các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tập trung thương mại của việt nam với tpp - Pdf 23



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
o0o
Công trình tham dự Cuộc thi
Sinh viên nghiên cứu khoa học Trường Đại học Ngoại thương 2013
Tên công trình: Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tập trung
thương mại của Việt Nam với TPP Nhóm ngành: KD2

Hà Nội, tháng 5 năm 2013
2.2.2.5. Cam kết thương mại 19
Chương 3: Xây dựng mô hình lực hấp dẫn để phân tích luồng thương mại hàng hóa
của Việt Nam khi tham gia TPP 22
3.1. Mô hình định lượng 22
3.2. Giả thuyết 24
3.3. Số liệu 24
Chương 4: Phân tích kết quả ước lượng 27
4.1. Kết quả ước lượng với giá trị xuất khẩu và nhập khẩu 27
4.2. Kết quả ước lượng với 7 nhóm hàng hóa 31
Chương 5: Những giải pháp nhằm thúc đẩy luồng thương mại hàng hóa của Việt
Nam 37
5.1. Nhóm yếu tố ảnh hưởng đến cung và cầu 37
5.1.1. GDP 37
5.1.2. Dân số 37
5.2. Nhóm yếu tố khoảng cách 38
5.3. Nhóm yếu tố chính sách 38
5.3.1. Chuyển dịch cơ cấu hàng hóa 38
5.3.2. Thu hút đầu tư nước ngoài 38
5.3.3. Ổn định chính sách tỷ giá và kết hợp với các chính sách khác 39
5.3.4. Thúc đẩy việc kí kết các hiệp định thương mại song phương và đa phương và
nâng cao hiệu quả thi hành các hiệp định 39
Tài liệu tham khảo 42
Phụ lục 46 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt
Tiếng Anh
Tiếng Việt

Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FE
Fixed Effects
Tác động cố định
FOB
Free On Board
Giao lên tàu
FTA
Free Trade Agreement
Hiệp định thương mại tự do
FTAAP
Free Trade Area of the Asia-
Pacific
khu vực mậu dịch tự do châu Á-
Thái Bình Dương
GDP
Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội
GNP
Gross National Product
Tổng sản phẩm quốc gia
GLS
Generalized Least Squares
Phương pháp bình phương nhỏ nhất
tổng quát
OLS
Ordinary Least Squares
Phương pháp bình phương nhỏ nhất
thông thường
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ

Hình 1: Viễn cảnh Châu Á-Thái Bình Dương
Hình 2: Kim ngạch thương mại trao đổi giữa Việt Nam và TPP giai đoạn 1997-2012
Hình 3: Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại giữa Việt Nam
và TPP năm 2012
Hình 4 : Tỉ trọng xuất khẩu của Việt Nam với TPP theo các mặt hàng chủ yếu năm 2012
Hình 5: Tỉ trọng nhập khẩu của Việt Nam với TPP theo một số mặt hàng phổ biến năm
2012
Bảng 1: Tác động của các yếu tố đến luồng thương mại xuất nhập khẩu
Bảng 2: Thống kê mô tả số liệu
Bảng 3: Kết quả ước lượng với giá trị xuất khẩu và nhập khẩu
Bảng 4: Kết quả ước lượng với 7 nhóm hàng hóa
Bảng 5: Các nước thành viên AFTA và TPP
Bảng 6: Các chỉ số thống kê của 11 nước TPP năm 2011
Bảng 7: Phương pháp ước lượng
1

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài (Lý do lựa chọn đề tài)
Việt Nam chính thức tham gia đàm phán TPP (Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình
Dương) khi chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết thông báo tại hội nghị các lãnh đạo APEC

bởi việc xác định các rào cản thương mại đối với ngành dịch vụ trở nên rất khó khăn. Thứ
hai, tác giả chưa thể thu thập số liệu ngành dịch vụ trao đổi song phương giữa Việt Nam
và các nước.

5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình được nghiên cứu và thực hiện, bài viết vận dụng mô hình hấp dẫn
(gravity model) với số liệu và thông tin thứ cấp được tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau
như sách, báo, tạp chí, Internet và các bài nghiên cứu khác.
Bên cạnh đó, bài viết cũng sử dụng những phương pháp cơ bản như phương pháp hệ
thống, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê và phương pháp so sánh
để làm sáng tỏ vấn đề.
6. Kết quả nghiên cứu dự kiến
Từ việc phân tích, đánh giá các tác động cụ thể của các yếu tố tác động đến luồng
thương mại hàng hóa của Việt Nam, bài viết đề xuất các chính sách phát triển và đẩy mạnh
xuất nhập khẩu vào nhóm nước tham gia TPP.
7. Kết cấu của đề tài
Chương 1: Khái quát chung về hiệp định TPP và tình hình thương mại của Việt Nam
Chương 2: Tổng quan tài liệu
Chương 3: Xây dựng mô hình hấp dẫn để giải thích luồng thương mại hàng hóa của Việt
Nam khi tham gia TPP.
Chương 4: Phân tích kết quả ước lượng
Chương 5: Những giải pháp nhằm thúc đẩy luồng thương mại hàng hóa của Việt Nam
3

Chương 1: Khái quát chung về hiệp định TPP và tình hình thương mại của Việt Nam

1.1. Hiệp định TPP
1.1.1. Khái niệm TPP

Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership-viết tắt là TPP)

12/2012. Như vậy, tính đến cuối năm 2012, TPP có tổng số 11 thành viên.
Trong tương lai, số lượng các bên tham gia đàm phán còn có thể mở rộng thêm bởi
nhiều nước khác trong khu vực ASEAN và APEC đã tỏ thái độ quan tâm đến TPP, đặc
biệt là Nhật Bản
1
, Hàn Quốc, Indonesia và Thái Lan.

1.1.3. Triển vọng TPP

TPP được cho là một “tiến trình hội nhập thương mại kinh tế tham vọng nhất trong
lịch sử khu vực Châu Á - Thái Bình Dương” (Đỗ Tiến Chung, 2012).Ngay cả khi thỏa
thuận này không đạt được tiềm năng đầy đủ, TPP đại diện cho 11 nền kinh tế năng động
với tổng sản phẩm quốc nội là $21,000 tỷ và giá trị hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu là
$4,400 tỷ.
2
TPP11 hiện đang chiếm hơn 30% GDP của thế giới. Nếu Nhật Bản và Hàn
Quốc tham gia, tổng GDP của các nước TPP sẽ tăng lên tới $28,000 tỷ, hay 40% GDP thế
giới, và xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ sẽ tăng lên tới $6 nghìn tỷ, tương đương với khoảng
27% xuất khẩu thế giới. Tuy nhiên, lợi ích mà TPP đem lại không chỉ dừng lại ở việc thúc
đầy thương mại và đầu tư mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho sự hòa nhập kinh tế trong
khu vực APEC và có khả năng sẽ thôi thúc các cuộc đàm phán thương mại toàn cầu. Xét
về tầm quan trọng với khu vực châu Á-Thái Bình Dương, TPP tăng cường mối quan hệ
kinh tế và chính trị giữa các nước thành viên.
Mặc dù các vòng đàm phán TPP đã diễn ra trong gần 5 năm, các sáng kiến thương
mại vẫn chưa được hiểu rõ. Qui mô và mức độ phức tạp của hiệp định thương mại tự do 1
Ngày 23/7/2013, Nhật Bản đã chính thức được chấp thuận tham gia các vòng đàm phán Hiệp
định đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), http://international-trade-

Việt Nam đang hướng tới là đối tác thỏa thuận của cả TPP và RCEP. Đối tác TPP, bao
gồm Hoa Kì, cũng bày tỏ quan tâm tới việc mở rộng TPP ra các quốc gia khác xuyên vùng/
khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Các nước này cho rằng những thành viên mới được
chào đón miễn là họ phấn đấu ở mức độ chung về tự do hóa thương mại như các đối tác
thương mại hiện tại.
1.1.3.2. TPP-Nền tảng của FTAAP
6

Các lãnh đạo cao cấp của 21 nền kinh tế APEC cho rằng điểm đến của đàm phán
TPP là hình thành một khu vực mậu dịch tự do châu Á-Thái Bình Dương FTAAP. Việc
tiến tới khu mậu dịch tự do này sẽ cắt bỏ toàn bộ thuế nhập khẩu trên các loại mặt hàng ,
từ xe cộ đến thực phẩm, trên 21 nước APEC. Bên cạnh đó, các quốc gia phải tìm được sự
thống nhất và hài hòa những ràng buộc của nền kinh tế; các doanh nghiệp của khối APEC
nên kết hợp chặt chẽ với nhau xóa bỏ những bất lợi và rào cản. Có như thế FTAAP hình
thành sẽ tạo ra sự bình đẳng trong khối và giúp đỡ những nền kinh tế còn lạc hậu và kém
phát triển.
Trong viễn cảnh, chúng ta giả định rằng chiến lược sẽ kéo dài đến một vùng mậu dịch
thương mại tự do rộng lớn vào năm 2020. Cuối cùng 21 nền kinh tế APEC sẽ đồng nhất
và kết quả là các nhà lãnh đạo APEC sẽ tuyên bố về sự hình thành của FTAAP. Viễn cảnh
được mình họa trong hình 1.Trong mỗi trường hợp, chúng ta giả định rằng một hiệp định
sẽ đi vào thực tiến vào năm sau khi nó được kí kết và sẽ mất năm năm để thực hiện.Cấu
trúc của thỏa thuận dựa trên khuôn mẫu của những thỏa thuận gần đây bao gồm Hoa Kì
(chiến lược TPP) và ASEAN (chiến lược châu Á).
TPP mở rộng cho phép các nước APEC tham gia làm tăng lợi ích về kinh tế cho các
nước. Nhưng để trở thành khu mậu dịch tự do lớn châu Á – Thái Bình Dương là một sự
khó khăn khi vấp phải những mâu thuẫn lợi ích nhóm, độ mở quá lớn của Hiệp định đang
là rào cản đối với những quốc gia đang muốn gia nhập TPP vì khả năng đàm phán song
phương và đa phương sẽ bị giảm đi rất nhiều trong hiệp định TPP chung.

Hình 1: Viễn cảnh châu Á-Thái Bình Dương

1.2. Tình hình thương mại của Việt Nam với các nước TPP giai đoạn 1997-
2012
1.2.1. Tỷ trọng xuất khẩu-nhập khẩu
TPP chiếm 12% thương mại toàn cầu của Việt Nam, với mức tăng trung bình hàng
năm 5% trong giai đoạn 1997-2012. Từ điểm nhìn xuất khẩu và nhập khẩu, thương mại
của Việt Nam với TPP đã tăng đều đặn qua các năm, chiếm 14% và 9.4 % tổng xuất khẩu
và nhập khẩu của Việt Nam.
Hình 2: Kim ngạch thương mại trao đổi giữa Việt Nam và TPP giai đoạn 1997-2012

8 Nguồn: Tác giả tự tính toán dựa trên số liệu ở website: www.wits.trade.org, truy cập ngày
30/3/2014
Hình 2 cho biết giá trị xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại của Việt Nam
với các nước tham gia đàm phán TPP. Kim ngạch trao đổi thương mại thay đổi đáng kể
trước và sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Từ năm 1997 đến 2006, Việt Nam chủ động
điều chỉnh về cơ chế, chính sách, pháp luật để chuẩn bị cho việc gia nhập WTO. Sau khi
gia nhập WTO vào năm 2007, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của nước ta tăng
mạnh. Tính đến năm 2008, xuất khẩu tăng 37% và nhập khẩu tăng 61% so với năm 2006.
Có thể thấy, việc gia nhập WTO tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam gỡ bỏ một số rào

Kỳ là thị trường lớn nhất của Việt Nam, tiếp đến là Singapore và Malaysia. Thương mại
Việt Nam-Hoa Kỳ tăng nhanh chóng trong vòng một thập kỉ qua tới 24.5 tỉ hàng hóa (năm
2012). Hoạt động buôn bán tăng lên theo cả hai hướng song nhập khẩu tăng nhanh hơn
xuất khẩu. Đối với các thành viên TPP khác, đặc biệt là ba nước ASEAN (Brunei, Malaysia
và Singapore), Việt Nam tiếp tục duy trì và mở rộng quan hệ truyền thống lâu đời. Đặc
biệt, trong hoạt động thương mại với Singapore, Việt Nam ở vị thế nhập siêu lớn: năm
2012 lên đến trên 6.7 tỷ USD, bằng 282% kim ngạch xuất khẩu sang Singapore. Các thị
trường Mexico, Chile, Peru, Brunei còn chiếm một tỷ trọng khiếm tốn (6.3%) trong kim
ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với TPP do cách trở về địa lý và sự không am hiểu
lẫn nhau về thị yếu của người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong vòng 5 năm sau khi hiệp định
thương mại tự do Việt Nam-Chile có hiệu lực (6/2012), 75% hàng hóa sẽ được miễn thuế
nhập khẩu.Tóm lại, quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam với tất cả các nước TPP đang
ở giai đoạn phát triển rất tốt và có nhiều cơ hội để phát triển lên một tầm cao mới.
Hình 3: Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại giữa Việt Nam
và TPP năm 2012
10 Nguồn: Tác giả tự tính toán dựa trên số liệu ở website: www.wits.trade.org, truy cập ngày
30/3/2014

1.2.3. Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu-nhập khẩu
1.2.3.1. Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu


Fuels – Nhiên liệu, dầu mỡ nhờn và vật liệu liên quan (SITC 3)
Miscl –Hàng hóa khác (SITC 9)
OresMtls –Quặng sắt và kim loại (SITC 27+28+68)
OthrManf –Hàng chế biến khác (SITC 6+8-68-65-84)
PetrlPrd –Sản phẩm dầu mỏ (SITC 332)
Textiles –Dệt may(SITC 26+65+84)
Transp –Máy móc, phương tiện vận tải, phụ tùng (SITC 7)

Crude
1.35%
Chemical
0.89%
Food
9.56%
Fuels
7.93%
Miscl
7.93%
OresMtls
0.28%
OthrManf
39.00%
PetrlPrd
0.26%
Textiles
19.60%
Transp
13.20%
Crude
Chemical

Chú thích :
Crude
3.26%
Chemical
10.04%
Food
13.42%
Fuels
20.33%
Miscl
0.03%
OresMtls
5.94%
OthrManf
7.76%
PetrlPrd
17.62%
Textiles
2.20%
Transp
19.40%
Crude
Chemical
Food
Fuels
Miscl
OresMtls
OthrManf
PetrlPrd
Textiles


14

Chương 2: Tổng quan tài liệu

.1. Sự phát triển của mô hình lực hấp dẫn để ước lượng thương mại quốc tế

Mô hình lực hấp dẫn là một trong những công cụ rất phổ biến trong việc xem xét,
phân tích kinh tế nói chung và thương mại nói riêng. Mô hình được giới thiệu lần đầu bởi
Jan Tinbergen (1962) dựa trên Định luật hấp dẫn của Newton. Mô hình ban đầu chỉ ra rằng
luồng thương mại giữa hai quốc gia tỉ lệ thuận với quy mô kinh tế, và tỉ lệ nghịch với
khoảng cách giữa hai nước đó. Tuy nhiên, các lý thuyết thương mại quốc tế tại thời điểm
đó không đủ khả năng giải thích cho mô hình lực hấp dẫn vì vậy mô hình này không được
ứng dụng nhiều trong các nghiên cứu. Chẳng hạn, khác với mô hình lực hấp dẫn, mô hình
H-O lại chỉ ra rằng quy mô quốc gia không có ảnh hưởng đến luồng thương mại
(UNCTAD, 2012).
Sau đó, nhiều nghiên cứu đã cung cấp nền tảng lý thuyết cho mô hình lực hấp dẫn.
Các nghiên cứu nổi bật là của Anderson (1979), Bergstrand (1985, 1989), Eaton và Kortum
(2002), Helpman và cộng sự (2008) và Chaney (2008). Ví dụ, Anderson (1979) cho rằng
sản phẩm sản xuất ở các nước khác nhau là khác nhau và khách hàng có nhu cầu ở tất cả
các sản phẩm ấy. Vì vậy, tổng thu nhập quốc gia chính là tổng cầu nội địa và của nước
ngoài đối với sản phẩm và nước đó sản xuất. Các nước lớn thì trao đổi hàng hóa nhiều hơn,
và hiển nhiên chi phí thương mại cũng ảnh hưởng đến lượng xuất nhập khẩu.
Phương trình cơ bản của mô hình lực hấp dẫn là:
X
ij
=GS
i
M
j

lực hấp dẫn vào việc đánh giá tác động của thành viên RTA đối với thương mại song
phương.

.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến luồng thương mại hàng hóa của Việt
Nam
.2.1. Nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến cung và cầu

.2.1.1. GDP của nước xuất khẩu và nhập khẩu

Là một trong những biến số quan trọng nhất trong nền kinh tế quốc dân, GDP (Gross
Domestic Product) được biết đến như chiếc “hàn thử biểu” của nền kinh tế. Nguyễn Văn
Công (2007) định nghĩa GDP là “giá trị thị trường của tất cả các hàng hóa và dịch vụ cuối
cùng được sản xuất ra trong một nước trong một thời kì nhất định”.
Xét về khía cạnh sản lượng, GDP đại diện cho khả năng cung cấp hàng hóa ở một
quốc gia. GDP của một nước càng lớn thì nước đó càng có nhiều khả năng sản xuất hàng
hóa để phục vụ nhu cầu thị trường. Đối với nước xuất khẩu, GDP làm tăng nguồn cung
xuất khẩu, trong khi, đối với nước nhập khẩu, GDP tăng đồng nghĩa với việc quốc gia đó
có thể tự chủ trong cung ứng hàng hóa và nhập khẩu ít hơn từ nước ngoài.
Xét về khía cạnh thu nhập, GDP được đo lường bằng tổng tất cả các khoản thu nhập
các thành viên của hộ gia đình nhận được trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm).
Thu nhập tăng lên đồng nghĩa với khả năng chi trả cao và thong thường sẽ thúc đẩy cầu
16

hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài. Điều này đặc biệt đúng bởi người dân Việt Nam ngày
càng có xu hướng “sùng ngoại”, coi hàng hóa nước ngoài là xa xỉ phẩm.
Hầu hết các nghiên cứu đều nhất quán cho rằng nhân tố thu nhập của cả nước xuất
khẩu và nhập khẩu tác động tích cực đến luồng thương mại. Ví dụ, nghiên cứu bao gồm
GDP và GDP bình quân (Từ Thúy Anh, 2008, Nguyen Van Chung, 2013), GNP, GNP bình
quân (Quoc Phuong Le và cộng sự, 1996, Nguyen Tien Trung, 2002).
.2.1.2. Dân số của nước xuất khẩu và nhập khẩu

(Nguyen Tien Trung, 2002), (K. Doanh Nguyen, 2009), (Nguyen Van Chung, 2013). Tuy
nhiên, Từ Thúy Anh (2008) chỉ ra yếu tố khoảng cách chỉ ảnh hưởng đến nhập khẩu. Trong
nghiên cứu của Thai Tri Do (2006), khoảng cách địa lý dường như không ảnh hưởng đến
thương mại Việt Nam- EU.
Mặc dù khoảng cách địa lí thường được sử dụng để đại diện cho chi phí trao đổi, việc
phân tích hệ số khoảng cách trở thành một vấn đề. Theo lí thuyết, hầu hết các nhà nghiên
cứu đều ki vọng rằng chi phí giao dịch giảm trong những thập kỉ gần đây (Cairncross,
1997). Tuy nhiên, trong nghiên cứu thực nghiệm, tác động của khoảng cách dường như
tăng dần. Chẳng hạn, Frankel (1997), chỉ ra rằng hệ số của biến khoảng cách không có xu
hướng giảm.
Tương tự với khoảng cách giữa hai quốc gia, các quốc gia không tiếp giáp với biển
được coi là một trở ngại đối với thương mại, do chi phí giao dịch tăng. Hơn 90% hàng hóa
được vận chuyển qua đường biển nên các quốc gia nằm hoàn toàn trong đất liền có thể sẽ
phải tái xuất, tạm nhập thông qua các quốc gia có đường biên giới là biển. Biến giả
“landlocked” dự kiến mang dấu âm (-), đại diện cho chi phí vận tải.
.2.2.2. Khoảng cách văn hóa
Giữa hai quốc gia nếu có nhiều điểm tương đồng về văn hóa như ngôn ngữ, tôn giáo,
đồng tiền lưu thông sẽ giúp quá trình tiếp cận, nghiên cứu thị trường được dễ dàng hơn,
quá trình đàm phán tránh được những bất đồng, hiểu lầm đồng thời việc quảng bá hình ảnh
thương hiệu thuận lợi hơn. Nhờ đó, chi phí nghiên cứu thị trường, giao dịch và quảng bá
được giảm đi đáng kể (Phạm Thị Hiển, 2012). Đã có nhiều nghiên cứu đưa vào mô hình
trọng lượng các biến giả ngôn ngữ chung, tôn giáo chung,… (Frankel và Rose, 2002;
Nguyễn Trung Kiên, 2009….) và tất cả các nghiên cứu này đều đưa ra một kết luận chung
là sự tương đồng, giống nhau về văn hóa, ngôn ngữ có tác động thúc đẩy thương mại song
phương. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng trong thời đại ngày nay, với sự phát trển
18

của công nghệ thông tin, các quốc gia có rất nhiều kênh thông tin (báo chí, mạng xã hội,
điện thoại…) để tìm hiểu về văn hóa của các bạn hàng nên sự hiểu biết về văn hóa của
nhau không nhất thiết phải có những điểm chung, tương đồng về văn hóa.

racác kết quả khá đa dạng. Thai Tri Do (2006) tìm ra rằng tỉ giá tác động tiêu cực đến
luồng thương mại Việt Nam và 23 nước Châu Âu. Trong khi đo, Bình Dương Nguyễn,
2006 cho rằng tỷ giá thực ảnh hưởng lớn đến nhập khẩu song ít ảnh hưởng đến xuất khẩu.
.2.2.5. Cam kết thương mại
Các bài viết sử dụng mô hình lực hấp dẫn để nghiên cứu các cam kết thương mại của
Việt Nam cũng tăng dần qua các năm. Tuy nhiên, số lượng nghiên cứu về tác động của
TPP còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào hiệp định thương mại tự do ASEAN (AFTA) và
các hiệp định ASEAN mở rộng với các yếu tố quen thuộc. Quoc Phuong Le và cộng sự,
1996 sử dụng số liệu của Việt Nam và các nước APEC từ 1989 đến 1994 và kết luận các
yếu tố quyết định luồng thương mại Việt Nam và khu vực Châu Á- Thái Bình Dương cũng
giống như các nước khác trong khu vực. K. Doanh Nguyễn (2009) sử dụng số liệu của 23
nước trong vòng 16 năm từ 1990- 2005 ước lượng bằng phương pháp OLS, và Từ Thúy
Anh (2008) sử dụng số liệu Tổng cục Hải quan giai đoạn 1998- 2005 để kết luận rằng sự
kết hợp vùng làm tăng khả năng hàng hóa Việt Nam thâm nhập vào thị trường nước ngoài.
Hệ số của biến giả ASEAN dao động trong khoảng 0.55%-2.88%. Phạm Thị Hiển, 2012
đánh giá tác động của các nhân tố tới mức độ tập trung thương mại của Việt Nam với 9
nước TPP song số quan sát khá nhỏ (81 quan sát) và chưa đề cập đến tác động tới các mặt
hàng cụ thể. Bảng 1 tóm tắt tác động của các nhân tố lên giá trị xuất nhập khẩu.

Bảng 1: Tác động của các yếu tố đến luồng thương mại xuất nhập khẩu
Yếu tố
Xu
hướng
tác
động
Nghiên cứu
Các yếu tố
ảnh hưởng
GDP gộp
chung cả hai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status