MỤC LỤC
Trang
Danh mục các ký hiệu viết tắt i
Danh mục các bảng ii
Danh mục các hình vẽ iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỊ
TRƢỜNG VÀNG 5
1.1 Đặc điểm của vàng 5
1.1.1. Vàng là một kim loại quý 5
1.1.2. Vàng là một hàng hóa đặc biệt 6
1.1.3. Vàng là dự trữ Quốc gia 11
1.2 Thị trường vàng 13
1.2.1. Tình hình khai thác và tiêu thụ vàng 13
1.2.2. Các hình thức giao dịch vàng 18
1.2.3. Các sàn giao dịch vàng trên Thế giới 22
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường vàng 26
1.3.1. Biến động cung – cầu về vàng 26
1.3.2. Chính sách tài chính – tiền tệ của các quốc gia 33
1.3.3. Các tác động khác 37
CHƢƠNG 2: CÁC NHÂN TỔ ẢNH HƢỞNG ĐẾN THỊ TRƢỜNG
VÀNG TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 40
2.1 Biến động giá vàng trên Thế giới và Việt Nam 40
2.1.1. Biến động giá vàng trước năm 2007 40
2.1.2. Biến động giá vàng từ năm 2007 đến nay 43
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường vàng Việt Nam 49
2.2.1. Giá vàng thế giới và cách quy đổi giá vàng theo VNĐ 49
2.2.2. Biến động cung – cầu trên thị trường vàng Việt Nam 50
2.2.3. Chính sách của Nhà nước 59
FED
Cục dự trữ liên bang Mỹ
4
GBP
Đồng Bảng Anh
5
IMF
Quỹ tiền tệ quốc tế
6
JPY
Đồng Yên Nhật Bản
7
NHNN
Ngân hàng Nhà nước
8
NHTM
Ngân hàng thương mại
9
NHTW
Ngân hàng Trung ương
10
SPDR Gold ETF
Quỹ đầu tư tín thác vàng SPDR
11
USD
Đồng Đô la Mỹ
12
VND
Đồng Việt Nam
ii
Bảng 2.2
Tình hình nhập khẩu – xuất khẩu vàng của Việt
Nam
54
7
Bảng 2.3
Thu nhập bình quân đầu người cả nước, Hà Nội và
Thành phố Hồ Chí Minh 2007 - 2011
55
8
Bảng 2.4
Lạm phát của Việt Nam từ 2007 đến 2011
55
9
Bảng 2.5
Chỉ số giá vàng và USD từ 2007 đến 2011
60
10
Bảng 2.6
Chỉ số giá vàng và USD năm 2011
64
iii
Danh mục các hình vẽ
STT
Số hiệu
Nội dung
Trang
1
Hình 1.1
Hình 2.4
Biến động chỉ số giá vàng và USD 2007 - 2011
61
9
Hình 2.5
Biến động chỉ số giá vàng và USD năm 2011
65
10
Hình 2.6
Chênh lệch giá vàng thế giới và Việt Nam
67
11
Hình 2.7
Chênh lệch giá giữa các thương hiệu vàng miếng
từ 30/9/2011 đến nay
79
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường vàng Việt Nam qua nhiều năm hình thành và hoạt động vẫn
là một thị trường phát triển ở mức độ thấp, chủ yếu chỉ kinh doanh vàng vật
chất. Trong khi, với bối cảnh kinh tế hiện nay, dưới tác động của khủng hoảng
kinh tế toàn cầu đi đôi với sự sụt giảm giá trị đồng USD – vốn được coi là
đồng tiền mạnh, luôn có mặt trong dự trữ ngoại hối của các Quốc gia; và tình
hình lạm phát trong nước kéo dài cùng sự sụt giảm trên thị trường chứng
khoán, bất động sản thì với tập quán tích trữ vàng lâu đời của người dân, hiện
chung nhất về thị trường vàng cũng như các nhân tố đặc trưng tác động đến
thị trường vàng Việt Nam và định hướng thuyết phục nhất để phát triển thị
trường vàng trong nước.
Luận văn tiến sĩ “Chiến lược kinh doanh vàng tại Thành phố Hồ Chí
Minh” của tác giả Nguyễn Hữu Định – Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí
Minh năm 1995 đề cập đến một số cơ sở lý luận về thị trường vàng, định
hướng phát triển hoạt động kinh doanh vàng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy
nhiên, do điều kiện kinh tế - xã hội tại thời điểm nghiên cứu và hiện nay có
nhiều đổi khác, một số kiến nghị chính sách tác giả đề cập đã được thực hiện
hoặc không còn phù hợp, do đó cần có nghiên cứu mới nhằm đưa ra giải pháp
phát triển thị trường vàng trong bối cảnh hiện nay.
Các đề tài khác như: Luận văn thạc sĩ “Các giải pháp phát triển kinh
doanh vàng tại Việt Nam” của tác giả Đặng Thị Tường Vân – Đại học Kinh tế
Thành phố Hồ Chí Minh 2008; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành KNH
2009-01 “Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh vàng theo
chức năng của Ngân hàng Trung ương”, chủ nhiệm đề tài Nguyễn Vân Anh
3
cũng đưa ra các góc nhìn mới về thị trường vàng nhưng chưa chỉ ra được các
nhân tố tác động đến thị trường vàng Việt Nam.
Để nghiên cứu, đánh giá các nhân tố tác động đến thị trường vàng Việt
Nam, tác giả chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hƣởng đến thị trƣờng vàng
trong nền kinh tế Việt Nam” cho luận văn thạc sĩ của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Trên giác độ nghiên cứu về mặt quản lý thị trường vàng, mục đích của
luận văn là đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường vàng Việt Nam, từ
đó đề xuất giải pháp cho Ngân hàng Nhà nước quản lý nhằm phát triển thị
trường vàng Việt Nam thời gian tới.
Do đó, trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả trả lời thêm các câu
hỏi phụ như sau:
trong giai đoạn tiếp theo.
5
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỊ TRƢỜNG VÀNG
1.1 Đặc điểm của vàng
1.1.1 Vàng là một kim loại quý
Vàng là nguyên tố hóa học có ký hiệu hóa học là Au. Đây là kim loại
quý trong ngành trang sức, điêu khắc và trang trí kể từ khi được xuất hiện
trong lịch sử. Ở khắp nơi trên Trái đất, vàng đều được thừa nhận là một kim
loại quý cùng với bạc, đồng, platin… vì:
- Vàng có tính bền vững hóa học rất cao, không bị tác dụng bởi oxy,
nitơ, hydro, cacbon… kể cả các loại acid, chỉ trừ halogen đun nóng và hỗn
hợp acid selentic (H
2
SeO
4
). Đây là đặc điểm vô cùng quan trọng của vàng,
nhờ tính bền vững hóa học đó mà con người đã sớm khai thác, sử dụng và tôn
quý nó.
- Vàng nguyên chất có vẻ đẹp bề ngoài sáng bóng dù khi đạt đến độ
nóng chảy (1062
0
C). Nếu tăng nhiệt độ lên 2970
0
C thì dung thể vàng bắt đầu
sôi. Chính sắc vàng rực rỡ, choáng ngợp ấy là điểm khởi đầu hấp dẫn con
người và biến nó thành người bạn đồng hành trong quá trình tiến hóa của
nhân loại;
- Vàng nguyên chất có độ dẻo cao, dễ dát thành lá mỏng dưới
1.1.2 Vàng là một hàng hóa đặc biệt
Với tính chất ưu việt và được công nhận rộng rãi, vàng đã trở thành
một vật chất đặc biệt mang hình thái hàng hóa – tiền tệ. Lịch sử tiền vàng kéo
dài hàng mấy nghìn năm và phổ biến trên khắp các nước với những biến cố,
những giai đoạn thăng trầm khác nhau. Khi đóng vai trò là tiền thì tiền vàng
đã có đầy đủ các chức năng của tiền tệ nói chung và cho đến ngày nay chưa
7
có loại tiền nào có chức năng đầy đủ như thế, bao gồm: chức năng phương
tiện thanh toán, thước đo giá trị và phương tiện tích trữ.
Chức năng quan trọng của tiền vàng là chức năng phương tiện thanh
toán: thanh toán trong nước và thanh toán quốc tế. Với chức năng này, tiền
vàng giúp cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, trao đổi hàng hóa giữa
những chủ thể cá biệt được thuận lợi, dễ dàng, đồng thời thúc đẩy trình độ
chuyên môn hóa và phân công lao động hợp lý giữa những nước có mở cửa
nền kinh tế. Đặc điểm phổ biến của vàng đã đưa vàng lên vai trò là một loại
tiền tệ quốc tế, vượt qua mọi biên giới, vượt lên trên mọi sự phân biệt chủng
tộc, đẳng cấp xã hội và độc lập với mọi thể chế chính trị cho đến khi toàn thể
nhân loại tìm ra và cùng chấp nhận một hình thái nào khác có đầy đủ các đặc
điểm và tính chất khả dĩ thay thế được vàng.
Tiền vàng có một chức năng quan trọng nữa là phương tiện thước đo
giá trị khi nó xác định chi phí sản xuất và giá cả của hàng hóa được mua bán.
Bằng cách sử dụng một đơn vị thanh toán chung khi quy định giá cả, mọi sự
giao dịch trong và ngoài nước được đơn giản hóa, đồng thời còn cho phép
thanh toán với các kỳ hạn nhất định. Lúc đó, tiền chỉ làm chức năng tiền kế
toán hay thước đo giá trị trên ý niệm;
Chức năng thứ ba của tiền vàng là một phương tiện tích trữ hữu hiệu,
biến tiền trở thành một loại của cải, tài sản an toàn. Việc tích trữ tiền không
chỉ diễn ra ở một cá nhân mà cả ở Nhà nước dưới dạng tài sản quốc gia, một
nguồn dự trữ bằng tiền vàng nhằm làm “tiền quốc tế” giải quyết các khó khăn
một phần quỹ vàng dự trữ quốc gia tại các NHTW khác.
Các NHTW thường có khuynh hướng tăng thêm quỹ vàng dự trữ thông
qua thị trường tự do hoặc qua các thỏa thuận song phương giữa các NHTW.
9
Vàng đã đóng vai trò đảm bảo giá trị cho các loại tiền tệ khác ngoài
tiền kim loại (tiền vàng, tiền bạc). Trước hết, đối với tiền giấy, vàng cũng là
cơ sở hình thành tiền giấy. Vào thế kỷ thứ XVII, Ngân hàng Amsterdam (Hà
Lan) đã cấp cho người có ký gửi vàng hay bạc những tấm biên lai có đặc
điểm chia thành nhiều tấm nhỏ và có thể đổi ra vàng tại Ngân hàng ký phát
hoặc chuyển nhượng cho người khác thụ hưởng nếu họ chịu nhận. Đây là một
sáng kiến thời đó, tuy chỉ được áp dụng một cách dè dặt: biên lai được cấp
cho chính người ký gửi vàng và có trị giá đúng bằng giá trị số vàng ký gửi.
Sau đó, theo dòng lịch sử, những tấm phiếu có hình thức như giấy bạc ngày
nay được phát hành và dần phát huy những chức năng của tiền tệ. Để kiểm
soát tình trạng hỗn loạn do một số Ngân hàng đã gây thiệt hại cho người dân
vì đã tin vào “tiền giấy” do những Ngân hàng tư nhân đó phát hành, Nhà nước
đã can thiệp đi từ kiểm soát phát hành đến độc quyền phát hành tiền giấy,
tương tự như việc đúc tiền vàng. Lúc đó, một số ít Ngân hàng tư có uy tín
được phép phát hành tiền giấy nhưng phải chấp nhận một số điều kiện kiểm
soát của Nhà nước như sau:
- Điều kiện tiên quyết: Số tiền giấy phát hành bất cứ lúc nào cũng có
thể đổi lấy tiền thực (tiền vàng) tại Ngân hàng phát hành;
- Điều kiện dự trữ pháp định: Để bảo đảm cho điều kiện khả hoán,
Ngân hàng phải luôn tồn trữ một số vàng tương ứng số tiền giấy đã phát hành
(thường chấp nhận từ 40% đến 60%);
- Những người lãnh đạo của Ngân hàng được bổ nhiệm với sự phê
chuẩn của Nhà nước;
- Ngân hàng phát hành phải trả một số thuế trên giá trị số tiền giấy phát
hành thặng dư so với số vàng bảo đảm;
11
quốc tế mà chưa có loại tiền nào khác có giá trị đủ mạnh, có sức thu phục
được niềm tin vào sự ổn định giá trị đó.
(Phụ lục 01: Vàng với hệ thống tiền tế quốc tế).
1.1.3 Vàng là dự trữ Quốc gia
Mức dự trữ vàng của toàn thế giới gần đây lên đến 130.000 tấn. Các
quốc gia, ngân hàng và quỹ đầu tư trên toàn thế giới tăng cường giữ vàng
trong danh mục đầu tư của mình để tránh nguy cơ giảm giá trị tài sản do lạm
phát và phá giá tiền tệ trong điều kiện suy thoái kinh tế toàn cầu như hiện nay.
Trong điều kiện bình thường của nền kinh tế, khi quá trình sản xuất và
tiêu dùng diễn ra bình thường, kinh tế ít biến động thì vàng ít được sử dụng
làm phương tiện thanh toán mà chủ yếu được giao dịch dưới dạng hàng hóa,
vì thế nhu cầu dự trữ vàng không lớn và thị trường vàng cũng ít biến động
lớn.
Tuy nhiên, khi nền kinh tế có những bất ổn như lạm phát tăng cao, giá
trị đồng tiền giảm sút, người ta tìm đến vàng như là loại hình thanh khoản ổn
định hoặc là tài sản dự trữ trước những nguy cơ rủi ro. Khi giá trị đồng tiền
suy giảm, dự trữ tiền bị mất giá, vàng sẽ trở thành loại hình đầu tư hấp dẫn so
với bất động sản, chứng khoán hay tiết kiệm và là công cụ bảo toàn giá trị cho
các nhà đầu tư, tránh rủi ro trước tác động của khủng hoảng tài chính và biến
động của thị trường. Trong lịch sử, khi niềm tin vào đồng tiền giấy suy giảm,
nhà đầu tư tìm đến giá trị thực chất của vàng để bảo vệ họ khỏi lạm phát.
Mỹ có số vàng dự trữ cao nhất Thế giới với khoảng gần 9000 tấn,
Trung Quốc, Nga và Hàn Quốc cũng đang tăng cường tăng lượng dự trữ vàng
trong năm 2011.
12
126,12
73.4
5
Pháp
2.684,6
125,28
71,8
6
SPDR Gold ETF (GLD)
1.213,9
64,53
7
Trung Quốc
1.161,9
54,22
1.8
8
Thụy Sỹ
1.146,5
53,5
15,8
9
Nga
960,1
44,8
9,2
10
Nhật Bản
843,5
13
1.2 Thị trƣờng vàng
Vàng là loại hàng hóa đặc biệt, do đó thị trường vàng cũng là thị trường
đặc biệt. Nó vừa mang hình thái của thị trường hàng hóa điển hình, vừa là một
bộ phận của thị trường tài chính, thể hiện thông qua các phương thức giao
dịch vàng và hoạt động của các sàn giao dịch vàng trên thế giới.
1.2.1 Tình hình khai thác và tiêu thụ vàng
Vàng có mặt trên mọi lục địa, trừ Nam Cực, nhưng cho đến nay, con
người mới chỉ khai thác được khoảng 182.787 tấn vàng. Trên thực tế, chỉ còn
khoảng 100.000 tấn vàng trong trữ lượng vàng đã được phát hiện của thế giới
có thể được khai thác có hiệu quả về mặt kinh tế trong tương lai. Mặt khác,
sản lượng vàng khai thác trên toàn cầu hàng năm khoảng 2.500 tấn. Như vậy,
trữ lượng vàng của thế giới có thể sẽ cạn kiệt trong vòng 4 thập niên tới đây.
Nhằm đáp ứng nhu cầu mạnh mẽ của thế giới đối với vàng, các quốc gia sản
xuất kim loại này đã đẩy mạnh khai thác trong năm 2011, nâng tổng sản
lượng vàng toàn cầu lên 2.700 tấn, tăng 5,5% so với năm 2010.
Từ những năm 1880, Nam Phi đã là nước khai thác và cung cấp vàng
lớn nhất thế giới, với khoảng 50% tất cả lượng vàng từng được sản xuất có
nguồn gốc từ Nam Phi. Sản lượng năm 1970 chiếm 79% nguồn cung thế giới,
sản xuất khoảng 1.480 tấn; Sản lượng năm 2008 là 2.260 tấn. Hiện nay, Trung
Quốc trở thành nước sản xuất vàng nhiều nhất thế giới sau khi vượt Nam Phi
từ năm 2007, sản lượng vàng sản xuất cũng tăng theo hàng năm cụ thể năm
2010 là 345 tấn, tăng 31 tấn so với năm 2009, và tới năm 2011, sản lượng đạt
được là 355 tấn, tăng 2,9% so với năm 2010 (xem bảng 1.2 trang 14). Trong
năm 2010, năm tỉnh Sơn Đông, Hà Nam, Giang Tây, Phúc Kiến và Nội Mông
đóng góp 59,9% sản lượng vàng của Trung Quốc. Khoảng 184 tấn vàng,
tương đương 51% tổng sản lượng vàng ở nước này đến từ 10 công ty khai mỏ
14
Peru
164
150
7
Canada
91
110
8
Ghana
82
100
9
Indonesia
120
100
10
Uzbekistan
90
90
(Nguồn: Báo cáo khoáng sản của Cơ quan Điều tra địa chất Mỹ 2011).
Khai thác vàng là một trong những hoạt động có tính phá hoại nhất đối
với môi trường. Để làm ra một ounce vàng, phải đãi từ 250 tấn đất đá trở lên.
Tại các mỏ khai thác quy mô nhỏ, vốn chiếm một phần tư trong số cơ sở khai
thác toàn cầu, sử dụng thủy ngân để khai thác vàng. Theo ước tính của Liên
15
Hợp Quốc, hoạt động khai thác vàng như trên chiếm hơn 30% sự ô nhiễm
thủy ngân của thế giới.
750.000
831.000
7
West Wits – Nam Phi
698.000
792.000
8
Lagunas Norte – Peru
808.000
770.000
9
Kalgoorlie Super Pit - Australia
788.000
750.000
10
Boddington - Australia
540.000
741.000
(Nguồn: Hội đồng vàng thế giới – 2012)
Nhìn vào bảng trên, ta có thể thấy sản lượng vàng được khai thác ở các
mỏ có xu hướng giảm dần vì ngoài yếu tố về trữ lượng vàng tại các mỏ, việc
khai thác mỏ còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: chính trị, kiểu mỏ để khai thác,
môi trường… Indonesia không phải là nước sản xuất vàng lớn nhất thế giới
16
nhưng lại có mỏ vàng đứng đầu thế giới về sản lượng với khoảng 19.500 công
nhân khai thác trong mỏ. Tuy nhiên, đến tháng 10/2011, mỏ Grasberg đã bị
đóng cửa hoàn toàn do những lo ngại về an ninh và các đường vận chuyển đã
bị khóa. Công nhân ở mỏ Grasberg đã đình công trong suốt hai tháng để đòi
Bảng 1.4: Các nƣớc tiêu thụ vàng nhiều nhất thế giới năm 2011
STT
Quốc gia
Sản lƣợng (tấn)
2010
2011
1
Ấn Độ
1003,6
933,4
2
Trung Quốc
664,9
811,2
3
Mỹ
234,8
194,9
4
Đức
126,4
159,3
5
Thổ Nhĩ Kỳ
110,9
144,2
6
Thụy Sỹ
92,96
vào một ngày cụ thể trong tương lai. Mục đích của hợp đồng kỳ hạn là nhằm
bảo hiểm rủi ro về giá của tài sản khi nhà đầu tư có tài sản đó trong tương lai.
1.2.2.3 Nghiệp vụ quyền chọn (Option)
Nghiệp vụ quyền chọn là quyền được mua hay bán một số lượng vàng
trong một khoảng thời gian xác định trong tương lai với giá được xác định tại
thời điểm giao dịch. Có hai quyền chọn : Quyền chọn mua (Call option) và
quyền chọn bán (Put option).
Có hai kiểu quyền chọn :
- Quyền chọn kiểu Mỹ : cho phép người mua quyền chọn thực hiện
quyền chọn tại bất kỳ thời điểm nào trong thời gian còn hiệu lực hợp đồng ;
- Quyền chọn kiểu Châu Âu : chỉ có thể thực hiện vào ngày đáo hạn.
1.2.2.4 Tín dụng vàng
Để đảm bảo nhu cầu thanh toán, tín dụng vàng được sử dụng để đảm
bảo giá trị của tiền. Ví dụ, trong giao dịch bất động sản, người mua khi chưa
thanh toán hoặc chưa mua được nhà thì mua vàng gửi ngân hàng giữ hộ để
phòng ngừa khi giá vàng lên. Ngược lại, người bán nhà khi chưa nhận được
tiền mà lo ngại vàng xuống thì sẽ vay ngân hàng số vàng sắp được nhận và
bán ra bên ngoài thu tiền về trước, khi nhận được tiền của bên mua sẽ trả lại
cho ngân hàng. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng hiện tại của các ngân hàng rất ít
19
phục vụ mục đích này mà chủ yếu phục vụ nhu cầu kinh doanh của khách
hàng.
Giả sử một nhà đầu tư dự đoán giá vàng tăng, sẽ vay tiền ngân hàng để
mua vàng gửi tiết kiệm. Số tiền vay được là do thế chấp số vàng vừa mua cho
ngân hàng, sau đó, số tiền vay từ ngân hàng sẽ được trả cho cửa hàng vàng đã
đem vàng đến bán.
Ngược lại, nếu nhà đầu tư dự đoán giá vàng giảm, họ sẽ đến ngân hàng
vay vàng ra bán cho cửa hàng. Cửa hàng vàng đem tiền đến mua thì số tiền
này được đưa vào ngân hàng trước để làm tài sản thế chấp số vàng vay ra.
động đầu tư. Do có sự chênh lệch giữa thời điểm mua và bán nên sẽ có rủi ro
về giá rất lớn, và cũng chính sự chênh lệch này tạo ra lãi hoặc lỗ rất lớn cho
ngân hàng. Chính vì vậy, nếu ngân hàng có khả năng dự đoán được biến động
của giá vàng trên thế giới thì hoạt động này rất có lãi. Hiện nay hoạt động này
ít diễn ra và có diễn ra thì thời gian tồn tại cũng tương đối ngắn để tránh rủi
ro. Ngân hàng có được lợi thế rất nhiều do nguồn vốn huy động vàng từ dân
cư nhiều, ngân hàng có thể bán cho nhà đầu tư và sẽ mua lại vào một thời
điểm khác khi giá vàng hạ. Ngược lại, ngân hàng có thể mua vàng lúc giá
thấp và giải quyết nguồn hàng tồn này bằng cách cho khách hàng vay.
1.2.2.7 Chứng chỉ vàng
Chứng chỉ vàng là một loại giấy tờ có giá, được ngân hàng hoặc các tổ
chức tín dụng, quỹ tín thác phát hành, để chứng nhận cho việc khách hàng gửi
vàng tại các đơn vị đó. Chứng chỉ vàng có thể có hai loại: chứng chỉ ghi danh
và chứng chỉ không ghi danh.
Chứng chỉ không ghi danh không thể hiện tên người quản lý, sử dụng
chứng chỉ và có thể mua bán, chuyển nhượng theo hình thức trao tay (như