Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển chi nhánh Thăng Long - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

TRẦN ĐỨC LONG

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN
CHI NHÁNH THĂNG LONG

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN
CHI NHÁNH THĂNG LONG
Chuyên ngành: Tài chính và Ngân hàng
Mã số: 60 34 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. HOÀNG ĐÌNH PHI

Hà Nội, 2012 MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii

2.3 Phân tích chất lượng tín dụng đối với DNNVV tại chi nhánh Thăng Long 46

2.4 Đánh giá chất lượng tín dụng tại Chi nhánh NHĐT&PT Thăng Long 58
2.4.1 Những kết quả đã đạt được 58
2.4.2 Tồn tại và nguyên nhân 59
2.4.2.2. Nguyên nhân của tồn tại 62
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DNNVV CỦA CHI NHÁNH
NHĐT&PT THĂNG LONG TRONG GIAI ĐOẠN 2012 - 2017. 64
3.1. Định hướng phát triển 64
3.1.1.Định hướng phát triển chung của BIDV 64
3.1.2. Định hướng phát triển chung của NHĐT&PT Thăng Long 64
3.1.3. Định hướng cho vay DNNVV của Chi nhánh NHĐT&PT Thăng Long. 66
3.2 Mộ t số giả i phá p 68
3.2.1. Hoàn thiện chính sách tín dụng 68
3.2.2. Hoàn thiện các sản phẩm dịch vụ cung cấp cho DNNVV 69
3.2.3. Tăng cường công tác Maketing, kênh tiếp cận với DNNVV 70
3.2.4. Hoàn thiện chính sách quản lí rủi ro, hệ thống xếp hạng tín dụng 71
3.2.5. Giảm chi phí giao dịch 72
3.2.6. Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hệ thống công nghệ thông tin của chi
nhánh 73
3.2.7. Nâng cao chất lượng cán bộ 73
3.2.8. Nâng cao khả năng phòng ngừa và kiểm soát các rủi ro trong hoạt động
kinh doanh của chi nhánh NHĐT&PT Thăng Long 75
3.3. Một số kiến nghị 77
3.3.1. Kiến nghị với nhà nước, chính phủ, và các ban ngành có liên quan 77
3.3.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng nhà nước và hiệp hội ngân hàng. 83

NHTMQD
Ngân hàng thương mại quốc doanh
9
NHTMNN
Ngân hàng thương mại Nhà nước
10
TCKT
Tổ chức kinh tế
11
TCTD
Tổ chức tín dụng
12
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
13
TSĐB
Tài sản đảm bảo
14
QHKH
Quan hệ khách hàng
ii

DANH MỤC BẢNG


1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế hiện đại, các ngân hàng thương mại (NHTM) ngày càng thể
hiện vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khi
thực hiện chức năng huy động và cung ứng nguồn vốn phục vụ sản xuất kinh doanh.
Một trong các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại là hoạt động cho vay.
Hoạt động này không những đem lại lợi nhuận cho ngân hàng mà còn tạo ra nguồn
lực tài chính cần thiết cho các đơn vị, tổ chức vay vốn mà trong đó, các Doanh
nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là những khách hàng đầy tiềm năng.
Theo các số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam, hiện nay nước ta có
khoảng 540.000 DNNVV, chiếm gần 97% tổng số doanh nghiệp trong cả nước và
đang đóng góp khoảng 40% cho tăng trưởng GDP. Các doanh nghiệp này với ưu
thế của mình, đã đóng góp cho sự ổn định và phát triển kinh tế, giải quyết một
lượng lớn công ăn việc làm cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo cho
các địa phương.
Chi nhánh NHĐT&PT Thăng Long là một trong các đơn vị kinh doanh thuộc
NHĐT&PT Việt Nam hoạt động kinh doanh trên địa bàn Hà Nội và cũng có nhiều
đối tượng khách hàng là DNNVV. Tuy nhiên, thời gian vừa qua chi nhánh chủ yếu
phục vụ các đối tượng khách hàng lớn và khách hàng cá nhân bằng việc cung cấp
các sản phẩm mang tính truyền thống mà chưa thực sự chú trọng tới khối DNNVV.
Bởi tầm quan trọng cũng như tiềm năng phát triển của các doanh nghiệp này, trong
thời gian tới, chi nhánh đang định hướng mở rộng hoạt động cho vay hướng tới đối
tượng khách hàng là các DNNVV, đi đôi với việc chú trọng nâng cao chất lượng tín
dụng.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế và qua thời gian làm công tác tín dụng tại Chi
nhánh NHĐT&PT Thăng Long, tác giả quyết định chọn đề tài: “Giải pháp nâng
cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng đầu tư
và phát triển - Chi nhánh Thăng Long” nhằm góp phần hoàn thiện hơn nữa tổng
kết lý luận, sử dụng cơ sở lý luận để đánh giá thực trạng và từ đó đề xuất một số
giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng của Chi nhánh NHĐT&PT Thăng Long.


5. Phƣơng pháp nghiên cứu

3

Đề tài vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học kinh tế chủ yếu,
từ phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, cho đến phương pháp tổng hợp
phân tích, so sánh, phương pháp toán học. Đề tài cũng sử dụng các bảng biểu và biểu đồ
minh hoạ, qua đó rút ra kết luận tổng quát về vấn đề cần nghiên cứu.
6. Đóng góp của luận văn
- Áp dụng khung lý thuyết vào phân tích thực tế chất lượng tín dụng của chi
nhánh NHĐT&PT Thăng Long giai đoạn 2009-2011.
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt động
tín dụng của Chi nhánh NHĐT&PT Thăng Long.
7. Bố cục của đề tài
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về hoạt động cho vay và việc nâng cao chất
lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại đối với các DNNVV.
Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay của Chi nhánh NHĐT&PT Thăng
Long đối với các DNNVV.
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của
Chi nhánh NHĐT&PT Thăng Long đối với các DNNVV trong giai đoạn 2012 - 2017.

4

CHƢƠNG 1
MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY VÀ
VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƢƠNG MẠI ĐỐI VỚI CÁC DNNVV

1.1. Khái nim và vai trò của DNNVV đối với nền kinh tế
1.1.1 Khái niệm DNNVV

quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng
nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân
đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là
tiêu chí ưu tiên)
Cụ thể như sau:
Quy mô Khu vực
Doanh
nghiệp
siêu nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ
Doanh nghiệp vừa
Số lao
động
Tổng
nguồn vốn
Số lao
động
Tổng
nguồn vốn
Số lao
động
I. Nông, lâm
nghiệp và thủy sản
10 người
trở xuống
20 tỷ đồng
trở xuống

đến 300
người
III. Thương mại và
dịch vụ
10 người
trở xuống
10 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
50 người
từ trên 10
tỷ đồng
đến 50 tỷ
đồng
từ trên 50
người
đến 100

(Nguồn: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2009), Nghị định 56/2009/NĐ-CP
về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.) [4]
1.1.1.2 Đặc điểm của DNNVV
+ Cần vốn:

6

Vốn là cơ bản của quá trình sản xuất, có vai trò vô cùng quan trọng trong sự
phát triển của cả đất nước nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng. Thực tế cho
thấy, để tạo ra một việc làm ở Việt Nam trung bình phải mất 5-15 triệu đồng tiền
vốn. Vốn có vai trò quyết định trong việc đầu tư công nghệ, trang thiết bị, cải tiến

Một thách thức có tính nội tại nhưng không phải là nhỏ là phần lớn các công
nghệ mà các DNNVV đang sử dụng đã lạc hậu hàng chục năm, có khi vài chục
năm. Điều này dẫn đến tình trạng sản phẩm làm ra không thể đáp ứng được mẫu
mã, chất lượng, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng nâng cao năng suất, hạ giá thành
sản phẩm. Vốn thấp, khả năng nghiên cứu và ứng dụng công nghệ thấp, không có
khả năng thực hiện các công nghệ hiện đại đang là bài toán khó đối với doanh
nghiệp loại này.
+ Hạn chế về quản lý :
Phần lớn các DNNVV được thành lập dựa trên mối quan hệ gia đình, phương
pháp điều hành và quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu dựa trên kinh
nghiệm chưa bài bản, còn mang nặng tính chất gia đình. Một tỷ lệ không nhỏ các
chủ doanh nghiệp chưa qua một trường lớp đào tạo nào, thiếu trầm trọng những
kiến thức cơ bản về kinh doanh, luật pháp, … Các DNNVV cũng không có khả
năng thu hút nhân lực quản lý trình độ cao do những hạn chế về lương bổng và các
chính sách đãi ngộ.
1.1.2 Vai trò của DNNVV
Cả về mặt lý luận và thực tiễn đều cho thấy, DNNVV có vị trí và vai trò rất
quan trọng trong nền kinh tế của mỗi nước, kể cả các nước có trình độ phát triển
cao. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt như hiện nay, các nước đều hỗ trợ
doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm huy động tối đa các nguồn lực và hỗ trợ cho doanh
nghiệp lớn phát triển nhanh hơn, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm. Vị trí, vai trò
của DNNVV đã được khẳng định, thể hiện qua các đặc điểm chủ yếu như sau:
Thứ nhất, DNNVV góp phần quan trọng tạo công ăn việc làm và thu nhập
cho người lao động.
Do có lợi thế là chỉ cần một lượng vốn nhỏ cũng có thể thành lập công ty,
nhà xưởng, văn phòng… với chi phí thấp. Nhờ tính năng động và linh hoạt cao, có
khả năng thích ứng với những nhu cầu thường xuyên thay đổi của thị trường nên ở
các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam số lượng DNNVV rất lớn chiếm
khoảng hơn 90% tổng số các doanh nghiệp.


Do quy mô vừa và nhỏ nên các doanh nghiệp này có thể đặt văn phòng làm
việc, nhà xưởng ở khắp mọi nơi trên lãnh thổ ở cả những nơi co sở hạ tầng chưa
phát triển nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, phát triển kinh tế địa

9

phương. Quy mô hoạt cũng như trình độ công nghệ của các doanh nghiệp này rất
thích hợp với những ngành cần nhiều lao động thủ công như ngành chế biền thuỷ
hải sản, may mặc, giầy da, mà đây lại là những ngành đem lại nhiều kim ngạch xuất
khẩu cho cả nước. Đặc biệt với những ngành thủ công mỹ nghệ truyền thống ngành
mà việc sử dụng các công nghệ hiện đại và sản xuất hàng loạt là rất khó khăn, thêm
vào đó là việc phân bổ rải rác ở khắp các vùng nông thôn, thì DNNVV đóng vai trò
vô cùng quan trọng trong việc tập trung, tiêu thụ sản phẩm với thị trường trong
nước mà còn xuất khẩu ra nước ngoài.
Bên cạnh đó, do lợi thế của mình mà các DNNVV rất thích hợp với khu vực
kinh doanh thương mại dịch vụ bán lẻ. Trong khi đó các doanh nghiệp lớn khó có
thể tổ chức một mạng lưới bán lẻ để tiêu thụ hàng hoá của mình mà phải thông qua
mạng lưới bán lẻ của DNNVV. Chính vì vậy, DNNVV đáp ứng được nhu cầu của
người tiêu dùng kể cả ở những nơi xa xôi, cơ sở hạ tầng thấp kém một cách nhanh
chóng thuận tiện, do đó mà rút ngắn khoảng cách về kinh tế giữa các vùng, góp
phần làm cho kinh tế phát triển đồng đều trên toàn lãnh thổ.
Thu hút được một lượng lớn vốn nhàn rồi trong dân, khai thác tận dụng được
các tiềm năng thế mạnh của từng vùng, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn,
DNNVV đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự tăng trưởng và phát triển của nền
kinh tế. Theo số liệu của UNDP thì DNNVV đã đóng góp 26% GDP. Sự phát triển
của DNNVV đã đóng góp phần đáng kể trong việc huy động vốn đầu tư toàn xã hội,
giải quyết công ăn việc làm, tăng thu cho ngân sách nhà nước, đóng góp phần lớn
trong giá trị GDP mà nền kinh tế tạo ra hàng năm.
Thứ tư, DNNVV tạo sự linh hoạt cho nền kinh tế
Trên thực tế, tỷ trọng số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nước luôn

cho vay. Hiệu quả cho vay được hiểu theo đúng nghĩa: Đồng vốn của ngân hàng
cho các doanh nghiệp vay phù hợp với khả năng của ngân hàng, phù hợp với chính
sách phát triển kinh tế của địa phương, quan trọng là với đồng vốn đó doanh nghiệp
sẽ tiến hành hoạt động kinh doanh có hiệu quả, thu được lợi nhuận và hoàn trả vốn
vay cho ngân hàng cả gốc, lãi đúng thời hạn đã kí kết.
1.2.2 Chất lượng tín dụng
Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, tín dụng là nghiệp
vụ mang lại phần lớn doanh thu cho ngân hàng, nhưng cũng là nghiệp vụ chứa đựng
nhiều rủi ro nhất. Hiệu quả hoạt động tín dụng được thể hiện bởi chất lượng tín
dụng. Theo nghĩa rộng chất lượng tín dụng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng,
phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân
hàng.

11

Từ khái niệm trên cho thấy chất lượng tín dụng cần được xem xét trên ba góc
độ: ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế.
Chất lượng tín dụng xét từ góc độ Ngân hàng thương mại:
Chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù
hợp với khả năng theo hướng tích cực của ngân hàng và phải đảm bảo sự cạnh tranh
của ngân hàng trên thị trường, đồng thời phải đảm bảo cả nguyên tắc hoàn trả đúng
hạn cả gốc và lãi. Chất lượng tín dụng tại một ngân hàng phải thể hiện ở chỉ tiêu lợi
nhuận hợp lý và ngày một gia tăng, dư nợ ngày càng tăng trưởng, tỷ lệ nợ quá hạn
đảm bảo đúng quy định và hợp lý, đảm bảo cơ cấu vốn giữa ngắn hạn, trung hạn và
dài hạn của ngân hàng.
Hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng,
nhưng cũng hàm chứa nhiều rủi ro. Cho nên để hạn chế những rủi ro đó, ngân hàng
luôn quan tâm đến chất lượng của các khoản tín dụng bằng cách xem xét đánh giá
mỗi khách hàng vay một cách kỹ lưỡng, để từng khoản cho vay của ngân hàng có
thể đảm bảo an toàn trảnh rủi ro xảy ra. Cụ thể: để xem xét một khoản tín dụng nào

bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, góp phần làm lành mạnh tổ chức của
doanh nghiệp.
Tóm lại, chất lượng tín dụng xét từ góc độ khách hàng chính là sự thoả mãn
kịp thời nhu cầu về vốn cho khách hàng, giúp khách hàng mau chóng và kịp thời sử
dụng vốn vào mục đích kinh doanh của mình, ngoài ra chất lượng tín dụng có được
đảm bảo hay không là còn phụ thuộc vào sự hợp tác của khách hàng là sử dụng vốn
vay đúng mục đích và hiệu quả.
Chất lượng tín dụng xét từ góc độ là nền kinh tế nói chung:
Xét từ góc độ này, chất lượng tín dụng phải hỗ trợ cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời giải quyết công ăn việc làm, tăng thêm sản
phẩm cho xã hội góp phần tăng trưởng kinh tế và khai thác khả năng tiềm ẩn trong
nền kinh tế. Có thể thấy chất lượng tín dụng tác động trước tiên đến bản thân ngân
hàng sau đó là đến khách hàng và từ đó tác động đến nền kinh tế nói chung. Sự tác
động này phải làm thúc đẩy kinh tế phát triển.
Tựu chung lại, chất lượng tín dụng là chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ
thích nghi của ngân hàng thương mại và sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó
thể hiện sức mạnh của ngân hàng trong quá trình cạnh tranh, để Ngân hàng tồn tại
và phát triển. Chất lượng tín dụng được xác định qua nhiều yếu tố như: thu hút được
những khách hàng có quan hệ tín dụng tốt, thủ tục đơn giản, thuận tiện, mức độ an
toàn của vốn tín dụng, chi phí tổng thể về sản xuất, chi phí nghiệp vụ…

13

1.3 Sự cần thiết phải nâng cao chất lƣợng tín dụng đối với DNNVV trong hoạt
động kinh doanh của NHTM
1.3.1 NHTM và hoạt động cho vay của NHTM
1.3.1.1 NHTM và các hoạt động chủ yếu của NHTM
Khái niệm NHTM
Theo pháp lệnh ngân hàng ngày 23-5-1990 của Hội đồng Nhà nước Việt
Nam xác định: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động

thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với những người bán (người bán chuyển các
khoản phải thu cho ngân hàng để lấy tiền trước). Sau đó bước chuyển tiếp từ chiết
khấu thương phiếu sang cho vay trực tiếp đối với các khách hàng (là người mua),
giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh.
+ Cho vay tiêu dùng: Trong giai đoạn đầu, các ngân hàng không tích cực cho
vay đối với cá nhân và hộ gia đình do tính rủi ro cao. Sự gia tăng thu nhập của người
tiêu dùng và sự cạnh tranh đã buộc các ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng
như một khách hàng tiềm năng. Sau thế chiến thứ hai, tín dụng tiêu dùng đã trở thành
loại hình tín dụng tăng trưởng nhanh nhất tại các nước có nền kinh tế phát triển.
+ Tài trợ cho dự án: Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay ngắn hạn,
các ngân hàng cũng ngày càng quan tâm vào việc tài trợ cho xây dựng nhà máy mới
đặc biệt là tài trợ trong các ngành công nghệ cao. Một số ngân hàng còn cho vay để
đầu tư vào bất động sản. Tất nhiên, loại hình tín dụng này rủi ro tương đối cao.
Chính vì thế, giai đoạn xem xét trước khi cho vay, xem xét người vay tiền và việc
sử dụng tiền vay mà người ta gọi là thẩm định tín dụng luôn chiếm vị trí quyết định.
- Đầu tư:
Hoạt động đầu tư chủ yếu của Ngân hàng trên thị trường tài chính thông qua
việc mua bán các chứng khoán: công trái và tín phiếu. Thu nhập của ngân hàng từ
hoạt động này là khoản chênh lệch giữa giá bán và giá mua. Ngoài ra ngân hàng còn
hùn vốn liên doanh với các doanh nghiệp, trong quá trình đó Ngân hàng sẽ được
chia lợi nhuận từ hoạt động này.
* Hoạt động cung cấp các dịch vụ:
Tận dụng vị trí uy tín, chuyên môn của mình là một trung gian tài chính có
nhiều quan hệ với khách hàng, có khả năng tiếp cận với nhiều nguồn thông tin, các
ngân hàng ngày nay cung cấp rất nhiều các dịch vụ khác nhau từ dịch vụ thanh toán,
bảo lãnh, làm đại lý cho đến việc lập két giữ tiền, của cải phục vụ cho khách hàng.
Các dịch vụ này có thể hoàn toàn độc lập hoặc có thể liên quan hỗ trợ cho các hoạt
động huy động vốn, hoạt động tín dụng (đặc biệt là hoạt động thanh toán) nhưng
chúng đều đem lại thu nhập cho ngân hàng dưới dạng phí dịch vụ. Đối với hầu hết


nguyên tắc, phạm vi, quy mô giao dịch trong hoạt động cho vay của ngân hàng.
Các quy định pháp lí trong hoạt động cho vay DNNVV tập trung vào các vấn
đề sau:

16

+ Nguyên tắc cho vay:
Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Đây
là nguyên tắc cơ bản, vì có sử dụng vốn vay dúng mục đích thì khách hàng mới có
thể thực hiện được dự án, phương án sản xuất kinh doanh theo lợi ích dự kiến và do
vậy mới có thể thu hồi được vốn để hoàn trả nợ cho ngân hàng.
Hoàn trả gốc và lãi đúng thời hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Nguyên tắc này đảm bảo phương châm hoạt động của ngân hàng “đi vay để cho
vay” và thực hiện nguyên tắc hạch toán kinh doanh lấy thu bù chi và có lãi.
+ Điều kiện vay vốn
- Có đủ năng lực pháp lí (năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân
sự, có đủ tư cách chịu trách nhiệm hành vi trước pháp luật
- Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp
- Khách hàng phải có khả năng tài chính để đảm bảo trả nợ vay trong thời
hạn cam kết.
- Khách hàng phải có dự án đầu tư phương án sản suất kinh doanh, dịch vụ
khả thi, có hiệu quả.
- Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay
+ Các quy định về đảm bảo tiền vay
Theo NĐ 178/1999/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 1999 và Thông tư
07/2003/TT-NHNN ngày 19 tháng 05 năm 2003: Đảm bảo tiền vay là việc tổ chức
tín dụng áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở pháp lí để thu hồi
khoản đã vay.
Các biện pháp đảm bảo tiền vay:
 Đảm bảo bằng tài sản

các doanh nghiệp để giúp họ nâng cao chất lượng sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra, đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng loạt, số vốn các doanh
nghiệp cần để đầu tư vào máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất là rất lớn, cho nên
khó khăn chủ yếu đối với các doanh nghiệp này là thiếu vốn đầu tư dài hạn. Để giúp
cải thiện khó khăn của các doanh nghiệp này, ngân hàng cần điều tra thực tế, đánh
giá môi trường hiện nay mà các doanh nghiệp đang hoạt động. Nếu các DNNVV
hiện đang kinh doanh sản xuất các mặt hàng phục vụ nhu cầu cần thiết cho xã hội
và thị trường sẵn sàng đón nhận các sản phẩm của họ. Điều này có thể ảnh hưởng
đến quyết định cho vay với thời hạn cho vay sẽ dài hơn từ đó doanh nghiệp có thể
yên tâm sản xuất.

18

Như vậy có thể nói chất lượng tín dụng đối với các DNNVV cũng tương tự
như đối với các đối tượng khác. Tuy nhiên, đối với loại hình DNNVV, ngân hàng
dùng một số biện pháp áp dụng sao cho phù hợp với loại hình DNNVV để vừa đảm
bảo an toàn và chất lượng cho ngân hàng, đồng thời vẫn đảm bảo sự thoả mãn cũng
như đáp ứng nhu cầu kịp thời của các doanh nghiệp này.
1.3.3 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng DNNVV
- Nâng cao chất lượng tín dụng DNNVV đảm bảo đáp ứng đầy đủ kịp thời
nhu cầu vốn cho DNVVN.
Sự phát triển của một DNNVV phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, bao gồm cả
các yếu tố nội tại của doanh nghiệp và các yếu tố từ bên ngoài, từ môi trường kinh
doanh mà doanh nghiệp đó đang hoạt động. Trong đó, nhân tố quan trọng nhất là
khả năng tiếp cận với nguồn tài chính cần thiết cho hoạt động hàng ngày của doanh
nghiệp. Có thể nói, không doanh nghiệp nào có thể đạt mức tăng trưởng đúng với
thực lực của mình nếu không có một nguồn lực đầu vào cần thiết. Trong điều kiện
của nước ta hiện nay, năng suất và hiệu quả sản suất kinh doanh chưa cao, vốn tự có
của các doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV còn rất hạn chế. Do đó vay vốn ngân
hàng đã và đang là nguồn vốn quan trọng để tăng cường đầu tư các doanh nghiệp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status