ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ LƯU ANH TUẤN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
DU LỊCH HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
DU LỊCH HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60 34 05
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Nguyễn Thị Kim Chi Hà Nội - Năm 2009
lĩnh vực du lịch……………………………………………………….54
2.3.8. Nguån nh©n lùc du lÞch………………………………………………58
2.4. Đánh giá chung…………………………………………………………59
2.4.1. Một số kết quả đạt được trong hoạt động phát triển du lịch 59
2.4.2. Hạn chế…………………………… ………………………… ……61
CHƯƠNG 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN
DU LỊCH HÀ NỘI… …64
3.1. Những xu thế phát triển và một số dự báo chủ yếu
của du lịch thế giới và khu vực. … ………………………………….64
3.1.1. Xu thế phát triển của du lịch thế giới……………………………… 64
3.1.2. Một số dự báo thị trường du lịch thế giới và khu vực ASEAN 66
3.2. Dự báo phát triển du lịch Hà Nội đến năm 2020 69
3.2.1. Định hướng phát triển du lịch Hà Nội đến 2020……………………69
3.2.2. Mục tiêu chiến lược phát triển du lịch Hà Nội đến năm 2020 …….70
3.2.3. Một số chỉ tiêu phát triển du lịch Hà Nội đến năm 2020 71
3.3. Giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện mục tiêu phát triển
du lịch Hà Nội đến năm 2020…………………… ………………… 76
3.3.1. Giải pháp về phía cơ quan quản lý nhà nước…………….………….76
3.3.2. Giải pháp về phía doanh nghiệp du lịch của Hà Nội…… ……… 87
3.3.3. Đề xuất và kiến nghị………… ………………………………….… 95
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO………….…………………………… ………… 102
PHỤ LỤC…………………………………………… …………………… 105 1
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Các nước thuộc cộng đồng các quốc gia độc lập
10
TW
Trung ương
11
UBND
Ủy ban nhân dân
12
USD
Đô la Mỹ
13
UNESCO
Tổ chức giáo dục khoa học và văn hoá của Liên hợp quốc
14
UNWTO
Tổ chức du lịch thế giới
15
VAT
Thuế giá trị gia tăng
16
WTO
Tổ chức thương mại thế giới 2
DANH MC BNG
Trang
Bng 2.1. Kt qu kinh doanh Du lch 51
Bng 2.2. L-ợng khỏch du lch quc t n H Ni
v Vit Nam thi k 2003 2007 52
với nhân dân thế giới, góp phần tạo nền tảng vững chắc cho việc duy trì hoà bình
và hợp tác quốc tế.
Bắt nhịp vào xu hướng phát triển du lịch của cả nước, hoạt động du lịch của
Hà Nội trong những năm qua đã đạt được những hiệu quả kinh tế - xã hội bước
đầu đã góp phần cho kinh tế vùng phát triển, dân trí được nâng cao, tạo ra nhiều
công ăn việc làm cho nhân dân thủ đô, góp phần gìn giữ bản sắc văn hoá, bảo vệ
môi trường sinh thái, gìn giữ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Kết quả đó
đã thể hiện sự nhất quán giữa nhận thức và hành động, thể hiện sự quan tâm chỉ
đạo của Thành phố và Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch. Tuy nhiên, trong thời gian
qua tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến động, ảnh hưởng trực tiếp tới
phát triển du lịch, mặt khác bắt đầu từ ngày 1 tháng 8 năm 2008 Hà Nội được mở
rộng lãnh thổ, Hà Tây sát nhập vào Hà Nội, đặt cho ngành du lịch của Thành phố
4
trước những thách thức mới. Thực tế, trong thời gian qua hoạt động của du lịch Hà
Nội đã có kết quả tốt, tuy nhiên, kết quả đó chưa tương xứng với tiềm năng và yêu
cầu nhiệm vụ mới đề ra, đó là phát triển nhanh du lịch trở thành ngành kinh tế
mũi nhọn trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng gia tăng.
Trong hoàn cảnh hiện tại, hoạt động du lịch của Hà Nội thực sự cần những
giải pháp toàn diện và đồng bộ để mở đường định hướng và thực thi đổi mới hoạt
động du lịch của Thành phố và đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao. Xuất phát từ
những tiếp cận đó, tôi đã chọn đề tài “Một số giải pháp phát triển du lịch Hà
Nội” làm đề tài luận văn thạc sỹ ngành Quản trị kinh doanh.
2. Tình hình nghiên cứu
Thời gian qua, ở nước ta cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về du lịch
như:
- "Đào tạo Marketing và xúc tiến du lịch bền vững ở Việt nam". Đề tài của
Viện nghiên cứu phát triển du lịch thuộc Tổng Cục Du lịch.
- "Nghiên cứu và đánh giá một số đặc điểm của thị trường Nhật Bản và Trung
phục những tồn tại, thúc đẩy phát triển tiềm năng du lịch nơi đây, thu hút khách du
lịch cho một địa phương có rất nhiều địa điểm du lịch hấp dẫn như Hà Nội. Đặc
biệt trong tình hình Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới
WTO vào tháng 11-2006, và Hà Tây sát nhập vào Hà Nội vừa qua, sẽ có nhiều vấn
đề mới liên quan, tác động đến du lịch nước ta nói chung và du lịch Hà Nội nói
riêng
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển du lịch Hà Nội. Phân
tích đánh giá và chỉ rõ nguyên nhân, tiềm năng phát triển ngành du lịch của Hà
6
Nội trong bối cảnh tiếp tục đổi mới và hội nhập quốc tế. Từ đó, đưa ra các giải
pháp để phát triển du lịch Hà Nội trong điều kiện mới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là hoạt động du lịch của Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu là thực trạng phát triển du lịch Hà Nội từ năm 2003 -
2007, làm cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp nhằm phát triển du lịch Hà Nội
trong thời gian tới
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử là chủ
yếu, ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như: Phương pháp thống kê so
sánh, Phương pháp phân tích hệ thống, Phương pháp quy nạp cùng một số biểu,
bảng, tài liệu tham khảo để nhìn nhận giải pháp đang nghiên cứu một cách thống
nhất, xâu chuỗi, phân tích giải pháp trong mối quan hệ tác động giữa các yếu tố
khác nhau.
6. Những đóng góp mới của luận văn
1.1.1.1 Tiếp cận du lịch dưới góc độ nhu cầu của con người.
Du lịch là một hiện tượng: Trước thế kỷ XIX, đến tận đầu thế kỷ XX du lịch
hầu như vẫn được coi là đặc quyền của tầng lớp giầu có và người ta chỉ coi đây
như là một hiện tượng cá biệt trong đời sống kinh tế - xã hội. Đó là hiện tượng con
người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên để đến một nơi xa lạ vì nhiều mục đích
khác nhau ngoại trừ mục đích tìm kiếm việc làm (kiếm tiền) và trong thời gian đó
họ phải tiêu tiền mà họ đã kiếm được. Các giáo sư Thụy Sỹ là Huziker và Krapf đã
khái quát: Du lịch là tổng hợp các hiện tượng và các mối quan hệ phát sinh từ việc
đi lại và lưu trú của người ngoài địa phương - những người không có mục đích
định cư và không liên quan tới bất cứ hoạt động kiếm tiền nào. Với quan niệm du
lịch này mới chỉ được giải thích ở hiện tượng đi du lịch. Tuy nhiên đây cũng là
một khái niệm làm cơ sở để xác định người đi du lịch và là cơ sở hình thành cầu
về du lịch sau này.
9
Du lịch là một hoạt động: Theo Mill và Morrison, du lịch là một hoạt động
xảy ra khi con người vượt qua biên giới (một nước, hay ranh giới một vùng, một
lĩnh vực) để nhằm mục đích giải trí hoặc công vụ và lưu trú tại đó ít nhất 24 giờ
nhưng không quá một năm. Như vậy có thể xem xét du lịch thông qua những hoạt
động đặc trưng mà con người mong muốn trong các chuyến đi. Du lịch có thể
được hiểu là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình
nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất
định.
Du lịch dưới góc độ là khách du lịch. Một quan niệm khác xem xét khái niệm
và bản chất của du lịch dưới góc độ người đi du lịch. Theo cách tiếp cận này, nhà
kinh tế học người Anh, Ogilvie quan niệm khách du lịch là tất cả những người
thỏa mãn điều kiện rời khỏi nơi ở thường xuyên trong một khoảng thời gian dưới
một năm và chỉ tiêu tiền bạc tại nơi họ đến thăm mà không kiếm tiền ở đó". Khái
niệm này chưa hoàn chỉnh vì nó chưa làm rõ được mục đích của người đi du lịch
và qua đó để phân biệt được với những người cũng rời khỏi nơi cư trú của mình
đó là ngành du lịch. Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch năm 1971 cũng đi đến
thống nhất cần phải quan niệm rộng rãi ngành du lịch như là người đại diện cho
tập hợp các hoạt động công nghiệp và thương mại cung ứng toàn bộ hoặc chủ yếu
các hàng hoá và dịch vụ cho tiêu dùng của khách du lịch quốc tế và nội địa. Như
vậy, khi tiếp cận du lịch với tư cách là một hệ thống cung ứng các yếu tố cần thiết
trong các hành trình du lịch thì du lịch được hiểu là một ngành kinh tế cung ứng
các hàng hoá và dịch vụ trên cơ sở kết hợp giá trị các tài nguyên du lịch nhằm thoả
mãn nhu cầu và mong muốn đặc biệt của du khách.
1.1.1.3. Tiếp cận du lịch một cách tổng hợp.
Các quan niệm đều tiếp cận du lịch dưới góc độ một hiện tượng, một hoạt
động với các yếu tố tách biệt. Với cố gắng xem xét du lịch một cách toàn diện hơn
các tác giả Mcintosh và Goeldner cho rằng cần phải cân nhắc tất cả các chủ
11
thể(thành phần) tham gia vào hoạt động du lịch mới có thể khái niệm và hiểu được
bản chất của du lịch một cách đầy đủ. Các chủ thể đó bao gồm:
Khách du lịch: Đây là những người tìm kiếm các kinh nghiệm và sự thoả
mãn về vật chất hay tinh thần khác nhau. Bản chất của du khách sẽ xác định các
nơi đến du lịch lựa chọn và các hoạt động tham gia, thưởng thức
Các doanh nghiệp cung cấp hàng hoá và dịch vụ du lịch : Các nhà kinh
doanh coi du lịch là một cơ hội để kiếm lợi nhuận thông qua việc cung cấp các
hàng hoá và dịch vụ nhằm đáp ứng cho nhu cầu của thị trường khách du lịch.
Chính quyền sở tại: Những người lãnh đạo chính quyền địa phương nhìn
nhận du lịch như là một nhân tố có tác dụng tốt cho nền kinh tế thông qua triển
vọng về thu nhập từ các hoạt động kinh doanh của dân địa phương, ngoại tệ thu
được từ khách quốc tế và tiền thực thu được cho ngân quỹ một cách trực tiếp hoặc
gián tiếp.
Dân cư địa phương: Dân cư địa phương thường coi du lịch là một nhân tố tạo
ra việc làm và giao lưu văn hoá. Một điều quan trọng cần nhấn mạnh là ở đây là
hiệu quả của sự giao lưu giữa số lượng lớn du khách quốc tế và dân cư địa
với nhau trong cùng một chuyến đi. Ví dụ du lịch nghỉ ngơi với du lịch văn hoá,
học tập; du lịch giải trí nghỉ ngơi với thăm hỏi…
Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ
Các tác giả Mclntosh và Gocldner đã sử dụng tiêu thức này để phân chia
thành các thể loại du lịch sau:
Du lịch quốc tế: liên quan đến các chuyến đi vượt ra khỏi phạm vi lãnh thổ
biên giới quốc gia của khách du lịch. Thể loại du lịch này được phân chia làm hai
loại nhỏ:
- Du lịch quốc tế: là chuyến đi viếng thăm của những người từ các quốc gia
khác.
- Du lịch ra nước ngoài: là chuyến đi của cư dân trong nước đến một nước
khác.
13
Du lịch trong nước: là chuyến đi của những cư dân chỉ trong phạm vi quốc
gia của họ.
Du lịch nội địa: bao gồm du lịch trong nước và du lịch quốc tế đến.
Du lịch quốc gia: bao gồm du lịch nội địa và du lịch ra nước ngoài.
Trong thực tế ở Việt Nam, thuật ngữ du lịch nội địa được sử dụng để chỉ
những chuyến đi du lịch trong nước của người Việt Nam và trường hợp người
nước ngoài đang sinh sống tạm thời hoặc làm việc tại Việt Nam khi đi du lịch
trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Trường hợp người Việt Nam định cư ở nước
ngoài về Việt Nam du lịch được quan niệm là khách du lịch quốc tế và thuộc thể
loại du lịch quốc tế đến. Còn người nước ngoài cư trú tại Việt nam khi ra nước
ngoài du lịch được quy định là khách du lịch quốc tế và thuộc thể loại du lịch ra
nước ngoài.
Các cách phân loại khác
Ngoài hai cách phân loại phổ biến và có ý nghĩa nói trên còn có rất nhiều
cách phân chia du lịch thành các thể loại khác. Đó là:
* Căn cứ vào sự tương tác của du khách đối với nơi đến du lịch bao gồm Du
nó cũng góp phần phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng. Hay nói một
cách khác là du lịch tác động tích cực vào việc làm cân đối cấu trúc của thu nhập
và chi tiêu của nhân dân theo các vùng.
Phát triển du lịch tác động tích cực vào việc làm tăng thu nhập quốc dân
thông qua thu ngoại tệ, đóng góp vai trò to lớn trong việc cân bằng cán cân thanh
toán quốc tế.
Cùng với hàng không dân dụng, kiều hối, cung ứng tàu biển, bưu điện quốc
tế, chuyển giao công nghệ và các dịch vụ thu ngoại tệ khác, du lịch quốc tế hàng
năm đem lại cho các quốc gia nhiều ngoại tệ. Đây là tác động trực tiếp nhất của du
15
lịch đối với nền kinh tế, nhiều nước trong khu vực và trên thế giới đã thu hàng tỷ
USD mỗi năm thông qua việc phát triển du lịch. Cụ thể, trong vòng 30 năm (1960
- 1991) thu nhập từ du lịch của thế giới đã tăng lên khoảng 38 lần, từ 6,8 tỷ USD
năm 1960 lên 102 tỷ USD năm 1980, tới 260 tỷ USD năm 1991 và 423 tỷ USD
vào năm 1996, bằng hơn 8% kim ngạch xuất khẩu hàng hoá toàn thế giới.
Ở Việt Nam, từ năm 1990 trở lại đây, du lịch đã có những bước phát triển
khá mạnh, đem lại lợi ích kinh tế đáng kể. Theo thống kê của Tổng cục du lịch
Việt Nam, năm 1990 doanh thu của du lịch Việt Nam mới chỉ đạt đến con số là
650 tỷ đồng thì đến năm 2008, tổng doanh thu toàn xã hội từ du lịch đã đạt tới
64.000 tỷ đồng.
Du lịch là hoạt động xuất khẩu có hiệu quả cao nhất
Tính hiệu quả cao trong kinh doanh du lịch thể hiện trước nhất ở chỗ, du lịch
là một ngành “xuất khẩu tại chỗ” những hàng hoá công nghiệp, hàng tiêu dùng,
thủ công mỹ nghệ, đồ cổ phục chế, nông lâm sản…theo giá bán lẻ cao hơn so với
việc xuất khẩu theo giá bán buôn. Đồng thời, thông qua con đường du lịch, các
hàng hoá được xuất khẩu mà không phải chịu hàng rào thuế quan mậu dịch quốc
tế.
Ngoài ra, du lịch còn là ngành “xuất khẩu vô hình” các hàng hoá du lịch
như: các cảnh quan thiên nhiên, khí hậu, những giá trị của những di tích lịch sử -
lưới giao thông công cộng, mạng lưới điện nước, các phương tiện thông tin đại
chúng…Đặc biệt là ở những vùng phát triển du lịch, do xuất hiện nhu cầu đi lại,
vận chuyển thông tin liên lạc…của khách du lịch, cũng như những điều kiện cần
thiết cho cơ sở kinh doanh du lịch hoạt động nên các ngành này phát triển.
17
1.1.3.2. Vai trò về mặt xã hội đối với đất nước
Du lịch góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động
Theo như thống kê năm 2000 của thế giới, du lịch là ngành tạo việc làm
quan trọng. Tổng số lao động trong các hoạt động liên quan đến du lịch chiếm
10,7% tổng số lao động toàn cầu. Cứ 2,5 giây du lịch tạo ra được một việc làm
mới. Đến năm 2005, cứ 8 lao động thì có 1 người làm trong ngành du lịch so với
tỷ lệ hiện nay là 1/9. Theo dự báo của UNWTO, năm 2010, ngành du lịch sẽ tạo
thêm khoảng 150 triệu việc làm, chủ yếu tập trung ở khu vực châu Á-Thái Bình
Dương.
Tại Việt Nam, nếu như thời điểm 1990, toàn ngành du lịch chỉ có khoảng
20.000 lao động thì nay, lực lượng này đã lên đến trên một triệu lao động. Trong
đó, bao gồm khoảng 285.000 lao động trực tiếp và trên 750.000 lao động gián tiếp.
Và dự báo nhu cầu nguồn nhân lực du lịch Việt Nam trong 5-10 năm tới sẽ rất lớn.
Cụ thể, năm 2010, tổng số lao động trực tiếp trong ngành sẽ hơn 333.000 người.
Đến năm 2020, con số này sẽ lên đến hơn 503.000 người.
Du lịch củng cố và phát triển các mối quan hệ kinh tế quốc tế
Du lịch góp phần củng cố và phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế thông
qua các mặt như: các tổ chức quốc tế mang tính chính phủ và phi chính phủ về du
lịch tác động tích cực trong việc hình thành các mối quan hệ kinh tế quốc tế; du
lịch quốc tế phát triển tạo nên sự phát triển đường lối giao thông quốc tế; du lịch
quốc tế như một đầu mối “xuất-nhập khẩu” ngoại tệ, góp phần làm phát triển quan
hệ ngoại hối quốc tế.
Du lịch làm giảm quá trình đô thị hoá ở các nước kinh tế phát triển
Thông thường tài nguyên du lịch thiên nhiên thường có nhiều ở những vùng
Trình độ văn hóa chung của một dân tộc được đánh giá chủ yếu theo các yếu
tố sau: Hệ thống và chất lượng của giáo dục đào tạo, xuất bản nhiều sách báo đạt
19
trình độ văn hóa, chính trị, khoa học, nghệ thuật cao, các phương tiện thông tin đại
chúng phát triển, các hoạt động phim ảnh, ca hát, nhạc , kịch phong phú. Nếu trình
độ văn hóa chung của một dân tộc được nâng cao, thì động cơ đi du lịch của nhân
dân ở đó tăng lên rõ rệt. Mặt khác, nếu trình độ văn hóa chung của một đất nước
cao, thì đất nước đó khi phát triển du lịch sẽ dễ đảm bảo phục vụ khách du lịch
một cách văn minh và làm hài lòng khách đi du lịch đến đó.
Giao thông vận tải phát triển: Từ xưa giao thông vận tải là tiền đề cho sự
phát triển du lịch. Ngày nay, giao thông vận tải đã trở thành một trong những nhân
tố chính cho sự phát triển của du lịch, đặc biệt là du lịch quốc tế. Trong những
năm gần đây, lĩnh vực giao thông trong du lịch phát triển cả về số lượng và chất
lượng. Tiến bộ của vận chuyển hành khách còn thể hiện trong sự phối hợp các loại
phương tiện vận chuyển. Điều đó có ý nghĩa rất lớn trong sự phát triển của du lịch.
Sự phối hợp đó có hai mức độ: mức độ dân tộc và mức độ quốc tế. Cả hai mức độ
đều có vai trò quan trọng trong vận chuyển hành khách du lịch. Việc tổ chức vận
tải phối hợp tốt cho phép rút ngắn thời gian chờ đợi ở các điểm giữa tuyến và tạo
ra điều kiện thuận lợi khi phải đổi phương tiện vận chuyển và làm vừa lòng khách
đi du lịch.
Không khí chính trị hòa bình, ổn định trên thế giới : Đó là nhân tố đảm
bảo cho việc mở rộng các mối quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kỹ
thuật giữa các quốc gia trên thế giới. Trong phạm vi các mối quan hệ kinh tế, sự
giao lưu về du lịch giữa các nước trong khu vực, trên toàn cầu không ngừng phát
triển. Nếu một vùng có chiến tranh hoặc xảy ra các cuộc xung đột, nhân dân ở các
nước tại vùng đó khó có điều kiện ra nước ngoài du lịch và ngược lại, khách du
lịch trên thế giới cũng khó có điều kiện đến các nước ở vùng đó để du lịch.
Tình hình và xu hƣớng phát triển của đất nƣớc : Khả năng và xu hướng
phát triển du lịch của một đất nước phụ thuộc ở mức độ lớn vào tình hình và xu
triển du lịch. Để đạt được một mục tiêu phát triển du lịch nhất định nhất thiết cần
có sự quan tâm phối hợp chặt chẽ các nhân tố trên.
21
1.2. Kinh nghiệm phát triển du lịch của một số nƣớc trong khu vực và
bài học cho Việt Nam.
1.2.1. Kinh nghiệm của một số nước
1.2.1.1. Thái Lan
Hầu hết các quốc gia trong khu vực đều chú trọng phát triển du lịch nhờ được
thiên nhiên ưu đãi về các điều kiện tự nhiên, khí hậu. Vào những năm 1960, Thái
Lan với chiến dịch Xanh đã nổi bật lên như một quốc gia hàng đầu trong khu vực
về du lịch. Thuật ngữ “ngành công nghiệp không khói” được ra đời để mô tả đầy
đủ quy mô và kỹ nghệ kinh doanh du lịch ở đất nước Chùa Vàng này. Khách đổ về
đây từ khắp nơi trên thế giới nhờ giá rẻ, những ấn tượng mới trong phục vụ và văn
hóa phương đông. Nhờ các dự án đầu tư tốn kém, Thái Lan có những khu du lịch
nổi tiếng thế giới. Với chủ trương chú trọng vào kinh doanh lớn, lợi dụng quy luật
lợi thế theo quy mô, Thái Lan nhanh chóng đáp ứng nhu cầu mọi mặt của một
lượng khổng lồ du khách, và cũng thu về nguồn ngoại tệ tương ứng. Du khách đến
Thái Lan không chỉ được hưởng thụ về vật chất mà còn cả thưởng thức nghệ thuật
dân gian, tham quan đền chùa và các di tích, tắm biển với đầy đủ tiện nghi, mà còn
mua sắm thoải mái. Hàng hóa xuất khẩu tại ch của nền kinh tế này chiếm một tỷ lệ
không nhỏ trong tổng doanh số bán hàng, điển hình là hàng dệt, da, may mặc,
hàng điện tử, hàng cơ khí tiêu dùng, ngoài ra du khách còn tiêu thụ một khối lượng
lớn lương thực, thực phẩm và các sản phẩm công nghiệp ngành chế biến thực
phẩm. Ngành hàng không, tầu biển cũng vì thế được mở mang nhanh chóng.
Trước khi xảy ra khủng hoảng tài chính, ngành du lịch Thỏi Lan được biết đến
như một thiên đường dành cho khách du lịch. Ngày nay, tuy không còn là hình
mẫu số một của khu vực, ngành du lịch Thái Lan vẫn còn là đối thủ cạnh tranh
đáng nể của các quốc gia lân cận. Thành công của quốc gia du lịch này có được