 Đầu tư cho máy móc, thiết bị, công nghệ 35
2.2.3.2. Đầu tư nghiên cứu thị trường 42
2.2.3.3 Đầu tư đa dạng dịch vụ cung cấp cho khách hàng 45
2.2.3.4 Đầu tư vật tư phụ lắp đặt các công trình 48
2.2.3.5 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực 49
2.2.3.6 Đầu tư hoàn thiện hệ thống quản lý 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Đầu tư nói chung là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt
động nào đó nhằm thu hút về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các
nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Như vậy, mục tiêu của mọi công
cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hi sinh về nguồn lực mà
người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư.
Trong lĩnh vực quản lý hoạt động đầu tư phát triển doanh nghiệp, tỷ suất lợi
nhuận trên vốn của các doanh nghiệp nói chung có chiều hướng giảm, tình trạng
làm thất thoát, lãng phí vốn đầu tư khá phổ biến và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
phát triển doanh nghiệp giảm, đang trở thành vấn đề cần quan tâm tháo gỡ hiện nay.
Do vậy, một trong những vấn đề cần thiết hiện nay là tìm ra những nguyên nhân và
giải pháp hữu hiệu để đầu tư phát triển doanh nghiệp tại các doanh nghiệp nói
chung cũng như của Tổng Công ty viễn thông Quân đội nói riêng hiệu quả.
Xuất phát từ sự cần thiết đó, đề tài: “Đầu tư phát triển tại Tổng Công ty viễn
thông Quân đội” được lựa chọn làm luận văn thạc sỹ.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Một là, nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những vấn đề về đầu tư và đầu tư phát
triển của ngành viễn thông Việt Nam nói chung và Tổng công ty viễn thông Quân
đội nói riêng, trên cơ sở đó trình bày nhận thức mới về khái niệm, hệ thống chỉ tiêu,
các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến đầu tư phát triển.Hai là, nghiên cứu thực trạng
đầu tư và đầu tư phát triển của Tổng Công ty viễn thông quân đội(Viettel).Ba là,
đưa ra những quan điểm cơ bản và những giải pháp chủ yếu cho hoạt động đầu tư
phát triển của viettel. Đánh giá hiệu quả của đầu tư
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Là hiệu quả đầu tư phát triển của Tổng công ty viễn
thông Quân đội.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề về hoạt động
đầu tư phát triển của doanh nghiệp nói chung, đồng thời nghiên cứu thực trạng và

LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TẠI DOANH NGHIỆP
1.1. BẢN CHẤT ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm
Có nhiều cách hiểu khác nhau về đầu tư xét trên phạm vi quốc gia:
Theo nghĩa rộng: Đầu tư là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành
các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong
tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó.
Nguồn lực ở hiện tại có thể là: Tiền, tài nguyên thiên nhiên, thời gian sức lao
động và trí tuệ. Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản
vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất
cao hơn trong nền sản xuất xã hội.
Theo nghĩa hẹp: Đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực
ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong tương lai lớn
hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó.
Như vậy, nếu xét trên phạm vi quốc gia thì chỉ có những hoạt động sử dụng
nguồn lực ở hiện tại để trực tiếp làm tăng các tài sản vật chất, nguồn nhân lực và tài
sản trí tuệ như: Xây dựng nhà cửa, vật kiến trúc, mua sắm máy móc thiết bị phục vụ
cho sản xuất, đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học công nghệ…hoặc duy
trì sự hoạt động của các tài sản và nguồn nhân lực sẵn có thì mới thuộc phạm trù
đầu tư theo nghĩa hẹp hay đầu tư phát triển.
Ngoài ra, có thể hiểu đầu tư phát triển như sau: Đầu tư phát triển là hoạt động
sử dụng các nguồn lực tài chính nguồn lực vật chất, nguồn lực và trí tuệ để xây
dựng nhà cửa và cấu trúc hạ tầng, mua sắm máy móc, thiết bị và lắp đặt chúng trên
nền bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền
với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực cho các tà sản đang tồn
- 2 -

tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế- xã hội, tạo việc làm và nâng cao đời sống
cho mọi thành viên trong xã hội.
1.1.2 Những đặc điểm của hoạt động đầu tƣ phát triển

tạo dựng nên. Do đó, các điều kiện về địa lý địa hình tại đó ảnh hưởng đến quá trình
thực hiện đầu tư cũng như tác dụng sau này của các kết quả đầu tư.
Thứ tư: Đầu tư phát triển là hoạt động mang tính rủi ro.
Hoạt động đầu tư phát triển một mặt phải sử dụng một số vốn lớn ở hiện tại,
mặt khác lại phải thực hiện hoàn vốn và hi vọng đem lại lợi ích trong một thời gian
tương đối dài. Chính vì vậy, hoạt động này chịu tác động của rất nhiều yếu tố bất
định thay đổi theo thời gian, không gian mà chủ đầu tư không thể biết trước được
một cách chắc chắn, tác động của các yếu tố này có thể có lợi hoặc bất lợi đối với
chủ đầu tư. Do đó, để tránh những yếu tố bất lợi có thể tác động đến công cuộc đầu
tư đòi hỏi chủ đầu tư phải tính toán kỹ lưỡng trước khi tiến hành công cuộc đầu tư
và có các phương án dự phòng nếu xảy ra những tình huống không thuận lợi để có
được một phương án đầu tư an toàn và có hiệu quả vững chắc. Tức là phải làm tốt
công tác chuẩn bị đầu tư và sự chuẩn bị này được thể hiện trong việc soạn thảo các
dự án đầu tư đảm bảo chất lượng tốt.
1.1.3 Phân loại đầu tƣ phát triển doanh nghiệp
Hoạt động đầu tư có nhiều tiêu thức khác nhau, mỗi tiêu thức phân loại đáp
ứng nhu cầu quản lý và nghiên cứu kinh tế, thường được sử dụng là:
Theo bản chất của đối tƣờng đầu tƣ, hoạt động đầu tư bao gồm đầu tư cho
các đối tượng vật chất (đầu tư tài sản vật chất hoặc tài sản thực như nhà xưởng, máy
móc, thiết bị ) và đầu tư cho các đối tượng phi vật chất (đầu tư tài sản trí tuệ và
nguồn nhân lực như đào tạo, nghiên cứu khoa học, y tế, viễn thông…).
Trong các hoạt động trên đây, đầu tư đối tượng vật chất là điều kiện tiên
quyết, cơ bản làm tăng tiềm lực của doanh nghiệp, đầu tư tài chính là điều kiện quan
trọng để thu hút nguồn vốn từ ngoài doanh nghiệp cho đầu tư các đối tương vật
- 4 -

chất, còn đầu tư tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực là điều kiện tất yếu đảm bảo đầu tư
cho các đối tượng vật chất tiến hành thuận lợi, đạt hiệu quả kinh tế.
Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng để thu hồi đủ vốn đã bỏ ra
của các kết quả đầu tƣ, có thể phân chia hoạt động đầu tư thành đầu tư ngắn hạn

trình độ kỹ thuật cao hơn, tiên tiến hơn; nâng cấp hiện đại hóa những máy móc,
thiết bị hiện có. Hoạt động đầu tư cho máy móc, thiết bị, công nghệ làm tăng khả
năng máy móc thiết bị, nâng cao trình độ công nghệ của doanh nghiệp. Việc đầu tư
mua sắm máy móc thiết bị hiện đại hơn những thiết bị hiện có và hiện đại hơn mức
bình quân hiện có của ngành mới có tác dụng thiết thực đối với việc nâng cao mức
chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Hoặc doang nghiệp có thể cải tiến công
nghệ của mình trên cơ sở tận dụng những máy móc thiết bị hiện có, chỉ cần đầu tư
đổi mới hiện đại hóa ở những khâu quan trọng trong quy trình sản xuất sản phẩm
cũng là một giải pháp quan trọng nâng cao mức chất lượng sản phẩm tạo ra. Thông
thường công nghệ hiện đại và tiên tiến hơn đòi hỏi phần cứng của nó phải là những
máy móc thiết bị hiện đại hơn và phần mềm cũng phải đổi mới tương ứng. Tức là,
khi nâng cao trình độ công nghệ của mình doanh nghiệp thường phải mua sắm
những máy móc thiết bị mới tiên tiến, hiện đại hơn.
Tuy nhiên, khi đầu tư mua sắm máy móc thiết bị doanh nghiệp không chỉ căn
cứ duy nhất vào mức độ tiến triển của máy móc thiết bị ấy mà còn phải căn cứ vào
phần mềm của công nghệ đi kèm; trình độ cần thiết của máy móc vận hành, điều
kiện sử dụng, điều kiện bảo dưỡng và thay thế khi có những chi tiết bộ phận hỏng,
khả năng tài chính của doanh nghiệp. trong nhiều trường hợp, các doanh nghiệp chỉ
chú trọng mua sắm những máy móc thiết bị tiên tiến hiện đại mà không căn cứ vào
trình độ nguồn nhân lực và các điều kiện sử dụng khác dẫn đến lãng phí, kém hiệu
quả và không đạt được mức chất lượng như mong muốn. Chính vì vậy, bên cạnh
phần cứng là những máy móc thiết bị hiện đại thì phần mềm là: con người, phương
pháp, quy trình vận hành và các điều kiện khác…cũng phải tương xứng mới có thể
- 6 -

đảm bảo nâng cao trình độ công nghệ hiện có của doanh nghiệp và nâng cao chất
lượng sản phẩm.
Với một dự án đầu tư mua sắm máy móc thiết bị của nước ngoài các doanh
nghiệp phải đặc biệt quan tâm đến vấn đề chuyển giao công nghệ. Bởi phần chuyển
giao công nghệ đi kèm chất lượng sản phẩm. Có những tính nẵng sản phẩm chỉ có

Sau khi xác định được đặc điểm, tính chất nhu cầu của người tiêu dùng về một
loại sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó, trên cơ sở đó bước tiếp theo của doanh nghiệp
là xác định những thuộc tính cho sản phẩm dự tính sẽ tung ra thị trường: trong bước
này doanh nghiệp phải thiết kế kiểu dáng, mẫu mã, xác định các chỉ tiêu kinh tế- kỹ
thuật cần phải đạt được cho sản phẩm; sản phẩm viễn thông thể hiện dưới dạng dịch
vụ. Viettel biết rằng mối khách hàng lại luôn có nhu cầu, sở thích khác nhau, do đó
nghiên cứu để hiểu biết đặc điểm của khách hàng đóng một vai trò rất quan trọng
đối với người kinh doanh dịch vụ viễn thông.
Do đó, sản phẩm của viễn thông không phải là vật chất cụ thể tồn tại ngoài quá
trình sản xuất nên sản phẩm bưu chính không thể đưa vào cất giữ lưu kho, không
lưu trữ, không chấp nhận phế phẩm hay chính phẩm vì không thể loại trừ sản phẩm
xấu nếu như có một lỗi nào đó trong quá trình sản xuất
1.2.4 Đầu tƣ vật tƣ phụ lắp đặt công trình
Chất lượng vật tư phụ lắp đặt công trình là chi tiết nhỏ nhưng ảnh hưởng của
nó đến toàn bộ công trình là rất lớn, tính đồng bộ trong vật tư, phụ kiện lắp đặt đòi
hỏi rất cao, phát huy tác dụng tốt nhất cho mọi công trình, đòi hỏi đúng quy trình
hợp chuẩn vật tư trong ngành viễn thông quy định của Tổng cục bưu điện năm
2000. Hàng năm các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông đều dành những khoản vốn
nhất định cho đấu tư vật tư phụ để lắp đặt mới, sửa chữa thay thế các công trình,
trước khi đưa vào lắp đặt đều phải có chứng nhận hợp chuẩn của bộ Bưu chính viễn
thông hoặc Tổng cục bưu điện.
- 8 -

1.2.5 Đầu tƣ phát triển nguồn nhân lực
Hoạt động này bao gồm: đầu tư nâng cao hiệu quả công tác tuyển dụng lao
động trong doanh nghiệp; đầu tư cho việc đào tạo và đào tạo lại, bồi dưỡng và nâng
cao trình độ tay nghề cho công nhân, trình độ chuyên môn, quản lý cho các cán bộ
kỹ thuật và cán bộ quản lý; nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện làm việc cho
người lao động trong doanh nghiệp, động viên khuyến khích người lao động trong
doanh nghiệp phát huy khả năng sáng tạo, nâng cao trình độ tay nghề qua chế độ

dùng, vì vậy công tác quản lý chất lượng là nhiệm vụ mang tính chiến lược của bất
kỳ doanh nghiệp viễn thông nào trong thời kỳ hiên nay.
Chất lượng sản phẩm là một phạm trù kinh tế phức tạp. Có rất nhiều định
nghĩa về chất lượng sản phẩm. Nhìn chung chất lượng sản phẩm có thể hiểu là tổng
hợp các thuộc tính của sản phẩm có khả năng thỏa mãn những nhu cầu phù hợp với
công dụng của sản phẩm, hay chất lượng sản phẩm là sự phù hợp với yêu cầu của
khách hàng, như vậy chất lượng sản phẩm được xác định bởi khách hàng.
Chất lượng hoạt động viễn thông là đặc trưng tổng quát của hoạt động doanh
nghiệp, tổ chức viễn thông và của những người lao động theo hàng loạt các tham số
về kỹ thuật, sản xuất khai thác, về kinh tế, xã hội, về tâm lý đạo đức. Chất lượng
hoạt động viễn thông phụ thuộc vào một tập hợp các yếu tố bên ngoài và bên trong.
Nó được xác định bằng các điều kiện kinh tế- tài chính của ngành viễn thông, bằng
trình độ kỹ thuật của các phương tiện thông tin, bằng việc tổ chức sản xuất, bằng
trạng thái mạng lưới kết nối các điểm thông tin, bằng kỹ thuật khai thác, thiết bị và
công trình viễn thông, bằng việc đạt được các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong các
công nghệ và hệ thống truyền thông, bằng hiệu quả sử dụng các nguồn lực, nhân
lực, vật lực và tài chính, bằng yêu cầu của người tiêu dùng đối với số lượng và chất
lượng dịch vụ và mức độ thỏa mãn các yêu cầu đó. Chất lượng hoạt động viễn
thông được đặc trưng bằng các chỉ tiêu đánh giá các chức năng của sản phẩm, tạo
điều kiện thuận lợi cho việc thỏa mãn các nhu cầu của người tiêu dùng về mức độ
nhanh chóng, chính xác của việc truyền đưa các thông tin, cũng như các chỉ tiêu
- 10 -

phản ánh quá trình phục vụ người tiêu dùng như mức tiếp cận, sự tiện lợi của việc
sử dụng các phương tiện thông tin, mức độ đáp ứng nhu cầu về dịch vụ, văn hóa và
thái độ phục vụ.
Chất lượng dịch vụ viễn thông được thể hiện ở các chỉ tiêu như tốc độ truyền
thông tin, độ chính xác của việc truyền đưa, độ khôi phục tin tức và hoạt động ổn
định của các phương tiện thông tin.
Mức độ phổ cập các phương tiện thông tin và mức độ thỏa mãn các nhu cầu

lợi cho doanh nghiệp mà có lợi đối với cả người tiêu dùng.
1.2.8 Đầu tƣ xây dựng và phát triển thƣơng hiệu sản phẩm
Ngày nay, thương hiệu trở thành tài sản vô hình rất có giá trị đối với doanh
nghiệp. Nó thể hiện uy tín nhãn hiệu sản phẩm, niềm tin của khách hàng đối với sản
phẩm của doanh nghiệp. Một khi đã tạo dựng được thương hiệu mạnh cho mình thì
sản phẩm của doanh nghiệp mặc nhiên sẽ được người tiêu dùng tin cậy và đánh giá
cao. Để không ngừng phát triển thương hiệu sản phẩm của mình doanh nghiệp cần
phải đăng ký nhãn hiệu và sản phẩm của doanh nghiệp cần phải được công nhận bởi
các tổ chức có uy tín về việc bảo đảm các chỉ tiêu chất lượng theo tiêu chuẩn quốc
gia hoặc quốc tế, đồng thời doanh nghiệp phải không ngừng quảng bá thương hiệu
của mình qua các hội chợ hay triển lãm cả ở thị trường trong nước và ngoài nước.
Như vậy, hoạt động đầu tư phát triển doanh nghiệp bao gồm rất nhiều nội
dung, mỗi nội dung đều có vai trò và tác động khác nhau đến thành công của doanh
nghiệp. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp cần phải thực hiện một cách đầy đủ và hợp
lý những nội dung trên mới đảm bảo hiệu quả của hoạt động kinh doanh này, thực
hiện tốt tăng trưởng kinh tế của doanh nghiệp.
- 12 -

1.3 KẾT QUẢ VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN
TRONG DOANH NGHIỆP
1.3.1 Kết quả đầu tƣ phát triển
Khối lượng vốn đầu tư thực hiện là tổng số tiền đã chi để tiến hành các hoạt
động của các công cuộc đầu tư bao gồm các chi phí cho công tác xây lắp, chi phí
cho công tác mua sắm thiết bị và các chi phí khác theo quy định của thiết kế dự toán
và được ghi trong dự án đầu tư được duyệt. Khối lượng vốn đầu tư thực hiện được
tính như sau:
Đối với công tác mua sắm máy móc thiết bị: Khối lượng vốn đầu tư thực
hiện được tính theo công thức sau:
Iv
XL





 

Trong đó:
C
i
: Giá trị của khoản mục chi phí khác thứ i thuộc nhóm chi phí, lệ
- 13 -

phí tính theo định mức tỉ lệ %.
C
j
: Giá trị của khoản mục chi phí khác thứ j thuộc nhóm chi phí tính
bằng cách lập dự toán.
VAT : Thuế giá trị gia tăng của các chi phí khác
Tài sản cố định huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm.
Tài sản cố định huy động là công trình hay hạng mục công trình, đối tượng
xây dựng có khả năng phát huy tác dụng độc lập đã kết thúc quá trình xây dựng,
mua sắm, đã làm xong thủ tục nghiệm thu sử dụng, có thể đưa vào hoạt động được
ngay.
Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm là khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất,
phục vụ của các tài sản cố định đã được huy động vào sử dụng để sản xuất ra sản
phẩm hoặc tiến hành các hoạt động dịch vụ theo quy định được ghi trong dự án đầu
tư.
Giá trị các tài sản cố định được huy động trong kỳ nghiên cứu được tính theo
công thức:
F = I

I
Vo
: Vốn đầu tư được thực hiện của các đối tượng,
hạng mục công trình đã được huy động.
C: Các chi phí không làm tăng giá trị tài sản cố định
1.3.2 Hiệu quả đầu tƣ phát triển
Khái niệm: Hiệu quả đầu tư là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa
các kết quả đạt được của hoạt động đầu tư với các chi phí phải bỏ ra để có các kết
quả đó trong một thời kỳ nhất định.
Hiệu quả tài chính của hoạt động đầu tư: là mức độ đáp ứng nhu cầu phát triển
hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và nâng cao đời sống của người lao động
trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ trên cơ sở vốn đầu tư mà đơn vị sử
dụng so với các kỳ khác, các cơ sở khác hoặc so sánh với định mức chung. Hiệu
quả tài chính của hoạt động đầu tư được tính toán qua công thức:
Các kết quả mà cơ sở thu được do thực hiện đầu tư
Số vốn đầu tư mà cơ sở đã thực hiện để tạo ra các kết quả trên
1.3.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính, kinh tế xã hội
Chỉ tiêu hiệu quả tài chính
 Sản lượng(hoặc doanh thu) tăng thêm tính trên vốn đầu tư phát triển của doanh
nghiệp (H
o
). Đối với các doanh nghiệp viễn thông, sản lượng có thể được tính toán
theo số lượng khác hàng(khách hàng), Số lượng thuê bao phát triển(số lượng/thời
gian), lưu lượng giữa các cuộc gọi dịch vụ(giây, phút, giờ /ngày, tháng, năm).
E
TC
=
- 15 -

H

i
Trong đó:
H
o
: Hệ số gia tăng lợi nhuận của năm thứ i
∆W
i
: Giá trị lợi nhuận tăng thêm trong kỳ
I
i
: Giá trị vốn đầu tư phát triển trong kỳ.
Chỉ tiêu H
p
cho biết, một đơn vị vốn đầu tư phát triển tạo ra bao nhiêu đồng lợi
nhuận. Kết quả tính toán chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ hiệu quả của hoạt động đầu
tư phát triển của doanh nghiệp ngày càng cao.
 Hệ số huy động tài sản cố định tính trên vốn đầu tư phát triển (H
A
):
H
A
=
∆A
i
I
i
Trong đó:
- 16 -

H

động quản lý; Các tác động đến môi trường sinh thái…Cách xác định một số chỉ
tiêu chính đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động đầu tư là: - 17 -

 Mức đóng góp vào ngân sách của một đồng vốn đầu tư phát triển (H
SB
):
H
SB
=
∆SB
i
I
i
Trong đó:
H
SB
: Hệ số gia tăng mức đóng góp vào NSNN
∆SB
i
: Giá trị đóng góp NSNN tăng thêm năm thứ i
I
i
: Giá trị vốn đầu tư phát triển trong kỳ.
Chỉ tiêu H
SB
cho biết, một đơn vị vốn đầu tư phát triển tạo ra bao nhiêu đồng
NSNN. Kết quả tính toán chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ mức đóng góp vào ngân

- 18 -

phẩm cùng loại tại thị trường này. Kết quả tính toán chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ
doanh nghiệp chiếm lĩnh được một thị phần cao và hiệu quả của hoạt động đầu tư
phát triển của doanh nghiệp càng lớn.
1.4 CÁC NHÂN TỐ XÃ HỘI ẢNH HƢỞNG ĐẾN KẾT QUẢ VÀ HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN TRONG DOANH NGHIỆP VIỄN
THÔNG
Đầu tư phát triển đóng vai trò quan trọng và là một bộ phận không thể tách rời
đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Đầu tư phát triển
thường đòi hỏi một lượng vốn lớn, thời gian đầu tư kéo dài và kết quả đầu tư phát
huy tác dụng lâu dài trong cả thời kỳ vận hành. Do vậy kết quả đầu tư và hiệu quả
đầu tư không thể tách rời với hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp và chịu ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp từ các nhân tố như quyết định đầu
tư; doanh thu, chi phí vận hành của dự án đầu tư; thời gian vận hành của dự án đầu
tư; giá trị còn lại của dự án đầu tư; thuế suất; lãi suất, tỷ giá hối đoái liên quan tới
dự án đầu tư…Bên cạnh đó, bản thân các nhân tố tác động tới kết quả và hiệu quả
đầu tư nêu trên lại bị rất nhiều yếu tố khách quan hoặc chủ quan khác tác động theo
mô hình như sau:
Hình 1.1: Cơ chế tác động tới kết quả và hiệu quả đầu tƣ Các yếu tố
khách quan

tích cực tới kết quả đầu tư và nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển của doanh nghiệp.
Có thể kể ra các yếu tố kinh tế chủ yếu có tác động lớn tới hoạt động sản xuất
kinh doanh cũng như hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp viễn thông là:Môi
trường hoạt động kinh doanh, môi trường đầu tư quốc tế và trong nước, mức tăng
trưởng chung của kinh tế thế giới và kinh tế trong nước, sự tăng trưởng của thị
trường du lịch quốc tế và trong nước, thu nhập bình quân đầu người trong nước, sự
phát triển của các loại hình dịch vụ viễn thông….
Các yếu tố văn hóa xã hội tác động tới quy mô thị trường của các doanh
nghiệp viễn thông nói chung và dịch vụ di động nói riêng được thể hiện ở quy mô
dân số, thu nhập bình quân đầu người, phân bố dân số giữa các vùng miền, cơ cấu
dân số theo độ tuổi, tập quán văn hóa của dân tộc, mức sống…Bên cạnh đó cũng
phải kể đến các yếu tố dịch bệnh, thông tin sai lệch về sự ảnh hưởng của viễn thông
đến sức khỏe con người, nguy cơ tiềm ẩn làm suy giảm mạnh thị trường viễn thông.
Ví dụ, dự kiến trong giai đoạn 2008-2012, tăng trưởng kinh tế của nước ta ở
mức với nhịp độ tương đối cao và ổn định, mức GDP bình quân đạt 8-8,5%/năm,
quy mô dân số Việt Nam đến năm 2012 sẽ lên tới 125 triệu người với mức thu nhập
bình quân đạt 1.500USD/người. Đây là một trong những yếu tố kinh tế xã hội có

Trích đoạn Cơ cấu tổ chức hoạt động của Tổng Công ty viễn thông Quân đội
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status