Một số giải pháp phát triển du lịch sông nước đồng bằng sông Cửu Long 01 - Pdf 85

MỤC LỤC
Trang
Lời mở đầu ………………………………………………………………………………………………………………………… 1
Chương I: Cơ sở lý luận về du lịch và City tour ……………………………………………………………. 3
1.1 Cơ sở lý luận về du lịch ……………………………………………………………………………………..…… 3
1.1.1 Bàn về thuật ngữ “du lịch” ………………. …………………………………………………………… 3
1.1.2 Khái niệm “khách du lịch” ……………………………………………………………………………. 3
1.1.3 Khái niệm “sản phẩm du lịch” ……………………………………………………………………… 4
1.1.4 Xu hướng phát triển của du lịch trong tương lai ……………………………………………. 5
1.1.5 Tác động của du lịch đến kinh tế - xã hội ……………………………………………………… 6
1.1.6 Ý nghĩa kinh tế, nhân văn của việc phát triển du lịch ……………………………………. 6
1.2 Cơ sở lý luận về City tour ………………………………………………………………………………………. 8
1.2.1 Khái niệm và vai trò của City tour trong du lịch …………………………………………... 8
1.2.2 Đối tượng khách của City Tour ……………………………………………………………………... 8
1.3 Kinh nghiệm tổ chức City tour của một số thành phố trong khu vực …………………….. 8
1.3.1 Malacca - Malaysia …………………………………………………………………………………………. 9
1.3.2 Bangkok – Thái Lan ………………………………………………………………………………………... 9
1.3.3 Singapore……………………………………………………………………………………………………..…… 9
Kết luận chương I …………………………………………………………………………………………………………….. 11

Chương II: Thực trạng hoạt động của loai hình City tour ở TP.HCM hiện nay ……... 12
2.1 Khái quát về du lịch Việt Nam ……………………………………………………………………………... 12
2.2 Tiềm năng để phát triển du lịch ở TP.HCM …………………………………………………………. 13
2.2.1. Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm đa văn hóa ……………………………… 13
2.2.2. Thành phố Hồ Chí Minh với nhiều điểm tham quan không thể bỏ qua ……... 13
2.2.3. Thành phố với nhiều dịch vụ vui chơi – giải trí …………………………………………. 14
2.2.4. Ẩm thực Sài Gòn ………………………………………………………………………………………… 14
2.2.5. Mua sắm ……………………………………………………………………………………………………… 15

3.4.4 Kiến nghị với các công ty du lịch …………………………………………………………. 47
Kết luận chương III …………………………………………………………………………………………………………... 49
Kết luận ………………………………………………………………………………………………………………………………….. 50
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục

DANH MỤC BẢNG BIỂU
-------------------------

Bảng 2.1 Số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam (nghìn lượt) ………………………. 13
Bảng 2.2. Lượt khách quốc tế đến TP.HCM ………………………………………………………………. 17
Bảng 2.3. Khách du lịch trong nước do ngành du lịch phục vụ.………………………………….. 18
Bảng 2.4 Doanh thu ngành du lịch TP.HCM (tỷ đồng) ………………………………………………..18

LỜI MỞ ĐẦU
Ý nghĩa của đề tài: Trong xu thế phát triển ngày nay, du lịch trở thành một trong những ngành
được Đảng và Nhà nước lựa chọn là ngành kinh tế mũi nhọn. Đặc biệt, khi đời sống vật chất và
tinh thần của con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu du lịch ngày càng gia tăng. Đây
thật sự là một biểu hiệu đáng mừng đối với du lịch cả nước nói chung và du lịch TP.HCM nói
riêng.
Hơn 300 năm hình thành và phát triển, TP.HCM được vinh danh là “hòn ngọc viễn
đông” và thật sự “hòn ngọc” này đang tỏa sáng, trở thành trung tâm du lịch lớn của cả nước với
nhiều loại hình du lịch phong phú như MICE, Carnavan, các loại hình du lịch truyền thống như
du lịch văn hóa, nghỉ dưỡng, mua sắm, du lịch sinh thái... đặc biệt là loại hình City tour đã góp
phần quan trọng trong việc quảng bá hình ảnh thành phố đến bạn bè khắp nơi trên thế giới. Tuy
nhiên, nếu so sánh City tour của TP.HCM với City tour của các thành phố lớn trong nước như
Đà Nẵng hay trong khu vực như Pattaya, Bangkok của Thái Lan hoặc thủ đô Singapore và
Malacca của Malaysia thì kết quả này vẫn còn chưa tương xứng với tiềm năng to lớn của
TP.HCM do chưa được quan tâm đúng mức và khai thác hiệu quả.
Mặc dù đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu về du lịch TP.HCM và bước đầu đạt được

của ngành du lịch thành phố, kết quả khai thác loại hình City tour trong 5 năm vừa qua. Những
dữ liệu này được khai thác từ Sở Du lịch, các bài viết của các chuyên gia trên các báo, phương
tiện truyền thông của ngành.
o Nguồn thông tin sơ cấp: kết quả điều tra, phỏng vấn du khách bằng bảng câu hỏi.
Trên cơ sở thống kê các thông tin cần tìm kiếm cũng như có thể phục vu cho bài nghiên cứu,
nhóm thiết kế một bảng câu hỏi bao gồm những câu hỏi định tính và những câu hỏi định lượng.
Các câu hỏi định lượng được tập trung vào thang định danh và thang đo khoảng (thang Likert).
 Mẫu nghiên cứu
o Cỡ mẫu: 120
o Cơ cấu: Khách quốc tế 60
Khách nội địa 60
 Phương pháp thu thập dữ liệu: khảo sát, phỏng vấn trực tiếp du khách, công ty, đơn vị
sự nghiệp để lấy thông tin sơ cấp; sử dụng các công cụ hỗ trợ như Internet, máy tính để thu
thập thông tin thứ cấp từ các sở, các hiệp hội, các công ty ở TP.HCM.
 Phương pháp xử lý thông tin: phương pháp tổng hợp và xử lý bằng chương trình
Microsoft Excel, so sánh kết quả hoạt động của các năm rồi đi đến kết luận. Phương pháp quy
nạp: tổng kết kết quả điều tra thực tế.
 Phương pháp phân tích thống kê dựa trên cơ sở các số liệu, dữ liệu, các yếu tố tác động
vào môi trường hoạt động của du lịch thành phố và loại hình city tour mà nhóm đã thu thập.
Tính mới của đề tài
Đề tài cập nhật những thông tin, số liệu mới, mang lại những giải pháp mới phù hợp với tình
hình hiện nay, khắc phục được một số hạn chế của các đề tài về du lịch TP.HCM trước đó.
Đề tài nghiên cứu chuyên sâu về City tour và có những giải pháp cụ thể, vừa làm mới được
City tour, vừa góp phần làm tăng sức cạnh tranh của các loại hình du lịch tại thành phố và các
vùng lân cận khác.
Bố cục: đề tài được chia thành ba chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về du lịch và City tour
Chương II: Thực trạng hoạt động của loai hình City tour ở TP.HCM hiện nay
Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị


sau: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu
tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định".
Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, nhiều thành phần tham gia, tạo thành một
tổng thể hết sức phức tạp. Nó vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế, vừa có đặc điểm của
ngành văn hóa – xã hội.
1.1.2 Khái niệm “khách du lịch”
Định nghĩa của quốc tế về Khách du lịch:
Ngày 4/3/1993, theo đề nghị của Tồ chức Du lịch thế giới, Hội đồng thống kê Liên Hiệp Quốc
đã công nhận những thuật ngữ sau để thống nhất việc soạn thảo thống kê du lịch:
Khách du lịch quốc tế (International tourist):
Khách du lịch quốc tế đến (Inbound tourist): bao gồm những người khách từ nước
ngoài đến du lịch một quốc gia.
Khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (Outbound tourist): gồm những người đang sống
trong một quốc gia đi du lịch nước ngoài.
Khách du lịch trong nước (Internal tourist): gồm những người là công dân của một
quốc gia và người nước ngoài đang sống trên lãnh thổ của quốc gia đó đi du lịch trong nước.
Khách du lịch nội địa (Domestic tourist): bao gồm khách du lịch trong nước và khách
quốc tế đến. Đây là thi trường cho các cơ sở lưu trú và các nguồn thu hút du khách trong một
quốc gia.
Khách du lịch quốc gia (National tourist): bao gồm khách du lịch trong nước và khách
quốc tế ra nước ngoài. Đây là thị trường cho các đại lý lữ hành và các hãng hàng không.
Xét một cách tổng quát, khách du lịch có đặc điểm nổi bật như sau: Khách du lịch phải là
người khởi hành rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình (ở đây, tiêu chí quốc tịch không
quan trọng, mà là tiêu chí nơi ở thường xuyên). Khách du lịch có thể khởi hành với nhiều mục
đích khác nhau loại trừ mục đích lao động kiếm tiền ở nơi đến.
Những người sau đây không được xem là khách du lịch: Những người đi học, những người di
cư, tị nạn, những người làm việc tại các đại sứ quán, lãnh sự quán. Những người thuộc lực
lượng bảo an của LHQ và một số đối tượng khác.
Định nghĩa về khách du lịch của Việt Nam:
Trong pháp lệnh Du lịch của Việt Nam năm 1999, quy định:

sản phẩm du lịch không thể dịch chuyển được. Trên thực tế, không thể đưa sản phẩm du lịch
đến nơi có khách du lịch mà bắt buộc khách du lịch phải đến nơi có sản phẩm du lịch để thỏa
mãn nhu cầu của mình thông qua việc tiêu dùng sản phẩm du lịch.
Đặc điểm này của sản phẩm du lịch là một trong những nguyên nhân gây khó khăn cho các
nhà kinh doanh du lịch trong việc tiêu thụ sản phẩm du lịch.
Phần lớn quá trình tạo ra và tiêu dùng sản phẩm du lịch trùng nhau về thời gian và
không gian. Chúng không thể được cất đi, tồn kho như các hàng hóa thông thường khác. Do
vậy, để tạo sự ăn khớp giữa sản xuất về tiêu dùng là rất khó khăn. Việc thu hút khách du lịch
nhằm tiêu thụ sản phẩm du lịch là vấn đề vô cùng quan trọng đối với các nhà kinh doanh du
lịch.
Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch thường không diễn ra đều đặn mà có thể chỉ tập trung
vào những thời gian nhất định trong ngày (đối với sản phẩm ở bộ phận nhà hàng), trong tuần
(đối với sản phẩm của thể loại du lịch cuối tuần), trong năm (đối với sản phẩm của một số loại
hình như: du lịch nghỉ biển, du lịch nghỉ núi…)
Vì vậy, trên thực tế, hoạt động kinh doanh du lịch thường mang tính mùa vụ. Sự dao động về
thời gian trong tiêu dùng du lịch gây khó khăn cho việc tổ chức hoạt động kinh doanh và từ đó
ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của nhà kinh doanh du lịch. Khắc phục tính mùa vụ trong
kinh doanh du lịch luôn là vấn đề trăn trở cả về mặt thực tiễn cũng như về mặt lý luận.
1.1.4 Xu hướng phát triển du lịch trong tương lai
 Xu hướng phát triển của cầu du lịch
Du lịch đang và sẽ trở thành nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống của con người vì đời sống
người dân ngày càng được cải thiện. Ở các nước có nền kinh tế phát triển, du lịch trở thành tiêu
chuẩn đánh giá mức sống và chất lượng cuộc sống của các tầng lớp dân cư trong xã hội.
Sự thay đổi về hướng và về phân bố của luồng khách du lịch quốc tế: việc quần chúng
hóa trong hoạt động du lịch và khả năng đi du lịch xa hơn kéo theo nhiều biến đổi trong hướng
vận động của khách là khắp trên toàn cầu.
Khu vực Đông Nam Á - Thái Bình Dương có tốc độ phát triển của ngành du lịch cao hơn rất
nhiều so với tốc độ phát triển trung bình của toàn ngành du lịch trên thế giới.
Sự thay đổi trong cơ cấu chi tiêu của khách du lịch: những năm trước đây, tỷ trọng chi
tiêu của khách du lịch cơ bản (ăn, ở, vận chuyển) chiếm phần lớn. Hiện nay thì tỷ trọng chi tiêu

khách, dịch vụ y tế, giải trí…)
Việc tiêu dùng các dịch vụ du lịch và hàng hóa (chủ yếu là thức ăn) xảy ra trong cùng một
thời gian và tại cùng một địa điểm xảy ra chúng, thông thường theo thời vụ.
Những đặc điểm trên hình thành mối quan hệ trong tiêu dùng du lịch: các mối quan hệ vật
chất nảy sinh khi khách đến nơi du lịch và mua dịch vụ, hàng hóa ở đó bằng tiền tệ; các mối
quan hệ phi vật chất nảy sinh khi khách tiếp xúc với con người, với văn hóa, phong tục và tập
quán của người địa phương.
1.1.6 Ý nghĩa kinh tế, nhân văn của việc phát triển du lịch
 Trong nước
Tham gia tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân (sản xuất ra đồ lưu niệm, chế
biến thực phẩm, xây dựng các cơ sở vật chất kỹ thuật…) làm tăng thêm tổng sản phẩm quốc
nội.
Tham gia tích cực vào quá trình phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng. Hay nói
cách khác, du lịch tác động tích cực vào việc làm cân đối cấu trúc của thu nhập và chi tiêu của
nhân dân các vùng.
Du lịch nội địa phát triển sẽ góp phần củng cố sức khỏe cho nhân dân lao động và góp
phần làm tăng nâng suất lao động xã hội.
 Quốc tế:
Làm tăng thu nhập quốc dân thông qua thu ngoại tệ, đóng vai trò quan trọng trong việc
cân bằng cán cân thanh toán quốc tế.
Cùng với hàng không dân dụng, kiều hối, cung ứng tàu biển, bưu điện quốc tế, chuyển
giao công nghệ và các dịch vụ thu ngoại tệ khác. Đây là tác động trực tiếp nhất của du lịch đối
với nền kinh tế, nhiều nước trong khu vực và trên thế giới đã từng thu hàng tỷ USD mỗi năm
thông qua việc phát triển du lịch.
Du lịch là hoạt động xuất khẩu có hiệu quả cao nhất. Hàng hóa được trao đổi qua con
đường du lịch được xem là hàng hóa “ xuất khẩu tại chỗ” không phải chịu hàng rào thuế quan
mậu dịch quốc tế và được bán với giá bán lẻ cao hơn nhiều với giá bán qua xuất khẩu. Đặc biệt
du lịch còn là ngành “xuất khẩu vô hình” vì hàng hóa là cảnh quan thiên nhiên, văn hóa lịch
sử… sẽ không bị mất đi qua mỗi lần bán thậm chí giá trị và uy tín của nó còn tăng lên qua mỗi
lần đưa ra thị trường nếu như chất lượng phục vụ du lịch cao.

(khách du lịch tiềm năng rất dễ từ chối một chuyến đi du lịch đã định). Do vậy, việc đảm bảo
doanh thu và phát triển của ngành du lịch là khó khăn hơn so với các ngành khác. Nếu tỉ trọng
của ngành du lịch là lớn trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của một nước thì nền kinh tế của
nước đó có nhiều khả năng bấp bênh hơn.
Tạo ra sự mất cân đối và mất ổn định trong một số ngành và trong việc sử dụng lao động
của du lịch. Nguyên nhân chính ở đây là do ngành du lịch có liên kết mật thiết với nhiều ngành
của nền kinh tế quốc dân mà thường thì tiêu dùng du lịch lại xảy ra theo thời vụ. Chính tính
thời vụ đó cũng làm ảnh hưởng đến việc sử dụng lao động của du lịch.
Làm ô nhiễm môi trường hoặc tài nguyên thiên nhiên của đất nước; gây ra một số tệ nạn
xã hội (do kinh doanh các hình thức du lịch không lành mạnh) và các tác hại sâu xa khác trong
đời sống tinh thần của một dân tộc.
1.2 Cơ sở lý luận về City tour
1.2.1 Khái niệm và vai trò của City tour trong du lịch
City tour (hay tour tham quan thành phố) là sản phẩm du lịch mà các thành phố có nền du
lịch phát triển chú trọng, quan tâm và các doanh nghiệp lữ hành cố gắng khai thác sản phẩm
những đặc thù của thành phố. Du khách tham quan, tìm hiểu về văn hóa, đời sống của người
dân ở thành phố mà họ đến thăm. Thời gian tham quan thường từ nửa ngày đến một ngày. Du
khách chỉ cần mua vé một lần là có thể tham quan thành phố cả ngày bằng các phương tiện
chuyên dùng cho City tour. Những phương tiện này có thể là xe buýt, xe điện hay các phương
tiện đặc trưng của thành phố, có lộ trình cố định ngang qua các địa điểm tham quan chính của
TP. Thời gian khoảng cách các chuyến là khoảng 30 phút.
City tour góp phần làm đa dạng những sản phẩm du lịch của địa phương và tăng sức thu
hút du khách. City tour cũng góp phần khai thác hiệu quả các tài nguyên du lịch của địa
phương và đóng góp vào doanh thu và quảng bá du lịch ở thành phố đó.
1.2.2 Đối tượng khách của City tour
Phần lớn là lượng khách quốc tế có thời gian lưu trú lại thành phố từ 24 giờ trở lên; các
nhóm khách tàu biển, khách MICE cũng là những đối tượng có thể trở thành thị trường tiềm
năng của City tour. Bên cạnh đó, City tour cũng phục vụ cho đối tượng khách nội địa, thích tìm
hiểu thêm về văn hóa, lịch sử hình thành và phát triển… của thành phố đó.
1.3 Kinh nghiệm tổ chức City tour ở một số thành phố trong khu vực

1.3.3 Singapore
Mặc dù là đảo quốc có diện tích khiêm tốn (692.7 km
2
) nhưng kinh nghiệm làm du lịch thành
phố của Singapore rất chuyên nghiệp và có thể tham khảo.
Giao thông: Đầu tiên là hệ thống giao thông tiên tiến bậc nhất thế giới, thuận tiện cả đường
hàng không, đường biển và đường bộ. Từ sân bay Changi ở cửa ngõ chính liên kết Singapore
với thế giới, du khách có thể di chuyển giữa các nhà ga T1, T2 và các nhà ga phục vụ hàng
không giá rẻ bằng xe trung chuyển miễn phí. Du khách có thể mua thẻ EZ Link (có thể dùng để
đi tất cả các tuyến xe buýt, MRT – một loại gần giống tàu điện ngầm, hoặc thành toán tại các
quầy thức ăn nhanh (như MacDonald’s) trị giá 15SGD. Đi lại ở Singapore vô cùng dễ dàng vì
bản đồ đường sá được phát miễn phí ở các sân bay, nhà ga, trạm xe buýt hay ga MRT bằng cả
ba thứ tiếng: Anh, Hoa, Tamil.
Tại Singapore cũng có trishaw tour nhưng cách làm bài bản và quy mô cũng lớn hơn nhiều. Họ
có rất nhiều brochure phát hành tại khách sạn, sân bay, nhà hàng… có tuyến đường phù hợp
cho du lịch. Hiện có 2 tuyến, một chạy trong Chinatown và một chạy trong khu Little India,
qua những địa điểm, công trình kiến trúc văn hóa, tôn giáo nổi bật, khu trung tâm… Cứ đến
giờ thì đoàn xe xuất phát. Một chuyến trishaw kéo dài 30-40 phút. Giá 25-35 đô la Singapore,
khách đi theo nhóm sẽ được giảm giá. Có 4 công ty điều hành được cấp giấy phép là
Alphaland Travel Services Pte Ltd, Pedicab Tours Pte Ltd, Triwheel Tours Pte Ltd và
Singapore Explorer Pte Ltd. Trishaw tour của Singapore được du khách quốc tế biết đến rộng
rãi và đã được định hình.
Môi trường: Singapore có môi trường trong lành, sạch sẽ nhờ vào ý thức cao của người dân.
Đây cũng là một “sản phẩm du lịch” hấp dẫn du khách đến đây. Chính phủ Singapore có chính
sách xử phạt nặng các trường hợp vi phạm dù là khách nước ngoài hay dân bản xứ. Ở các nơi
công cộng đều có những bảng quy định các hành vi sẽ bị xử phạt.
Một kinh nghiệm quý báo đó là Singapore áp dụng chính sách đồng giá, tuyệt nhiên không có
cảnh “chặt chém” du khách, dù là người Singapore hay du khách đều trả một giá như nhau, và
tất nhiên là cũng không có cảnh chèo kéo, ăn xin như ở thành phố chúng ta hiện nay.
Mặc dù diện tích đất nước khá nhỏ nhưng sản phẩm du lịch của Singapore vô cùng phong phú.

khu Little Indian mở cửa 24/24. Đường phố ban đêm ở đây cũng rất an toàn. Giá cả và các
chương trình khuyến mãi được thông tin trên các tờ báo địa phương. Các cửa hàng đều niêm
yết giá cố định. Ở đây, thẻ tín dụng và thẻ thanh toán được chấp nhận rộng rãi.
Như vậy với tất cả những tour cũng như những dịch vụ được nêu ra như trên đã tạo nên một
city tour Singapore vô cùng độc đáo, du khách sẽ cảm nhận được ngay sự hiện đại, tiện nghi
cao nhất mà thành phố này mang lại cho họ.
(Xem hình 1.3.3A và 1.3.3B ở phần phụ lục) Kết luận chương I

Du lịch là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia và đã đóng góp
một phần không nhỏ vào tỉ trọng thu nhập quốc dân và đồng thời nâng cao mức sống con
người.
Sản phẩm du lịch thành phố Hồ Chí Minh rất đa dạng trong đó City tour là loại hình có
tiềm năng phát triển và thu hút được nhiều du khách trong và ngoài nước. Trong chương I bài
nghiên cứu đã trình bày những vấn đề về sản phẩm du lịch, những đặc trưng của sản phẩm du
lịch, về City tour và sự cần thiết của City tour đối với ngành du lịch TP.HCM. Đặc biệt, nhóm
đã giới thiệu đôi nét về kinh nghiệm kinh doanh loại hình City tour ở Malaysia, Thái Lan và
Singapore; một điều dễ dàng nhận thấy ở cả ba quốc gia du lịch nàylà họ biết tận dụng và khai
thác tốt các thế mạnh, tiềm năng, những đặc trưng của mình để làm nên một City tour đậm đà
bản sắc quốc gia.
Trên cơ sở những khái niệm, những kinh nghiệm đã được trình bày ở chương I, bài
nghiên cứu sẽ tập trung phân tích những thực trạng hoạt động của City tour TP.HCM hiện nay
ở chương II.

2.1 Khái quát về du lịch Việt Nam

(%)
8,91 12,76 -7,56 20,51 18,77 3,05 17,2
16,6

Nguồn: Tổng cục Thống kê
Năm 2003 và 2004, do ảnh hưởng bởi các yếu tố khách quan như: dịch SARS, dịch cúm
gia cầm… đã làm cho ngành du lịch bị thiệt hại nặng nề, điển hình là vào năm 2003, lượng
khách quốc tế đến Việt Nam có mức tăng trưởng âm do lượng khách đã bị giảm sút gần 200
lượt so với năm 2002. Tuy nhiên, theo dự báo của Hội đồng Thương mại và Du lịch Thế giới,
Việt Nam sẽ là một trong 10 điểm đến du lịch năng động nhất trong thập kỷ tới và thật sự đã
đạt được danh hiệu này vào giữa năm 2008. Còn tạp chí Nhà Kinh tế của Anh có bài viết về sự
phát triển nhanh chóng của Ngành Du lịch Việt Nam, trong đó nhận xét Du lịch Việt Nam có
thể đang bùng nổ. Cũng trong khảo sát hàng năm gần đây nhất do Hội đồng Du lịch Thế giới
(WTTC) đưa ra, Việt Nam là nước đứng thứ 4 trong danh sách các nước có lượng khách du
lịch đến tham quan tăng nhiều nhất. Năm 2007, Việt Nam đã đón 4,2 triệu lượt khách du lịch
nước ngoài, tăng 17,2% so với năm 2006; khách nội địa đạt 19,2 triệu lượt , tăng 9,7% so với
năm 2006. Th nhập xã hội về du lịch đạt trên 56.000 tỉ đồng, tăng 9,8% so với năm 2006.
(Thông tin từ số liệu thống kê của Tổng Cục Du lịch). Và trong 5 tháng đầu năm 2008, khách
quốc tế đến Việt Nam ước đạt 2,1 triệu lượt, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm 2007.
Kết quả điều tra đã cho thấy lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam từ lần thứ 2, thứ 3
trở đi đã tăng đáng kể kể từ năm 2003 đến nay. Trong năm 2005, tỷ lệ du khách đến Việt Nam
lần thứ 2 tăng 6,4% so với năm 2003 và đến lần thứ 3 tăng 3% chủ yếu từ các nước châu Á và
trong khu vực ASEAN như: Campuchia, HongKong, Đài Loan, Trung Quốc, Malaysia… Điều
này chứng tỏ du lịch Việt Nam ngày càng hấp dẫn và thu hút hơn đối với du khách quốc tế.
Bên cạnh những thuận lợi đó, du lịch Việt Nam vẫn còn tồn tại các yếu tố bất lợi gây nhiều
khó khăn và làm giảm hiệu quả kinh doanh du lịch của nước nhà như: cơ sở hạ tầng và cơ sở
vật chất kỹ thuật còn hạn chế, chất lượng dịch vụ và môi trường chung chưa cao, việc quản lý
và thực hiện những quy định và quy hoạch còn chưa nghiêm túc và hiệu quả, các hoạt động
quảng bá, thông tin du lịch còn hạn chế, hiệu quả thấp, sản phẩm du lịch chưa phong phú…
Nền kinh tế tăng trưởng nóng cũng đã kìm nén tốc độ tăng trưởng của du lịch. Tỉ lệ lạm phát

Người Pháp đã để lại nhiều công trình đẹp và đa dạng. Có thể nói hiếm có đô thị nào ở
Đông Nam Á lại có nhiều dạng kiến trúc, nhiều trường phái, phong cách nghệ thuật phương
Tây như Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh. Điển hình như trụ sở Ủy ban Nhân dân Thành
phố theo phong cách Đệ Tam Cộng hòa Pháp, Ngân hàng Nhà nước chịu ảnh hưởng trào lưu
Tân Nghệ thuật, Nhà Thiếu nhi với phong cách Tân Cổ điển, Nhà Rồng phong cách Đông
Dương, Bưu điện thành phố với trường phái Chiết Trung, nhà thờ Đức Bà với nghệ thuật
Rôman, nhà thờ Huyện Sĩ theo Tân Gôtic…
Mảng kiến trúc đương đại, đang bùng nổ, trăm màu trăm vẻ, tạo cho thành phố một diện
mạo vui mắt, trong đó có một số tòa nhà đẹp, có giá trị thẩm mỹ cao.
Điểm du lịch độc đáo nhất của thành phố vẫn là Địa đạo Củ Chi, một công trình độc đáo
trong lịch sử quân sự thế giới, biểu tượng của ý chí sắt đá và thông minh mưu trí của quân dân
thành phố trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Lẫy lừng không kém là rừng ngập mặn
Cần Giờ với những trận chiến phá tàu giặc trên cửa sông Sài Gòn, nay là một điểm du lịch sinh
thái tuyệt vời với những cánh rừng đước xanh vô tận.
Nói về không gian xanh thì thành phố có nhiều công viên, khu vui chơi như Thảo cầm
viên, công viên văn hóa Đầm Sen, công viên Tao Đàn, công viên 30/4, Lê Văn Tám… là
những mảng phổi xanh của thành phố, vừa làm điều hòa nhiệt độ và môi trường vừa là nơi vui
chơi giải trí, bộ mặt văn minh, vẻ mỹ quan của thành phố.
2.2.3. Thành phố với nhiều dịch vụ vui chơi – giải trí
Cùng với sự phát triển kinh tế, mức sống được nâng cao, hoạt động vui chơi giải trí ngày
càng được quan tâm hơn để đáp ứng nhu cầu thư giãn, nghỉ ngơi của người dân thành phố sau
những giờ lao động căng thẳng. Sự phát triển về du lịch nảy sinh yêu cầu phục vụ du khách
cũng đã góp phần làm phong phú thêm lĩnh vực dịch vụ này.
Các hoạt động vui chơi giải trí của thành phố khá đa dạng và luôn có sự đổi mới, sáng tạo,
chất lượng phục vụ không ngừng được nâng cao. Không lâu sau chính sách mở cửa, các điểm
vui chơi đã nhanh chóng nắm bắt các công nghệ giải trí hiện đại của thế giới, từ các trò chơi
cảm giác mạnh, trò chơi cảm giác ảo, trò chơi dưới nước, kỹ thuật ánh sáng laser cho đến
những tạp kỹ xuất xứ từ những miền đất lạ như xiếc cá heo, xiếc cá voi… Ngay các quán cà
phê, karaoke hay bar, discotheque cũng không ngừng nâng cấp trang thiết bị âm thanh, ánh
sáng, tạo phong cách và không khí riêng. TP.HCM được xem là nơi phồn hoa nhất nước, tập

làm nên một Sài gòn đa dạng về phong cách ẩm thực.
2.2.5. Mua sắm
Một trong những thú vui khi đến thành phố Hồ Chí Minh là đi dạo phố và mua sắm.
Hàng hóa thật phong phú, đủ màu sắc, đủ chủng loại, từ những vật dụng thông thường hàng
ngày cho đến những đặc sản nổi tiếng của mọi miền đất nước, từ hàng sản xuất trong nước đến
những nhãn hiệu quốc tế có uy tín trên thế giới. Cửa hàng thường trang trí rất đẹp, nhất là các
cửa hàng thủ công mỹ nghệ và thời trang, mỗi cửa hàng như một tác phẩm nghệ thuật nho nhỏ.
Chợ Lớn đã nổi tiếng từ bao đời nay với tay nghề tiểu thủ công nghiệp. Vì thế, không lạ khi
hàng hóa ở đây rất dồi dào. Nhưng có lẽ bạn cũng vẫn ngạc nhiên khi phát hiện việc tìm mua
một đặc sản địa phương ở Sài Gòn có khi còn dễ dàng hơn là tại chính nơi xuất xứ; hoặc phát
hiện khá nhiều các sản phẩm địa phương nay được sản xuất tại Sài Gòn với chất lượng cao
hơn. Ngoài chợ Bến Thành, du khách có thể mua sắm ở bất cứ cửa hàng nào trên các con
đường như Đồng Khởi, Đông Du hay một cửa hàng nào với giá cả phải chăng.
Ngày nay, khó có thể nói cái gì là đặc sản của thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng chắc chắn
hàng hóa phong phú và đa dạng ở đây sẽ làm hài lòng du khách gần xa.
2.2.6. Khách sạn
Hệ thống khách sạn bao gồm từ những khách sạn cao cấp do các tập đoàn quốc tế hàng đầu
như Accor, Furama, Mariot hay Shareton quản lý, các khách sạn đã có quá trình hoạt động cả
trăm năm mà dịch vụ được ngay cả các vị nguyên thủ quốc gia, các doanh nhân tầm cỡ khen
ngợi, được các tổ chức quốc tế về du lịch trao tặng nhiều giải thưởng và danh hiệu về chất
lượng cao cho đến các khách sạn bình dân đáp ứng nhiều nhu cầu linh động và đa dạng của
khách.
Phần lớn các khách sạn đều chiếm những vị trí đẹp nhất trong trung tâm thành phố, gần các
khu thương mại, cận kề sân bay, nhà ga, bến xe… Và đặc điểm chính là các khách sạn đều có
tính chuyên nghiệp cao, từ cơ sở vật chất và trang thiết bị cho đến các dịch vụ và phong cách
phục vụ. Mỗi khách sạn thường lựa chọn một ấn tượng riêng: Caravelle là khách sạn thương
nhân tuyệt hảo, Rex là "Ngôi nhà Việt Nam", Majestic với vẻ thanh lịch cổ điển phương Tây,
Bông Sen gây ấn tượng bằng ẩm thực "buffet gánh", Đệ Nhất nổi tiếng với dịch vụ tiệc cưới…
Ngay những khách sạn nhỏ cũng tạo phong cách như sự phục vụ tận tâm, thân tình như trong
gia đình, hay những dịch vụ đáp ứng mọi yêu cầu nho nhỏ của khách.

men theo đồi núi.
"Thành phố Hoa" Đà Lạt, ngược hướng đông bắc, nổi tiếng là một địa điểm nghỉ mát tuyệt
vời với khí hậu mát mẻ, không khí trong lành và cảnh thiên nhiên thơ mộng.
(Xin xem thêm phụ lục 4: Giới thiệu tổng quát về TP.HCM) 2.3 Kết quả hoạt động của ngành du lịch thành phố trong vài năm gần đây
2.3.1 Lượng khách đến TP.HCM
Bảng 2.2. Lượt khách quốc tế đến TP.HCM
Năm
Lượt khách
QT đến
TP.HCM
Tốc độ tăng
trưởng (%)
Phương tiện vận chuyển
Đường không Đường biển Đường bộ
2001 1.226.400 +11,5 1.066.645 12.581 147.174
2002 1.433.000 +16,8 1.279.782 10.272 142.946
2003 1.302.000 -9,00 1.130.689 4.002 167.309
2004 1.580.000 +21,0 1.380.000 15.000 185.000
2005 2.000.000 +27,0 1.753.784 6.587 239.629
2006 2.350.000 +17,5 1.858.000 20.000 472.000
2007 2.700.000 +14,8 2.100.000 50.000 600.000
6 tháng đầu
2008
1.487.000 +16,0 1.200.000 21.000 266.000

Nguồn: Sở Du lịch TP.HCM
Năm 2003, lượng khách quốc tế đến Tp.HCM giảm gần 9% so với năm 2002 do ngành du lịch

caravan của ngành du lịch thành phố.
Xét về mục đích, khách đến du lịch, nghỉ ngơi là 1.600.000 lượt, tăng 15 %; khách đến
đầu tư thương mại là 580.000 lượt, tăng 15 %; khách đến vì các mục đích khác là 520.000 lượt ,
tăng 5%.
Xét về thị trường khách trong 6 tháng đầu năm 2008, 10 thị trường khách hàng đầu (theo
thứ tự) là: Mỹ (tăng 11%), Nhật (giảm 7%), Đài Loan (tăng 8%), Hàn Quốc (tăng 8%), Úc
(tăng 8%), Trung Quốc (tăng 33%), Singapore (tăng 31%), Pháp (tăng 25%), Malaysia (tăng
32%), Canada (tăng 12%). Các thị trường khách đều có tỷ lệ tăng trưởng khá từ 10 – 15% so
với cùng kỳ. Trong đó tăng mạnh và ổn định nhất là các thị trường Trung Quốc, Singapore, Úc,
Malaysia, Hàn Quốc.Trong khi đó thị trường Nga – chủ yếu là khách đoàn đi theo loại hình
MICE- tuy chưa nằm trong 10 thị trường hàng đầu nhưng tiếp tục có mức tăng trưởng khá cao
(66%) hứa hẹn sẽ có bước phát triển nhanh nếu như làm tốt công tác quảng bá hình ảnh Việt
Nam ngay tại Nga.
Căn cứ vào xu hướng phát triển du lịch của thế giới, đồng thời dựa trên những thành tựu đã đạt
được năm 2007, Ngành du lịch TP.HCM đã xây dựng các mục tiêu phấn đấu trong năm 2008:
lượng khách quốc tế phải đạt 3 triệu lượt, tăng 11% so với năm 2007, tổng doanh thu tăng 20%
so với năm 2007.
Bảng 2.3. Khách du lịch trong nước do ngành du lịch phục vụ
Năm Lượt khách nội địa TP.HCM Tốc độ tăng trưởng (%)
2003 2.400.000
2004 2.500.000 +4,17
2005 3.000.000 +20
2006 3.800.000 +26,67
Nguồn: Sở Du lịch Tp.HCM
2.3.2 Doanh thu: Bảng 2.4 Doanh thu ngành du lịch TP.HCM (tỷ đồng)
Năm Doanh thu ngành du lịch TPHCM Tốc độ tăng trưởng (%)
2002 2.580
2003 6.459 +150,35
2004 10.800 +67,21
2005 13.350 +23,60

phát triển các điểm du lịch và các lễ hội nhằm phục vụ cho nhu cầu du lịch thành phố nói
chung và phục vụ cho chương trình City tour nói riêng. Đây là những tín hiệu đáng mừng cho
hoạt động City tour nhưng việc tiến hành khai thác và đưa vào hoạt động còn gặp rất nhiều khó
khăn vì còn cần sự phối hợp của các đơn vị trong việc tạo ra môi trường du lịch an toàn và tạo
được sự thu hút của du khách.
Để đáp ứng nhu cầu tham quan của du khách thì hầu hết các công ty du lịch đều có
chương trình city tour riêng nhưng chỉ giới thiệu khi khách hỏi đến chứ không phải là chương
trình tour được quảng bá rộng rải. Các công ty chưa có các brochure giới thiệu về các chương
trình cũng như điểm đến của City tour.
Các công ty du lịch chỉ tập trung đón khách từ sân bay Tân Sơn Nhất về khách sạn và tập
trung giới thiệu các điểm đến lớn như Vũng Tàu, Đà Lạt, Nha Trang … Mà chưa chú trọng đến
việc khai thác điểm đến đầu tiên quan trọng là thành phố, đây là sự bỏ ngõ về việc kinh doanh
của nhiều công ty du lịch, nếu có thì chỉ sơ sài và chưa tạo được sự thu hút hay tò mò từ du
khách. Vì loại hình city tour chưa được các công ty chú trọng và đưa vào hoạt động quảng bá
nên nhóm nghiên cứu không có số liệu cụ thể thống kê các công ty có kinh doanh loại hình city
tour và số lượng khách tham gia chương trình tour.
Như đã phân tích ở phần trên thì city tour vẫn có hoạt động nhưng chỉ khi khách có yêu
cầu và chưa có các brochure quảng cáo, giới thiệu đến du khách trong và ngoài nước. Theo
khảo sát đối với khách du lịch nội địa và quốc tế cho thấy du khách biết đến TP.HCM thông
qua website của các công ty du lịch chiếm 28,6%; thông qua sách, tạp chí chiếm 25,1%; thông
qua giới thiệu của người thân bạn bè chiếm 1,2%; các nguồn khác chiếm 45,3%, trong đó:
phương tiện truyền thông chiếm 41,7%, tự tìm chiếm 3,6%. (xin xem chi tiết ở phụ lục 2B)
Mặc dù là một trong những loại hình du lịch đầy tiềm năng của du lịch thành phố nhưng vẫn
chưa có hoạt dộng xúc tiến riêng biệt và cụ thể nào. Việc quảng bá city tour vẫn lệ thuộc vào
các hoạt động tuyên truyền quảng bá của du lịch thành phố qua các sự kiện thường niên.
o Lễ hội đường hoa Nguyễn Huệ nhân dịp tết nguyên đáng (xin xem phụ lục 6)
o Ngày hội du lịch vào tháng 4 hàng năm (xem phụ lục 7 và Hình ảnh từ 2.4.1.1K đến
2.4.1.1.L)

Trích đoạn Đánh giá dịch vụ CityLook của Global MaiLinh Travel Đánh giá tác động của các yếu tố bên ngoài đến hoạt động Citytour Đánh giá tác động của các yếu tố bên trong đến hoạt động Citytour Đánh giá SWOT về Citytour TP.HCM Mục đích xây dựng các giải pháp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status