Một số giải pháp phát triển du lịch sông nước đồng bằng sông Cửu Long - Pdf 86


1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH

1.1 Khái niệm về du lịch

1.1.1 Khái niệm

Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển
mà còn ở cả các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Du lịch được xem như là ngành “ công
nghiệp không khói”, là một ngành dịch vụ thu hút một số lượng lớn lao động. Vì vậy, để có thể khai
thác ngành này một cách hiệu quả và đúng đắn chúng ta cần phải tìm hiểu thật kỹ càng về nó.
Theo nhà địa lý học Michaud: “ Du lịch là tập hợp những hoạt động sản xuất và tiêu thụ phục vụ cho
việc đi lại và ngủ lại ít nhất một đêm ngoài nơi ở thường ngày với lý do giải trí, kinh doanh, sức khoẻ,
hội họp, thể thao hoặc tôn giáo”
(1)
Năm 1963, tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch tại Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về
du lịch như sau: “ Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn
từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay
ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ
(2)

Theo Khoản 1, điều 4, luật Du lịch Việt Nam 2005 quy định rằng: “ Du lịch là hoạt động có liên quan
đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham
quan, tìm hiểu, giải trí, nghĩ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.
Do hoàn cảnh ( thời gian, khu vực ) khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có
một cách hiểu khác nhau về du lịch. Nhưng dù hiểu như thế nào đi nữa thì du lịch vừa là một lĩnh vực
kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của du khách vừa là một hiện tượng xã hội góp phần
nâng cao dân trí, phục hồi sức khoẻ cộng đồng.

1.1.2 Phân loại du lịch

nghệ truyền thống cũng như hiện đại, hay những nét đặc trưng về tôn giáo…đã tạo nên một sức hút hết
sức lôi cuốn, sôi động và mạnh mẽ đối với du khách. Điển hình như các buổi biểu diển dân ca, múa rối
nước, hoặc một buổi chợ nổi vào lúc sớm mai trên sông hay là những bức tranh Đông Hồ, tranh lụa …
là những biểu hiện của nét văn hóa đặc trưng thật sự thu hút và hấp dẫn du khách.

Một trong những chức năng chính của du lịch là giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng. Khi đi du lịch,
du khách luôn muốn được thâm nhập vào các hoạt động văn hóa của địa phương. Song nhiều khi sự
thâm nhập với mục đích chính đáng bị lạm dụng và sự thâm nhập biến thành sự xâm hại. Mặt khác, sự
kỳ kạ hấp dẫn, sự phóng đại cường điệu hay thi vị hóa lối sống và biểu hiện văn hóa của một nhóm
dân tộc thiểu số hay một cộng đồng là phổ biến trong ngành du lịch. Do muốn tăng tính cạnh tranh,
những người điều hành và quảng bá du lịch đã đưa các cộng đồng dân tộc thiểu số miền núi ra thị
trường như một mặt hàng mới tinh khôi, thật tự nhiên, hấp dẫn kỳ lạ, mang tính truyền thống, nguyên
thủy, nguyên bản … Một vấn đề khác nữa đó là sự cưỡng ép, làm biến dạng những tập tục văn hóa, lễ
hội và các nghi lễ đặc thù dân tộc của những người tổ chức tour để mua vui cho khách du lịch. Một
câu hỏi được đặt ra ở đây là làm sao còn gọi là nguyên bản khi một lễ hội truyền thống hằng năm được
tái tạo lại thể hiện hằng tuần, thay đổi hằng tháng, biến những sự kiện văn hóa, lễ hội đơn giản nhưng
mang đầy ý nghĩa, bản sắc dân tộc thành những lễ hội “lòe loẹt” và “có sức hấp dẫn kỳ diệu” cho
khách du lịch. Hơn nữa, một trong những xu hướng thường thấy ở các nước nghèo đón khách từ các
nước giàu là người dân bản xứ, nhất là giới trẻ ngày càng chối bỏ truyền thống và thay đổi cách sống
theo mốt du khách. Nguyên nhân là do trong hoạt động kinh doanh người dân bản xứ dùng chuẩn của
du khách để làm vừa lòng họ nhằm thu hút được tối đa hóa lợi nhuận. Bên cạnh đó, do tư tưởng vọng
ngoại, người dân bản xứ đánh giá cao lối sống của du khách, cho đây là biểu hiện văn minh, giàu có…
Ảnh hưởng của động du lịch đến văn hóa và xã hội còn được thể hiện qua quan hệ giữa du khách và
người dân địa phương . Nhìn chung theo thời gian, thái độ của của người dân sở tại đối với du khách
thay đổi dần từ tích cực sang tiêu cực. Vào thời gian đầu, khi những du khách đầu tiên xuất hiện,
người dân địa phương tỏ ra vô cùng cao hứng. Du khách được đón tiếp nồng nhiệt, nhiều khi thái quá,
với tất cả lòng quý trọng và mến khách của chủ nhân. Theo thời gian, ngược với sự gia tăng của luồng
khách tình cảm nồng hậu mà du khách đón chờ giảm dần. Quan hệ tình cảm giữa du khách và dân địa
phương ngày càng trở nên nguội lạnh và thay vào đó là quan hệ buôn bán. Đại đa số du khách được
tiếp đón với nghi lễ xã giao. Tồi tệ hơn là cảm giác khó chịu thậm chí là tư tưởng và hành động chống


1.1.4 Những quan điểm về khái niệm du lịch sông nước:

Cũng như khái niệm ngành du lịch nói chung. khái niệm du lịch sông nước nói riêng có rất nhiều, mỗi
một cá nhân, mỗi một tổ chức nghiên cứu về loại hình du lịch này đứng từ nhiều khía cạnh khác nhau,
với những mục đích khác nhau thì sẽ có những khái niệm khác nhau. Dưới đây nhóm nghiên cứu xin
trích dẫn một vài khái niệm về du lịch sông nước mà nhóm nghiên cứu sưu tập được và đưa ra quan
điểm của nhóm nghiên cứu về khái niệm du lịch sông nước.
* Theo quan điểm của châu Âu:
Du lịch sông nước là một loại hình du lịch mà trong đó chúng ta dùng thuyền, cano để di chuyển và di
chuyển trên những con sông, những con kênh, con rạch nhỏ. Thưởng thức những phong cảnh đẹp trên
sông, gặp gỡ những người dân sống ở đây, trò chuyện với họ để có thể cảm nhận được cuộc sống của
họ. Tìm hiểu về nền kinh tế xã hội của những quốc gia đó và những vấn đề về môi trường sinh thái mà
hằng ngày vẫn liên quan đến cuộc sống của ta.
(Trích “ waterway tourism around Europe” http://www.keesay.com)
* Theo quan điểm của nhóm tác giả ở trường đại học Nicolaus Copemicus, viện nghiên cứu
sinh thái và địa chất Phần Lan.
Du lịch sông nước là một phần của du lịch sinh thái và liên kết với liên khu kinh tế của vùng đó. Du
lịch kết hợp với bảo vệ môi trường sinh thái trên các con sông, kênh rạch, điều chỉnh tốc độ dòng
chảy, đồng thời phát triển kinh tế dọc bờ sông. Đầu tư phát triển cung cấp những dịch vụ du lịch xuất
phát từ chính đời sống xã hội, thắng cảnh, từ văn hóa của địa phương.
( Trích bài viết “ đường thủy chi phối du lịch sinh thái và liên khu kinh tế” Báo nông
nghiệp thực phẩm và khoa học môi trường –Phần Lan, số ra tháng 1 năm 2007)

* Quan điểm của nhóm nghiên cứu:
Qua một thời gian nghiên cứu về du lịch sông nước tại ĐBSCL nhóm nghiên cứu cũng có một số quan
điểm riêng của mình về khái niệm du lịch sông nước:
Du lịch sông nước là một loại hình du lịch mà các hoạt động vui chơi giải trí, vận chuyển gắn liền với
sông nước. Các dịch vụ du lịch đươc phục ngay trên sông, trên các cù lao, hoặc ven bờ sông. Đặc biệt
du lịch sông nước phát triển phải đi đôi với phát triển đời sống kinh tế người dân trong vùng và bảo vệ

phương diện kinh tế, đây là một ngành kinh tế có tốc độ phát triển rất nhanh, thu nhập của ngành du
lịch từ năm 1950 đến nay luôn chiếm trên 5% GDP toàn cầu, đối với một số nước ngành du lịch chính
là ngành kinh tế mũi nhọn đóng góp vào GDP một tỷ trọng không nhỏ và đặc biệt đối với hầu hết các
nước, ngành du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc cân bằng cán cân thanh toán quốc tế, đặc biệt là
các nước đang phát triển. Về phương diện xã hội, sau ngành y tế thì du lịch là ngành sử dụng lao động
nhiều nhất trên thế giới, đặc biệt là ngành sử dụng một lượng lớn lao động không cần trình độ cao.
Theo số liệu công bố của UNWTO, trong năm 2006 ngành du lịch thế giới đã giải quyết được 243
triệu việc làm, chiếm 8.3% lao động trên thế giới. Cũng trong năm này ngành du lịch đã đóng góp một
khoảng thu nhập bằng 10,3% GDP toàn cầu. trong năm 2007 ngành du lịch đã phục vụ một con số kỷ
lục 898 triệu lượt khách, tăng 6.2% so với năm 2006.

Cũng như bao nhiêu năm nay, châu Âu với những tòa lâu đài, những cánh đồng ôn đới trải dài, những
thảo nguyên xanh mướt bên cạnh những thành phố hiện đại nhất thế giới vẫn là điểm thu hút nhiều
khách du lịch nhất, trong năm 2007 châu Âu thu hút 480 triệu lượt khách, chiếm hơn 50% tổng lượt
khách du lịch quốc tế. Kinh đô du lịch châu Âu từ bao nhiêu năm nay vẫn là nước Pháp lãng mạn, và
năm 2007 cũng không ngoại lệ, Pháp đã phục vụ 68 triệu lượt du khách và hơn 14 triệu lượt khách quá
cảnh tại Pháp để đến các nước miền nam châu Âu. Tuy nhiên do sự phát triển mạnh mẽ của những
điểm du lịch tại vùng châu Á – Thái Bình Dương, tốc độ tăng trưởng của lượt khách du lịch đến Pháp
đã chậm lại ( năm 2000: 11.4%; năm 2006 906% và năm 2007 là 4% ) theo như dự báo đến năm 2020
vị trí này có thể Pháp sẽ nhường lại cho Trung Quốc và Ấn Độ hay nói cách khác vị trí trung tâm du
lịch của Châu Âu sẽ nhường lại cho khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Bản đồ du lịch thế giới đang
được vẽ lại.

Ngày nay khi việc đi du lịch đã trở nên phổ biến rất nhiều. Đối với những nước phát triển trở thành
một nhu cầu thiết yếu, mổi năm họ dành hẳn một khoảng thu nhập chi cho việc đi du lịch. Còn đối với

5
người dân ở các nước có thu nhập trung bình cũng có điều kiện để đi đến những vùng đất mới. Mặc
cho nền kinh tế thế giới hiện nay đang đi vào giai đoạn khó khăn, nhưng ngành du lịch vẫn thể hiện
sức sống mãnh liệt của mình, năm 2007 ngành du lịch vẫn tăng trưởng 6.2%. Điểm đặc biệt của ngành

lịch của thế giới. Để có thể thấy rỏ hiệu quả kinh tế của ngành du lịch thế giới, nhóm nghiên cứu xin
đưa ra một vài số liệu minh họa khác. Nếu như năm 1950 tổng chi tiêu của khách du lịch trên toàn thế
giới là 2.1 tỷ USD thì đến năm 2004 con số này là 622.7 tỷ USD, trung bình một năm tăng 11% (cao
hơn chỉ số lạm phát trung bình) như vậy ta có thể thấy rõ hiệu quả kinh tế của ngành du lịch thế giới.
Và theo dự báo của UNWTO đến năm 2010 lượt khách du lịch quốc tế sẽ tăng đến 1.1 tỷ lượt và đến
năm 2020 con số này sẽ là 1.6 tỷ lượt. Những con số này tăng lên và được dự báo sẽ tăng lên nữa
trong tương lai là một niềm phấn khởi cho ngành du lịch nhưng bên cạnh đó, khâu quản lý du lịch cần
phải đi trước một bước, khi mà du lịch ngày nay mang lại nhiều vấn đề rắc rối về mặt văn hóa, vệ sinh
môi trường và gìn giữ môi trường thiên nhiên. 6
1.2.2 Tổng quan du lịch Việt Nam.

Du lịch tại Việt Nam đã xuất hiện từ thời rất xa xưa, khi mà các thương nhân Trung Hoa và Nhật Bản
cập cảng tại Hội An , cũng chính từ đó đã tạo nên phố cổ ngày nay mang đậm hai vẻ đẹp văn hóa
Trung-Nhật kết hợp với văn hóa, kiến trúc Việt. Và từ đó con đường phát triển lênh đênh của du lịch
Việt Nam được bắt đầu.

Ngành du lịch Việt Nam đươc thành lập ngày 09/07/1960 đến nay, gần 48 năm hoạt động ngành du
lịch Việt Nam đã trải qua rất nhiều sự sáp nhập rồi tách ra từ bộ văn hóa - thông tin – thể thao và du
lịch , đến bộ thương mại – du lịch , sau đó trở thành cơ quan độc lập trực thuộc chính phủ và bây giờ
đang trực thuộc bộ văn hóa thể thao và du lịch. Sự bất ổn định này mang lại cho ngành du lịch không ít
khó khăn, nhưng điều đó không thể ngăn cản sự phát triển tất nhiên của ngành du lịch Việt Nam.
Chúng ta có thể chia lịch sử du lịch Việt Nam thành 2 thời kỳ lớn là trước và sau khi ngành du lịch
Việt Nam ra đời. Trước khi ngành du lịch Việt Nam ra đời tại Việt Nam hoạt động du lịch vẫn xảy ra
nhưng không được quản lý thống nhất và chưa có những đơn vị kinh doanh du lịch chuyên nghiệp,

hóa lâu đời, sâu sắc và các quần thể kiến trúc vẫn còn bảo quản tốt thì du lịch Việt Nam khó có thể
cạnh tranh được. 7
Tuy còn nhiều khó khăn trước mắt, nhưng du lịch Việt Nam đã phát triển rất tốt trong thời gian qua, đã
tạo được những ấn tượng nhất định trong lòng du khách và đã xây dựng được những nét riêng và sản
phẩm du lịch đặc trưng rất Việt Nam. Như trong giai đoạn gần đây, những tour du lịch caravan đã thu
hút được rất nhiều du khách, hay như trong những năm gần đây Việt Nam rộ lên loại hình du lịch sự
kiện, du lịch MICE, các sự kiện quan trọng mang tầm thế giới lần lượt được diễn ra tại Việt Nam bởi
vì Việt Nam là đất nước hòa bình, hữu nghị và an ninh: hội nghị thượng đỉnh APEC 2006, đại lễ phật
đảng 2008 hay hoa hậu hoàn vũ diễn ra vào tháng 7/2008 ). Bên cạnh đó Đảng và nhà nước cũng đã có
nhìn nhận về vai trò của ngành du lịch một cách tích cực hơn khi đã đầu tư cho quảng bá hình ảnh du
lịch Việt Nam trên kênh truyền hình quốc tế CNN. Tất cả những hoạt động trên đã đưa được hình ảnh
Việt Nam đến với bạn bè quốc tế, đã tạo nên một làn sóng đưa con thuyền du lịch Việt Nam ra khơi xa
hơn và vững vàng hơn.
0
200
400
600
Biểu đồ 1.2: Vốn ngân sách trung ương hỗ trợ đầu tư cơ sở
hạ tầng du lịch 2001-2005
tổng vốn (tỷ đồng) Số dự án đầu tư
tổng vốn (tỷ đồng)
266 380 450 500 550
Số dự án đầu tư
23 73 167 122
2001 2002 2003 2004 2005

( Nguồn : Tổng cục du lịch Việt Nam)

Thời kỳ năm 2004 đến nay là thời kỳ du lịch phát triển sau một thời gian bị tê liệt và phục hồi sau cuộc
khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997. Trong thời gian này, số lượt khách du lịch quốc tế tăng dần
qua từng năm và tỷ lệ tăng luôn cao hơn nhiều so với trung bình của ngành du lịch thế giới ( trừ năm
2006), về tỷ trọng của từng loại khách phân theo mục đích đi du lịch thì không có khác biệt nhiều,
chiếm hơn 50% vẫn là khách du lịch thuần túy. Cụ thể tình hình từng năm như sau:
 Tăng mạnh nhất trong thời kỳ này là năm 2004 tăng 20.5% so với 2003
 Năm 2005 tăng 18.3% so với năm 2004.
 Năm 2006 do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm lượt khách quốc tế đến Việt Nam chỉ
tăng 3% so với 2005.
 Nhưng đến năm 2007 tình hình lại khả quan hơn khi Việt Nam đăng cai tổ chức những
sự kiện lớn, quảng bá hình ảnh rộng rải,nâng cao chất lượng cơ sở vật chất và chất
lượng dịch vụ, lượt khách quốc tế đến trong năm này đã tăng 16% so với năm 2007.
 Và tính riêng 5 tháng đầu năm 2008, lượt khách quốc tế đến Việt Nam đã đạt trên 2
triệu lượt, hơn 50% tổng lượt khách năm 2007 và tăng 16,6% so với cùng kỳ năm 2007.
Khách quốc tế đến Việt Nam tăng là một dấu hiệu tốt cho ngành du lịch Việt Nam , chứng tỏ được
những hoạt động quảng bá của chúng ta đã có hiệu quả và chất lượng dịch vụ du lịch của chúng ta đã
có thể so sánh với quốc tế.
Sau đây là một vài minh họa cho du lịch Việt Nam 4 tháng đầu năm 2008. Khách du lịch quốc tế đến
Việt Nam 4 tháng đầu năm 2008 đạt 1.285.954 lượt (tăng 15.7% so với cùng kỳ năm ngoái) Biểu đồ 1.4: Thành phần khách du lịch quốc tế đến
Việt Nam 5 tháng đầu năm 2008
9%
5%
4%
4%
3%
3%
30%


Những thuận lợi của du lịch Việt Nam Những bất lợi của du lịch Việt Nam
Stt Chỉ tiêu Hạng Stt Chỉ tiêu Hạng
1. An toàn (cảnh sát làm việc
hiệu quả)
46 1. Môi trường tự nhiên và văn hóa 99
2. Ít bị ảnh hưởng bởi các dịch
bệnh
15 2. Yêu cầu Visa 94
3. Sức cạnh tranh về giá cả 10 3. Giao thông ( nói chung) 90
4. Nguồn nhân lực dồi dào 46 4. Hạn chế các doanh nghiệp nước
ngoài.
121
5. Số lượng di sản văn hóa lớn 48 5. Chất lượng của dịch vụ hàng
không
123
( Nguồn: Bảng đánh giá chỉ số cạnh tranh du lịch của UNWTO năm 2007)
(Tham khảo đánh giá những chỉ tiêu khác của du lịch Việt Nam và đánh giá các quốc gia khác của
UNWTO ở phụ lục 1)

1.3 Kinh nghiệm phát triển du lịch của các nước trên thế giới.

1.3.1 Khu vực châu Âu:

ªItalia
Nói về du lịch sông nước thì không thể bỏ qua thành
phố Venice( Italia). Venice là thành phố có nhiều
kênh rạch sông ngòi chảy trong thành phố nhất thế
giới. Những con sông len nỏi vào đời sống của người
dân Venice, khác với Pháp và Hà Lan, sông không chỉ

gấp bội Venice và thông thường trong vùng đầm nước, rất dễ đi lại bằng tàu thuyền nhưng chúng ta
nên học cách người dân Venice nuôi dưỡng đàn chim và bảo vệ chúng để chúng phục vụ lại cho du
lịch.

1.3.2 Khu vực Châu Mỹ
Tại khu vực châu Mỹ nhóm nghiên cứu xin giới thiệu một nơi là River Walk tại San Antonio ( Texas-
Hoa Kỳ). River Walk tại San Antonio là một khu phố đi dạo dọc theo hai bên bờ sông Đó là một con
sông hẹp, chảy trong thành phố, rất hẹp, hay nói cách khác là dòng thoát nước thải của thành phố,
nước thải ở đây đã qua xử lý, không gây ô nhiễm.

Điều mà chúng ta quan tâm là cách họ kinh doanh hai bên bờ
sông, đây là một khu phố đi bộ, hai bên bờ sông có quán xá
được bày biện san sát nhau và ra tận bờ sông, với nhiều loại
hình vui chơi giải trí và cả khách sạn. Bắt ngang qua sông có
nhiều cây cầu nhỏ giúp du khách có thể qua lại hai bên bờ sông
một cách dễ dàng. Buổi tối nơi đây lấp lánh ánh đèn và những
tiếng đàn , tiếng nhạc du dương, các nhà hàng phục vụ món ăn
từ mọi miền thế giới. bên dưới dòng sông là những chiếc
thuyền không mui được thiết kế để chở 20 – 30 du khách du
ngoạn dọc dòng sông, trên thuyền có phục vụ buffet. Một điều
đặc biệt ở đây là vào ban ngày, khi không khí yên ắng được trả
lại cho dòng sông thì trên những chiếc thuyền đi lại, các nhân viên phục vụ, các hướng dẫn viên sử
dụng những micro cá nhân để giới thiệu, để tránh gây tiếng động phá tan không gian yên tĩnh đó, tạo
cho du khách một không gian thật sự thư giãn và thoải mái. Một dòng sông nhỏ nhưng người dân San
Antonio đã làm cho nó trở nện nổi tiếng và có một không hai trên thế giới.

1.3.4 Khu vực châu Á

1.3.4.1 Thái Lan
Tại khu vực Đông Nam Á, Thái Lan là một cường quốc du lịch, cách người Thái Lan làm du lịch rất

cạnh tranh với du lịch sông nước của các nước trong khu vực.

1.3.4.2 Trung Quốc
Trung Quốc là vương quốc của những dòng sông, du lịch sông nước Trung Quốc năm 2007 được bình
chọn là xu hướng thịnh hành nhất (theo UNWTO). Nói về du lịch sông nước Trung Quốc nhóm
nghiên cứu xin trích dẫn hoạt động du lịch trên dòng Li Giang (Quế Lâm – Trung Quốc).

Dòng Li Giang được coi là dòng sông thần, gắn với rất nhiều truyền thuyết của người Trung Quốc,
nước sông xanh biếc, hai bên là những vách núi dựng sừng sững. Khi đến đây du khách được đi trên
những chiếc du thuyền gỗ lướt nhẹ trên dòng sông tạo cảm giác như lướt trên mây để vào cảnh bồng
lai với sông và núi, sau đó được tham quan những chùa chiền trong những hang động được tạo nên do
mạch nước, đến cuối chuyến hành trình du khách lên bờ và được xem một màn biểu diễn nghệ thuật cổ
truyển Trung Quốc đặc sắc, được diễn hàng đêm với sự dàn dựng của đạo diễn Trương Nghệ Mưu.
Cách làm du lịch tại đây được xem là chuyên nghiệp
và rất có chiều sâu. Những người làm du lịch tại đây
luôn nắm rõ nhu cầu của du khách, hiểu rõ xu hướng
thẫm mỹ của du khách để thiết kế sản phẩm du lịch
luôn tạo nên sự bất ngờ và khơi dậy tính hiếu kỳ va
tò mò của du khách. Đi du thuyền trên sông đối với
du khách không có gì đặc biệt, nhưng họ không thể
không ngạc nhiên và hồi hộp khi chiếc thuyền được
ròng rọc từ từ nâng lên khỏi mặt nước để vượt qua
vách núi, đến những cái hồ bên trong lòng núi, với
những ngôi chùa trên núi yên tĩnh làm cho con người
cũng cảm thấy được thanh thản. Du lịch ở đây được đánh gía là khai thác có chiều sâu bởi vì những
người làm du lịch tâm niệm làm du lịch mục đích lâu dài là nâng cao dời sống cho người dân trong
vùng và bảo vệ được những làng nghề truyền thống. Du lịch sông nước Trung Quốc sẽ còn phát triển
hơn trong tương lai bởi vì du lịch sinh thái hay nói riêng là du lịch sông nước đang lên ngôi, và điều đó
cũng cho phép ĐBSCL tự tin vào tương lai của mình.


Bên cạnh đó, với một vùng sông nước được phù sa bồi đắp quanh năm thì những hoa trái và sản vật
dồi dào đã trở thành nguồn nguyên liệu đặc sắc tại chỗ để chế biến những món ăn đậm chất của
phương Nam như: cá lóc nướng trui, cá tai tượng chiên xù, lẩu mắm… ăn kèm với các loại rau vườn
như: kèo nèo, lá cách, bông sua đũa, bông bí, bông điên điển… rất hấp dẫn. Cùng với những đặc sản
nổi tiếng lâu đời gắn liền với các địa danh như: kẹo dừa Bến Tre, nem Lai Vung Đồng Tháp, bưởi
Năm Roi Bình Minh, bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc, bánh pía Sóc Trăng, mắm thái Châu
Đốc… Tất cả đã tạo nên một hương vị khó phai trong lòng du khách khi đến với ĐBSCL.

Mặc khác, các tài nguyên du lịch của ĐBSCL được phân bố tương đối tập trung thành các cụm du lịch
tiêu biểu như:
• Cụm du lịch tả ngạn sông Tiền ( Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp)
• Cụm du lịch hữu ngạn sông Tiền và sông Hậu ( Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Hậu Giang,
Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau)

Sản phẩm du lịch của hai cụm này là chủ yếu là du lịch sinh thái sông nước , tham quan cuộc sống đời
thường trên các cù lao sông Tiền như Long - Lân – Qui – Phụng ở Tiền Giang và Bến Tre, tham quan
chợ nổi Cái Bè, chợ nổi Cái Răng ( Cần Thơ ), Vàm Láng ( Phong Điền ), Ngã bảy Phụng Hiệp ( Hậu
Giang ), Sông Gành Hào ( Cà Mau ), Vĩnh Thuận ( Kiên Giang ),tham quan làng nghề như làm kẹo
dừa ở Bến Tre, làm chiếu ở Tân Châu, tham quan các vườn quốc gia tràm chim Tam Nông, du lịch
sinh thái ngập nước Đồng Tháp Mười, vườn quốc gia U Minh , du lịch văn hóa lễ hội cộng đồng
Khơme, kết hợp tham quan di tích văn hóa lịch sử, di chỉ khảo cổ Oc Eo với loại hình homestay…và
đặc biệt là du lịch đường sông liên tuyến quốc tế sông Tiền – sông Hậu – Campuchia.
13
• Cụm du lịch An Giang – Kiên Giang:
Với đặc trưng của mùa nước lũ và các lễ hội tôn giáo ở An Giang nên các sản phẩm: du lịch lễ hội (lễ
hội vía bà, lễ hội đua bò Bảy núi…), sinh thái sông nước (tham quan tràm chim Trà Sư – búng Bình
Thiên), du lịch tôn giáo tín ngưỡng và nghĩ dưỡng Núi Cấm là nét đặc trưng của tỉnh. Cùng với các

du khách.
Với vị trí đặc biệt, bao vây bởi các con sông và và hệ thống kênh rạch dầy đặc nên du khách có thể
tham quan bằng xuồng máy hoặc chèo xuồng len lỏi trên các con rạch nhỏ. Nét hấp dẫn đặc biệt của
các cù lao chính là những vườn cây chôm chôm, vườn nhãn tiêu trĩu quả, xanh tốt mà du khách có thể
tận hưởng không khí trong lành, hay tự tay hái trái, là lối sống hào phóng, mến khách của người dân
địa phương, là những ngôi nhà cổ nép mình trong vườn cây xanh… ở cù lao Bình Hòa Phước – Vĩnh
Long, hay cồn Phụng - Bến Tre với làng nghề làm kẹo dừa, làm hàng thủ công mỹ nghệ từ cây dừa –
một hình ảnh đặc trưng ở nơi đây và di tích đạo Dừa được bảo tồn nguyên trạng các hạng mục kiến
trúc lạ mặt. Còn với cù lao Ông Hổ, cách thành phố Long Xuyên bởi nhánh sông Hậu, nơi đây có ngôi
nhà lưu niệm thời thời niên thiếu của cố chủ tịch Tôn Đức Thắng và các di vật ngày xưa của ông.
Không chỉ có thế, du khách còn có thể thưởng thức các loại trái cây đặc sản như là loại “xoài quéo” rất
thơm và ngọt mà nhóm nghiên cứu trong quá trình đi thực tế có dịp thưởng thức qua hoặc là tham
quan các bè nuôi cá dọc trên sông Hậu. Hay khác biệt hơn một chút là cồn nghêu ở Trà Vinh cách bờ
biển Mỹ Long khoảng 10 phút đi ca nô. Đây là một cồn cát chỉ xuất hiện khi thủy triều xuống, còn khi
thủy triều lên thì toàn bộ cồn chìm trong nước biển. Sở dĩ được gọi là cồn nghêu vì ngêu ở đây rất

14
nhiều, được mệnh danh là “mỏ nghêu” của Trà Vinh. Theo điều tra của nhóm nghiên cứu thì có
khoảng gần 70% doanh nghiệp đã đưa hoạt động tham quan cù lao/ cồn vào tour sông nước.
(Nội dung chi tiết hơn về du lịch tham quan cù lao xin vui lòng tham khảo ở Phụ lục 2)

• Du lịch tham quan làng nghề:
Giống như những vùng khác trên khắp mọi miền của đất nước, ĐBSCL cùng là nơi tập trung các làng
nghề thủ công lâu đời mà sản phẩm của nó đã và đang phục vụ cho cuộc sống sinh hoạt của người dân
như nghề dệt chiếu ở Định Yên, nghề đan đát ở Ba Tri, nghề làm kẹo dừa, làm lu ở Bến Tre, nghề làm
tủ thờ ở Tiền Giang, làm gốm ven sông Tiền hay trồng hoa kiểng ở Sa Đéc, nem Lai Vung Đồng Tháp,
bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc… hay mới xuất hiện gần đây là nghề làm các sản phẩm thủ
công bằng lục bình hoặc làng nghề nuôi cá da trơn ở An Giang đang rất có hiệu quả về mặt kinh tế.
Gần phân nửa số doanh nghiệp đã đưa du khách đến tham quan các làng nghề thường xuyên. Nếu du
khách có dịp đến Đồng Tháp thì không thể bỏ qua được món nem Lai Vung hay là tham quan làng hoa

ĐBSCL nơi cư trú của các cộng đồng dân tộc như Kinh, Khơme, Hoa, Chăm. Để có thể dễ dàng hiểu
được văn hóa của một dân tộc thì cách tốt nhất là tham gia vào những lễ hội của họ. Lễ hội Nghinh
Ông là một lễ hội văn hóa dân gian của ngư dân miền biển đễ tưởng nhớ một loài cá khổng lồ đó là cá
Voi mà người dân gọi là Ông Nam Hải đã nhiều lần cứu giúp ngư dân vượt qua sóng to gió lớn, cứu
ngưới đưa vào bờ khi không may bị rơi xuống biển. Ngư dân tổ chức lễ Nghinh Ông này nhằm cầu
cho mưa thuận gió hòa, đánh bắt được nhiều cá, tôm và làm ăn phát đạt. Tùy theo từng địa phương mà
địa điểm tổ chức khác nhau như ở biển Bình Đại – Bến Tre, biển Mỹ Long huyện Cầu Ngang – Trà

15
Vinh, ở thị trấn Sông Đốc – Cà Mau. Và thời gian tổ chức cũng khác nhau vào ngày 14, 15, 16 tháng
hai âm lịch ở Sông Đốc và ngày 10, 11, 12 tháng năm âm lịch. Trong suốt thời gian diễn ra lễ hội, còn
có các hoạt động vui chơi khác như hội chợ, các trò chơi dân gian như nhảy bao, kéo co…

Lễ hội của người Khơme: đồng bào dân tộc Khơme tuy không chiếm đa số trong cộng đồng dân cư
nhưng họ có mặt rải rác ở khắp các tỉnh ĐBSCL tập trung nhiều nhất là ở Trà Vinh và Sóc Trăng, An
Giang. Theo trường phái Nam tông, người Khơme rất sùng đạo, mọi hoạt động sinh hoạt hằng ngày
cũng như các lễ hội của họ gắn liền với chùa chiềng và Phật Giáo và đây thật sự là một sự kiện văn
hóa đặc sắc không chỉ đối bản thân người Khơme mà còn thu hút được sự quan tâm của các cộng đồng
dân tộc khác sinh sống ở ĐBSCL như Lễ Đolta, lễ Chôl Chhnam Thmây, lễ Ok - Om – Bok. Trong
những dịp này, các trò chơi dân gian, văn nghệ, và thể thao sẽ được tổ chức tại sân chùa rất náo nhiệt
như thả lồng đèn gió, đèn nước, kéo co, múa lâm - thon… Lễ Đolta là dịp để người Khơme báo hiếu
và tỏ lòng tri ân những người đã khuất được tổ chức vào 2 ngày cuối tháng 8 và 1 ngày đầu tháng 9
Âm lịch và trong đó có lễ hội đua bò Bảy Núi ở An Giang rất náo nhiệt. Đến với lễ Chôl Chnăm
Thmây còn gọi là lễ chịu tuổi tức là Tết của người Khơme vào ngày 14 – 15 tháng 4 dương lịch với
những nghi lễ truyền thống như lễ rước Mahaskan, lễ dâng hương hoa quả, lễ đắp núi cát, đắp núi lúa,
gạo, lễ tắm tượng Phật, lễ cầu siêu cho ông bà quá cố . Còn một dịp lễ nữa không thể bỏ qua chính là
lễ Cúng trăng như tết Trung thu được tổ chức vào ngày trăng trón 15 tháng 12 theo lịch Khme được
gọi là lễ hội Ok – Om – Bok. Người Khme cho rằng mặt trăng là một vị thần mang lại sự thịnh vượng,
ấm no cho dân làng. Cùng với lễ hội này là hoạt động đua ghe ngo được tổ chức. Ghe ngo dài khoảng
24m, ngang 1.2m làm từ cây gỗ, mũi và lái đều cong và được trang trí màu sắc sặt sỡ, chỉ những trai

16
lịch Núi Đá Dựng không có hướng dẫn viên, đã làm cho chúng tôi rất thất vọng vì không thể khám phá
được những điều kỳ bí có ở các hang mà tập sách hướng dẫn đã giới thiệu.

Sự thiếu hụt là một tình trạng chung của cả vùng nhưng khi xét ở từng địa phương, chúng ta phát hiện
một thực trạng khác. Nguồn nhân lực đã khan hiếm mà còn phân bố không đồng đều giữa các tỉnh, nếu
như tại Hà Tiên thiếu nhân viên hướng dẫn thì lực lượng hướng dẫn viên tại Mỹ Tho -Tiền Giang lại
đang thừa. Hiện trạng này xuất phát từ nhiều lý do, nhưng lý do chính luôn là do điều kiện làm việc.
So với tình trạng của lực lượng hướng dẫn viên thì lực lượng quản trị viên hiện đang ở trong tình trang
thiếu hụt trầm trọng hơn nhiều, đây không chỉ là tình trạng riêng của ĐBSCL mà chung của cả nước
ta. Theo điều tra, có khoảng 40% du khách cho rằng chất lượng của đội ngũ nhân viên du lịch là bình
thường và chỉ khoảng 32% cho là khá tốt.

Nhân tố thứ hai, nhân tố phương pháp quản lý của các doanh nghiệp:
Phương pháp tổ chức là một nhân tố rất quan trọng trong việc hình thành chất lượng sản phẩm du lịch
sông nước ĐBSCL. Khi chúng ta có một phương pháp đúng đắn, hiệu quả sẽ mang lại kết quả tốt với
chi phí thấp, rút ngắn thời gian, điều này sẽ nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm và của ngành.
Trong phần này nhóm nghiên cứu chỉ phân tích phương pháp quản lý của các doanh nghiệp kinh
doanh du lịch tại ĐBSCL, vì đây là đối tượng trực tiếp làm ra và quản lý sản phẩm.

Doanh nghiệp kinh doanh lữ hành tại ĐBSCL hiện nay đang thiếu về số lượng chất lượng vẫn còn
đang trong giai đoạn hình thành. Theo thống kê của Vụ lữ hành tại 13 tỉnh ĐBSCL chỉ có 18 doanh
nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế chiếm 2.8% cả nước. Một nửa số doanh nghiệp này tập trung ở
Tiền Giang và Cần Thơ được xem là trung tâm du lịch mà chỉ có một doanh nghiệp lữ hành quốc tế,
trong khi các tỉnh còn lại vẫn chưa có. Hơn nữa, các doanh nghiệp hiện nay khả năng thu hút khách
còn rất yếu, chủ yếu đóng vai trò nối tour cho các doanh nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và
một số tỉnh khác. Theo thống kê từ các doanh nghiệp lữ hành quốc tế thì lượng khách nước ngoài đến
ĐBSCL chiếm 15% lượng khách cả nước nhưng trên 95% lượng khách này là do các doanh nghiệp
ngoài vùng đưa đến. Trong quá trình bán tour, doanh nghiệp ĐBSCL chỉ đơn giản là cho thuê bến bãi,
tàu thuyền còn việc thiết kế tour và hướng dẫn viên đều do các doanh nghiệp ngoài vùng cung cấp. Cá

Dương và Bến Ninh Kiều thành bến tàu du lịch còn đa số các nơi khác đều chỉ là được tận dụng từ bến
tàu thương mại.

Đối với ngành sản xuất thì nhân tố nguyên vật liệu đầu vào rất dễ dàng xác định nhưng đối với ngành
dịch vụ đặc biệt là ngành du lịch thì rất phức tạp. Theo quan điểm của nhóm nghiên cứu, nhân tố này
bao gồm nguồn xăng dầu phục vụ cho hoạt động vận chuyển du lịch của các phương tiện giao thông,
các sản phẩm nông nghiệp phục vụ cho các quán ăn, nhà hàng, các sản phẩm của ngành công nghiệp
dệt may phục vụ cho khách sạn, nhà nghỉ, sự tăng giá của các mặt hàng này trong những tháng đầu
năm nay đã gây rất nhiều khó khăn cho ngành du lịch nói chúng và du lịch sông nước ĐBSCL nói
riêng. Giá xăng, dầu tăng cao làm tăng chí phí vận chuyển của các tàu thuyền, giá thịt, cá, gạo tăng…
tổng hợp lại sẽ làm cho giá các tour du lịch tăng lên. Tuy nhiên, với lợi thế là vùng sản suất nông
nghiệp trọng điểm là vựa gạo của cả nước cho nên các sản nông nghiệp cung cấp cho ngành du lịch
khá thuận lợi và tương đối rẻ so với các vùng khác. Ngoài ra, những dịch vụ tại các điểm du lịch, các
khu du lịch sinh thái, vườn trái cây, rừng ngập mặn, tràm chim, các điểm tham quan chợ nổi, các lễ hội
chính là đầu vào cho các sản phẩm du lịch sông nước. Nếu các dịch vụ này thật sự đa dạng và phong
phú, được đầu tư nghiên cứu chu đáo để tạo thành nét đặc trưng và có chiều sâu thì chắc chắn các sản
phẩm du lịch sẽ luôn luôn có chất lượng cao.

Kết luận: qua quá trình phân tích nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng thế mạnh trong sản phẩm du lịch
ĐBSCL chính là nhân tố con người nhiệt tình, thân thiện, các địa điểm du lịch còn mang nét hoang sơ,
độc đáo không thể lẫn lộn với các khu vực khác nên sẽ tạo cảm giác thú vị, mới lạ cho du khách đồng
thời du lịch ĐBSCL luôn gắn với môi trường tự nhiên nên sẽ rất phù hợp với xu hướng phát triển bền
vững. Mặt khác, hạn chế của các sản phẩm nơi đây chính là sự thiếu đầu tư nghiên cứu về chiều sâu,
chỉ mới dừng lại ở việc khai thác những yếu tố có sẵn, nguồn nhân lực phục vụ du lịch chưa chuyên
nghiệp, đặc biệt là đội ngũ quản lý còn rất ít, hệ thống cơ sở lưu trú chưa phát triển phù hợp với nhu
cầu hiện tại.

2.3 Tác động của môi trường bên ngoài và bên trong đến du lịch sông nước
ĐBSCL


nhiều nhân tố có thể xảy ra điểm nóng, trật tự xã hội còn bất cập, tệ nạn ma tuý, mại dâm, tội phạm
hình sự chưa giảm, tình hình khiếu kiện, tranh chấp đất đai vẫn còn nơi gay gắt, phức tạp. Âm mưu,
thủ đoạn hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch vẫn còn phức tạp, không thể xem thường.

2.3.2 Du khách

Để có thể phát triển ngành du lịch một cách bền vững thì công tác nghiên cứu về thị trường cũng như
về nhu cầu của du khách trong đó có khách quốc tế sẽ là một yếu tố hết sức cần thiết và quan trọng.
Xét về mặt tổng thể của ngành du lịch thì lượng khách quốc tế đến Việt Nam liên tục tăng trưởng
mạnh qua các năm. Riêng đối với năm 2007 lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt gần 4.2 triệu
lượt và tăng 16.4% so với năm 2006 và khách nội địa đạt 19.2% triệu lượt tăng 9.7%. Trong 5 tháng
đầu năm 2008 lượng khách quốc tế tăng 16.6% so với cùng kỳ
(3)
. Riêng tại ĐBSCL, một số tỉnh như
Trà Vinh, Hậu Giang vẫn chưa có số liệu thống kê về lượt khách du lịch nên nhóm nghiên cứu xin đưa
ra một số địa phương chủ yếu:

0
100000
200000
300000
400000
500000
l
ượ
t
2001 2002 2003 2,004 2005 2006
Biểu đồ 2.1: Lượt khách quốc tế đến 1 số tỉnh ĐBSCL 2001-2006
Tiền Giang
Bến Tre

t
2001 2002 2003 2,004 2005 2006
Biểu đồ 2.2: Lượt du khách nội địa đến các tỉnh ĐBSCL 2001-2006
Long An
Tiền Giang
Bến Tre
Vĩnh Long
Đồng Tháp
An Giang
Kiên Giang
Cần Thơ

(Nguồn : Sở văn hoá thể thao và du lịch các tỉnh ĐBSCL)

Lượt khách nội địa có bước tăng trưởng đáng kể. Nhìn chung, số lượt khách nội địa du lịch ở ĐBSCL
cao hơn rất nhiều so với lượt khách quốc tế, Cần Thơ và Tiền Giang là hai địa phương có lượt khách
đến khá nhiều và có tốc độ tăng trưởng ổn định qua các năm nhưng chỉ trung bình khoảng từ 6% đến
9% thấp hơn so với thị trường khách quốc tế. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng ở An Giang không ổn
định, có chiều hướng giảm từ năm 2005. Cá biệt có Bến Tre, cơ cấu khách nội địa chiếm tỉ trọng rất
nhỏ, dưới 50% so với khách quốc tế điều này chứng tỏ khả năng cạnh tranh của bến Tre là rất yếu so
với các tỉnh khác vì nơi đây giao thông, đi lại không thuận tiện. Biểu đồ 2.3 : Cơ cấu du khách đến Bến Tre 2006
12%
88%
Nội địa
Quốc tế

(Nguồn: Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, chi nhánh Cần Thơ)

giản dị không phù hợp với những gì quá hiện đại để thu hút đối tượng khách này. Tuy nhiên theo quan
điểm của nhóm nghiên cứu, thật sự du lịch sông nước ĐBSCl hiện nay chưa khai thác hết thị trường
khách trung bình, và do tính ít năng động nên chưa chủ động thu hút qua đến đối tượng du khách khác.
Nhưng du khách chi tiêu cao và du khách hạng sang tuy không nhiều nhưng sẽ mang lại hiệu quả kinh
tế cao hơn cho địa phương và góp phần thay đổi bộ mặt môi trường sinh thái vùng đồng bằng. Với một
lượng du khách hạng sang nhất định thì môi trường sinh thái sẽ được đảm bảo. Vì du lịch sinh thái bền
vững phát triển nó sẽ kéo theo một lượng du khách tri thức của nó. Vậy chúng ta chọn phát triển du
lịch bền vững thì không thể bỏ đi thị trường du khách này.

2.3.3 Sự áp dụng công nghệ vào du lịch sông nước tại ĐBSCL.

Tuy có vị trí rất gần với thành phố Hồ Chí Minh – trung tâm công nghệ khoa học kỹ thuật lớn nhất cả
nước- nhưng du lịch sông nước ĐBSCL thật sự chưa áp dụng được nhiều công nghệ hiện đại.
Về sự áp dụng trong các sản phẩm du lịch: do đặc điểm là du lịch miệt vườn nên phải giữ được vẻ dân
dã và mộc mạc của mình, vì vậy mà các sản phẩm du lịch ở đây không sử dụng nhiều công nghệ hiện
đại.

Về phương tiện giao thông đường thuỷ: những phương tiện ở đây phần nhiều đã được máy móc hoá để
có thể vận chuyển nhiều hơn, xa hơn và nhanh hơn. Nhưng hầu hết du khách lại thích những chiếc
xuống chèo trên chợ nổi hơn. Vì vậy với những quãng đường dài chúng ta nên áp dụng công nghệ còn
khi tham quan những quãng đường ngắn ta nên giữ nét dân dã của miền tây.

Về cơ sở lưu trú: Các cơ sở lưu trú chính là những nơi cần phải áp dụng công nghệ hiện đại để có thể
làm du khách thoải mái nghỉ ngơi và tận hưởng kỳ nghỉ của mình. Áp dụng công nghệ trong lưu trú
được đánh giá thông qua tiêu chuẩn của cơ sở lưu trú, phần này chúng ta sẽ hiểu rõ hơn ở phần cơ sở
vật chất. Tuy nhiên có thể dẫn chứng một điểm tiến bộ của việc áp dụng công nghệ vào cơ sở lưu trú là

Trích đoạn Giải pháp nâng cao chất lượng cơ sở vật chất Giải pháp cải tiến quy trình Marketing du lịch của doanh nghiệp ĐBSCL: Mô hình liên kết kim cương giữa các tỉnh ĐBSCL. Mô hình bến đỗ tàu du lịch và resort trên các cù lao 1 Mô hình bến tàu du lịch Các mô hình nổi 1 Khách sạn nổ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status