Hoạt động quản lý thu thuế trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN ANH TUẤN

HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ THU THUẾ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH VĨNH PHÚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Hà Nội – Năm 2012

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
DNNN
Doanh nghiệp nhà nƣớc
DN ĐTNN
Doanh nghiệp đầu tƣ nƣớc ngoài
HHDV
Hàng hóa dịch vụ
GTGT
Thuế GTGT
NSNN
Ngân sách nhà nƣớc
QLNN
Quản lý nhà nƣớc
TNCN
Thuế TNCN
TNDN
Thuế TNDN
TTĐB
Thuế tiêu thụ đặc biệt
UBND
Ủy ban nhân dân ii
DANH MỤC BẢNG

STT
Số hiệu
bảng
Nội dung
Trang

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN ở
nƣớc ta đòi hỏi Nhà nƣớc phải sử dụng một cách có hiệu quả các công cụ,
chính sách tài chính, tiền tệ, đặc biệt là chính sách thu, chi NSNN. Mặt khác
thông qua sử dụng các công cụ này mới có thể quản lý thống nhất nền tài
chính quốc gia, động viên toàn bộ nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, đáp
ứng yêu cầu của cuộc đổi mới đất nƣớc. Ngân sách nhà nƣớc ở tầm quốc gia
và địa phƣơng bao giờ cũng đƣợc các cấp chính quyền và các cơ quan chức
năng quan tâm đặc biệt, coi đó là một công cụ rất quan trọng để điều tiết nền
kinh tế vĩ mô. Hơn nữa để duy trì bộ máy hoạt động của chính quyền các cấp
và phát triển kinh tế xã hội thì đòi hỏi phải có nguồn ngân sách đáp ứng cho
việc đó.
Nguồn ngân sách của nƣớc ta đƣợc hình thành từ nhiều kênh khác nhau,
và một trong những kênh quan trọng nhất là hoạt động thu thuế nội địa. Việc
thu thuế nội địa đƣợc giao cho ngành thuế các cấp từ trung ƣơng đến địa
phƣơng. Ngành thuế nhà nƣớc đƣợc tổ chức qua 3 cấp từ tổng cục thuế, cục
thuế đến chi cục thuế; đƣợc xác định rõ quyền hạn trách nhiệm và sự phân công
cụ thể hợp lý giữa cơ quan thuế ngành dọc cấp trên và chính quyền từng cấp
trong tổ chức lãnh đạo chỉ đạo thực hiện nghiêm chỉnh chính sách chế độ thuế
chung cả nƣớc và trên địa bàn lãnh thổ theo nguyên tắc song hành lãnh đạo.
Cùng với ngành thuế cả nƣớc thì ngành thuế tỉnh Vĩnh Phúc trong
những năm qua đạt đƣợc những thành tựu to lớn, nguồn thu ngân sách ngày
càng tăng, không những đảm bảo đƣợc những yêu cầu chi thiết yếu của bộ
máy QLNN và đầu tƣ phát triển ở địa phƣơng mà còn điều tiết ngân sách về
trung ƣơng. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay hoạt động quản lý thu thuế trên

2
địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc vẫn còn nhiều khiếm khuyết, hạn chế. Thu ngân

hoàn thiện hoạt động quản lý thu thuế trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong thời
gian tới. Vận dụng lý luận về thuế, quản lý thu thuế để phân tích, đánh giá
thực trạng hoạt động quản lý thu thuế trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Từ đó đề
xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm tăng cƣờng hoạt động quản lý thu
thuế trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian tới, đáp ứng nguồn lực để
thực hiện chức năng nhiệm vụ của hệ thống chính trị, tích lũy vốn cho đầu tƣ,
thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phƣơng
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Trong luận văn này, đối tƣợng nghiên cứu của
luận văn là hoạt động quản lý thu thuế trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Chủ thể
của hoạt động quản lý thu thuế trên địa bàn tỉnh Vĩnh phúc là Cục thuế tỉnh
Vĩnh phúc.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu hoạt động
quản lý thu thuế trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc qua các năm từ 2009 đến 2011
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Sử dụng phƣơng pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa
Mác – Lê Nin để nghiên cứu các vấn đề một cách toàn diện, hệ thống, khoa học.
Vận dụng các phƣơng pháp nhƣ so sánh, phƣơng pháp tổng hợp, phƣơng
pháp phân tích, phƣơng pháp thống kê để xem xét vấn đề kinh kế, tài chính
trong trạng thái đồng một cách có hiệu quả. Từ các sự kiện, các số liệu trong
quá khứ sẽ phân tích phát hiện để có ý kiến cho hiện tại và đƣa ra một sô giải
pháp cho tƣơng lai, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt đồng quản lý thu thuế
trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian sắp tới.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Góp phần hệ thống hóa và làm rõ lý luận về thuế và quản lý thu thuế,
và vai trò của thuế đối với sự phát triển kinh tế xã hội của địa phƣơng.

4
Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý thu thuế, chỉ ra đƣợc những kết
quả đạt đƣợc, hạn chế và nguyên nhân của nó trong công tác quản lý thu thuế

1.1. Khái niệm, vai trò, chức năng và đặc điểm của thuế
1.1.1 Khái niệm
Thuế là một phạm trù kinh tế tài chính mang tính khách quan, đồng thời
cũng là một phạm trù lịch sử, nó ra đời, tồn tại, phát triển cùng với sự ra đời,
tồn tại và phát triển của một nhà nƣớc. Lịch sử phát triển của xã hội loài
ngƣời đã chứng minh rằng, thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn liền với
sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nƣớc. Để duy trì sự tồn tại của mình,
Nhà nƣớc cần có những nguồn tài chính để chi tiêu, trƣớc hết là chi cho việc
duy trì và củng cố bộ máy cai trị từ trung ƣơng đến địa phƣơng, thuộc phạm
vi lãnh thổ mà Nhà nƣớc đó đang cai quản; chi cho các công việc ban đầu
thuộc chức năng của Nhà nƣớc nhƣ: quốc phòng, an ninh, chi cho xây dựng
và phát triển các cơ sở hạ tầng; chi cho các vấn đề về phúc lợi công cộng, về
sự nghiệp, về xã hội trƣớc mắt và lâu dài.
Để có nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu chung, Nhà nƣớc thƣờng
sử dụng ba hình thức động viên đó là: quyên góp của dân, vay của dân và
dùng quyền lực Nhà nƣớc bắt buộc dân phải đóng góp. Trong đó, hình thức
quyên góp tiền và tài sản của dân và hình thức vay của dân là những hình thức
tự nguyện, không mang tính ổn định và lâu dài, thƣờng đƣợc Nhà nƣớc sử
dụng có giới hạn trong một số trƣờng hợp đặc biệt, để bổ sung cho những
nhiệm vụ chi đột xuất hoặc cấp bách. Để đáp ứng nhu cầu chi tiêu thƣờng
xuyên, Nhà nƣớc dùng quyền lực buộc dân phải đóng góp một phần thu nhập
của mình cho Ngân sách Nhà nƣớc. Đây là hình thức cơ bản nhất để huy động
tập trung nguồn tài chính cho đất nƣớc.
Hình thức Nhà nƣớc dùng quyền lực buộc dân đóng góp để đáp ứng nhu
cầu chi tiêu của mình - chính là thuế.

6
Về quan hệ giữa Nhà nƣớc và thuế, Mác đã viết: "Thuế là cơ sở kinh tế
của bộ máy Nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay sản
vật mà người dân phải đóng góp để dùng vào mọi việc chi tiêu của Nhà nước"

dân và sẽ bằng nhiều cách để tránh thuế và trốn thuế. Quan điểm này đã hỗ
trợ rất nhiều cho các nhà kinh tế có quan điểm xã hội trong việc củng cố lập
trƣờng đấu tranh giai cấp.
Bên cạnh đó, cũng có các quan điểm khác nhau về thuế, đƣợc nhìn nhận
trên các bình diện khác. Trong cuốn từ điển kinh tế của hai tác giả ngƣời Anh
Chrisopher Pass và Bryan Lowes, đứng trên giác độ đối tƣợng chịu thuế đã
cho rằng : "Thuế là một biện pháp của chính phủ đánh trên thu nhập của cải
và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên
việc chi tiêu về hàng hoá và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản".
Một khái niệm khác về thuế tƣơng đối hoàn thiện đƣợc nêu lên trong
cuốn sách "Economics" của hai nhà kinh tế Mỹ, dựa trên cơ sở đối giá nhƣ
sau: "thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao
bằng hàng hoá, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho chính phủ,
mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được trực tiếp hàng hoá, dịch vụ nào
cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà toà án tuyên phạt do hành vi vi
phạm pháp luật". Trong các quan điểm này, ngƣời ta chỉ nhìn nhận thuế trên
giác độ các đối tƣợng nộp thuế và đối tƣợng chịu thuế, không nói đến việc sử
dụng tiền thuế để làm gì, chỉ thể hiện việc đánh thuế nhƣ là một nghĩa vụ
công dân của các doanh nghiệp và hộ gia đình với đất nƣớc mà mình đang
kinh doanh hoặc đang sinh sống. Các quan điểm này cũng chỉ phù hợp với
giai đoạn phát triển của thuế trong thời đoạn lịch sử nhất định lúc đó.
Trên giác độ phân phối thu nhập, ngƣời ta định nghĩa: Thuế là hình thức
phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm
hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước để đáp ứng các nhu cầu
chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước.

8
Trên giác độ ngƣời nộp thuế, thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc
mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo luật
định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ

công. Dựa vào định nghĩa này và các yêu cầu nêu trên, có thể đƣa ra một khái
niệm tổng quát về thuế phù hợp với giai đoạn hiện nay nhƣ sau: Thuế là một
khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải
thực hiện theo luật đối với Nhà nƣớc; không mang tính chất đối khoản, không
hoàn trả trực tiếp cho ngƣời nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu
chi tiêu công cộng.
1.1.2. Vai trò của thuế trong nền kinh tế
Các nhà kinh tế học thƣờng đề cập vai trò của thuế đối với ngân sách Nhà
nƣớc và đời sống xã hội. Bởi vì trên thực tế, thông qua hoạt động thu thuế, Nhà
nƣớc tập trung đƣợc một bộ phận của cải của xã hội từ đó hình thành nên qũy
ngân sách Nhà nƣớc và thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội.
Về phƣơng diện Luật học, thuế là một thực thể do Nhà nƣớc đặt ra thông
qua việc ban hành các văn bản pháp luật. Các văn bản quy phạm pháp luật
không chỉ quy định nội dung các loại thuế mà còn xác lập các quyền, nghĩa vụ
của các chủ thể, các biện pháp đảm bảo thực hiện thu, nộp thuế. Pháp luật
thuế là sự thể chế hoá các chính sách kinh tế - xã hội cuả Nhà nƣớc. Chính vì
vậy pháp luật thuế là nhân tố quyết định ý nghĩa kinh tế - xã hội của thuế và
có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế và đời sống xã hội.
Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong
những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định. Trong điều kiện nền kinh tế thị
trƣờng, với sự thay đổi phƣơng thức can thiệp của Nhà nƣớc vào hoạt động
kinh tế, thuế đóng vai trò hết sức quan trọng đối với qúa trình phát triển kinh
tế - xã hội. Vai trò của thuế đƣợc thể hiện trên các khía cạnh sau đây:

10
- Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nƣớc:
Với chức năng phân phối lại thu nhập quốc dân, thuế bằng nhiều cách
hình thành nên nguồn tài chính tập trung lớn nhất phục vụ cho chi tiêu công
cộng, đó là ngân sách Nhà nƣớc. Ngân sách Nhà nƣớc đƣợc tập hợp từ nhiều
nguồn thu khác nhau, nhằm đảm bảo yêu cầu chi tiêu chung cho nhu cầu công

- Thuế là công cụ để thực hiện kiểm tra,kiểm soát các hoạt động sản
xuất, kinh doanh
Vai trò này đƣợc xuất hiện trong quá trình tổ chức thực hiện các luật
thuế trong thực tế. Để đảm bảo thu đƣợc thuế và thực hiện đúng các quy định
của các luật thuế đã ban hành, cơ quan thuế và các cơ quan liên quan phải
bằng mọi biện pháp nắm vững số lƣợng, quy mô các cơ sở sản xuất, kinh
doanh, ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, mặt hàng họ đƣợc phép kinh
doanh cũng nhƣ các định mức chi tiêu đặc thù và các phƣơng thức hạch toán
riêng có. Từ công tác thu thuế mà cơ quan thuế sẽ phát hiện ra những khó
khăn mà họ gặp phải để giúp đỡ họ tìm mọi biện pháp tháo gỡ. Đồng thời,
cũng qua công tác thu thuế, cơ quan thuế cập nhật đƣợc nhiều kiến thức quản
lý kinh tế để phục vụ tốt hơn cho việc kiểm tra, kiểm soát sau này. Nhƣ vậy,
qua công tác quản lý thu thuế mà có thể kết hợp kiểm tra, kiểm soát toàn diện
các mặt hoạt động của các cơ sở kinh tế, đảm bảo thực hiện tốt quản lý Nhà
nƣớc về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội.
- Thuế góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển
Thuế trong cơ chế thị trƣờng không chỉ đóng vai trò là nguồn thu chủ
yếu của ngân sách Nhà nƣớc, mà còn là một công cụ làm đòn bẩy để thúc đẩy
sản xuất, kinh doanh phát triển. Theo quan điểm công bằng, bất kỳ một tổ
chức, cá nhân khi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế của mình với đất
nƣớc, họ đƣợc quyền thụ hƣởng và cung ứng những lợi ích công cộng nhất
định và đƣợc tạo thuận lợi nhất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình.
Bên cạnh đó, phụ thuộc vào chủ trƣơng kinh tế đất nƣớc, mà Nhà nƣớc có thể

12
dùng thuế để tác động, tạo thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh ở một số
ngành, vùng để khuyến khích sản xuất, kinh doanh phát triển nhằm tạo ra một
cơ cấu hợp lý hơn.
1.1.3. Chức năng của thuế
Thuế là một phạm trù tài chính, nó biểu hiện những thuộc tính chung vốn

- Tính ƣu thế của động viên thông qua thuế so với các công cụ khác còn
thể hiện ở chỗ: thuế kết hợp hài hoà giữa phƣơng pháp cƣỡng bức và kích
thích vật chất nhằm tạo ra sự quan tâm của các đối tƣợng nộp thuế tới chất
lƣợng sản xuất và hiệu quả kinh doanh.
Nhà nƣớc ban hành pháp luật thuế và ấn định các loại thuế áp dụng đối với
các pháp nhân và thể nhân trong xã hội. Việc các chủ thể nộp thuế - thực hiện
nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật thuế đã tạo ra nguồn tài chính
quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu ngân sách Nhà nƣớc.
Cũng nhƣ pháp luật nói chung, Pháp luật thuế có chức năng điều chỉnh
các quan hệ xã hội. Mục đích chủ yếu và quan trọng nhất cuả sự điều chỉnh
quan hệ pháp luật thu - nộp thuế là nhằm tạo lập qũy ngân sách Nhà nƣớc.
Hầu hết ở các quốc gia, thuế là hình thức chủ yếu mà pháp luật quy định để
thu ngân sách Nhà nƣớc.
Ngay từ khi ra đời thuế luôn luôn có công dụng là phƣơng tiện huy động
nguồn lực tài chính cho Nhà nƣớc. Ngƣời ta gọi công dụng này là chức năng
huy động tập trung nguồn lực tài chính của thuế. Đây là chức năng cơ bản của
thuế, đặc trƣng cho thuế ở tất cả các dạng Nhà nƣớc, trong tiến trình phát triển
của xã hội. Về mặt lịch sử, chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính
là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân sự ra đời của thuế.
Thông qua chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính của thuế
mà các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nƣớc đƣợc hình thành, để đảm bảo cơ sở
vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nƣớc. Chính chức năng này đã

14
tạo ra những tiền đề để Nhà nƣớc tiến hành tham gia phân phối và phân phối
lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân. Do đó chức năng này còn
đƣợc gọi là chức năng phân phối của thuế.
Sự phát triển và mở rộng các chức năng của Nhà nƣớc đòi hỏi phải tăng
cƣờng chi tiêu tài chính, do đó vai trò của chức năng huy động tập trung
nguồn lực của thuế ngày càng đƣợc nâng cao. Thông qua thuế, một phần đáng

tệ, tín dụng. Trong đó, thuế là một công cụ thuộc lĩnh vực tài chính và là một
trong những công cụ sắc bén nhất đƣợc Nhà nƣớc sử dụng để điều tiết vĩ mô
nền kinh tế.
Nhà nƣớc thực hiện chức năng điều chỉnh của thuế thông qua việc quy
định các hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tƣợng chịu thuế
và đối tƣợng nộp thuế; xây dựng chính xác, hợp lý các mức thuế phải nộp có
tính đến khả năng của ngƣời nộp thuế. Với công cụ thuế, sự can thiệp của Nhà
nƣớc không mang tính chất mệnh lệnh, bắt buộc các chủ thể phải kinh doanh
hay không kinh doanh, mà chủ yếu tạo ra sự lựa chọn đối với các chủ thể
trong việc xác định phạm vi hoạt động kinh doanh của mình.
Dựa trên cơ sở xác định mục tiêu và đối tƣợng ảnh hƣởng đến sự tăng
trƣởng của nền kinh tế trong từng giai đoạn cụ thể, Nhà nƣớc điều chỉnh thuế
để tạo ra những thay đổi trong nền kinh tế quốc dân theo hƣớng mong muốn
bao gồm: điều chỉnh chu kỳ kinh tế; cơ cấu ngành, khu vực và từng vùng lãnh
thổ; lƣu thông tiền tệ; giá cả; tiền lƣơng; phân phối thu nhập; các mối quan hệ
kinh tế đối ngoại; bảo vệ môi trƣờng Nhƣ vậy, nội dung điều chỉnh của
thuế đối với nền kinh tế quốc dân rất rộng, nó bao hàm hầu hết các quá trình
điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Dƣới đây là một số nội dung điều tiết cơ bản của
thuế đối với nền kinh tế quốc dân:
- Điều chỉnh chu kỳ nền kinh tế
Đây là một trong những nội dung quan trọng của quá trình sử dụng công
cụ thuế điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trƣờng thì sự phát

16
triển theo chu kỳ là điều không thể tránh khỏi. Theo chu kỳ, thị trƣờng sẽ phát
triển, đến một thời điểm cung vƣợt cầu, mọi hoạt động của nền kinh tế sẽ bị
đình trệ và bƣớc vào suy thoái. Để đảm bảo tốc độ tăng trƣởng ổn định, Nhà
nƣớc đã sử dụng thuế để điều chỉnh quá trình đó. Trong những năm khủng
hoảng và suy thoái kinh tế, Nhà nƣớc có thể hạ thấp mức thuế, tạo ra những
điều kiện ƣu đãi về thuế thuận lợi nhằm kích thích nhu cầu tiêu dùng để tăng

- Điều chỉnh tích luỹ vốn
Đây là một nội dung quan trọng của điều chỉnh thuế. Tham gia hoạt động
sản xuất, kinh doanh trong thị trƣờng, tất cả các nhà đầu tƣ đều mong muốn
chiếm hữu và bổ sung vốn từ lợi nhuận để mở rộng hoạt động kinh doanh.
Đây luôn là mục đích cơ bản của hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị
trƣờng. Để góp phần hạn chế tăng trƣởng nóng của các nền kinh tế, làm giảm
hiệu quả sử dụng tài nguyên; hoặc để thúc đẩy nền kinh tế đang trì trệ, Nhà
nƣớc cần sử dụng thuế để điều chỉnh sự tích luỹ, tạo sự thay đổi trong chu kỳ
kế tiếp. Trong nền kinh tế thị trƣờng, việc đầu tƣ của các doanh nghiệp Nhà
nƣớc không đƣợc xem là hoạt động chi tiêu Chính Phủ. Do đó, tăng thuế đồng
nghĩa với việc tăng chi tiêu Chính Phủ và giảm cơ hội tích lũy vốn của các
doanh nghiệp (kể cả của doanh nghiệp Nhà nƣớc). Sự phát triển nền kinh tế
luôn đòi hỏi phải tăng nhanh vốn đầu tƣ cơ bản, để phát triển nền kinh tế quốc
dân, Nhà nƣớc cần phải khuyến khích tích luỹ và tích tụ trong các doanh
nghiệp, để tạo ra nguồn vốn đầu tƣ. Việc thay đổi các chính sách thuế của
Nhà nƣớc có thể ảnh hƣởng đến quy mô và tốc độ tích luỹ vốn và, do đó tác
động đến quá trình đầu tƣ phát triển kinh tế.
- Bảo hộ nền sản xuất trong nước
Trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị
trƣờng, tất yếu dẫn đến tình trạng cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp
trên thị trƣờng nội địa. Đặc biệt, khi một đất nƣớc đã tham gia hội nhập kinh
tế tài chính quốc tế, các doanh nghiệp buộc phải cạnh tranh trên thị trƣờng

18
toàn cầu. Trong quá trình cạnh tranh này, sẽ có doanh nghiệp phát triển,
nhƣng cũng có những doanh nghiệp lụn bại. Việc phát triển hay phá sản của
các doanh nghiệp hoàn toàn do hiệu quả hay hậu quả của các hoạt động kinh
doanh bản thân doanh nghiệp mang lại. Những ngành sản xuất kém hiệu quả
sẽ dần đƣợc thay thế bởi những ngành sản xuất hoạt động có hiệu quả hơn.
Những nhà đầu tƣ kém cỏi dù trong nƣớc hay nƣớc ngoài sẽ nhƣờng chỗ cho

* Điều tiết tiêu dùng
Nhà nƣớc trong vai trò hƣớng dẫn xã hội đến những giá trị tốt đẹp, phải
định hƣớng các khuynh hƣớng tiêu dùng. Nhà nƣớc hƣớng dẫn tiêu dùng có
thể bằng nhiều biện pháp kể cả hành chính, xã hội và kinh tế. Tuy nhiên, giải
pháp hữu hiệu nhất có thể áp dụng trong một đất nƣớc cởi mở, dân chủ theo
nền kinh tế thị trƣờng là áp dụng chính sách thuế. Việc áp dụng các mức thuế
gián thu phân tầng nhƣ thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc
biệt sẽ làm giảm cầu với những hàng hoá, dịch vụ mà Nhà nƣớc cho là cần
hạn chế hoặc nên ƣu đãi. Thông qua điều chỉnh mức thuế suất thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu mà gây nên áp lực tăng giá hàng nhập khẩu, giảm khả năng
cạnh tranh so với hàng sản xuất trong nƣớc, từ đó điều chỉnh khối lƣợng hàng
hoá đƣa ra thị trƣờng và đƣa vào để thực hiện bảo hộ nền sản xuất trong nƣớc
và bảo vệ lợi ích của thị trƣờng nội địa. Mặt khác, tác động đánh thuế nhập
khẩu cũng gây nên phản ứng của ngƣời tiêu dùng trong nƣớc tạo nên sự lựa
chọn của họ trong tiêu dùng. Ngoài ra ngƣời ta còn sử dụng công cụ thuế để
kích thích việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hay ít nhất là giảm đến
mức thấp nhất tính kém hiệu quả của sản xuất trong nƣớc. Chẳng hạn, trong
trƣờng hợp cần hạn chế xuất khẩu những hàng hoá mà giá cả của chúng bị ấn
định bởi giá cả bất lợi của thị trƣờng thế giới, gây thiệt hại cho sản xuất trong
nƣớc, trƣờng hợp này có thể sử dụng thuế xuất khẩu để kích thích chuyển các
nguồn lực từ sản xuất hàng xuất khẩu sang sản xuất hàng hoá tiêu dùng nội
địa. Việc phân tầng các mức thuế gián thu này, phù hợp với các nguyên tắc

20
thị trƣờng, dù cho mức độ hội nhập của quốc gia đó cao hay thấp. Điều cần
chú ý là tránh phân biệt đối xử với hàng hoá, dịch vụ trong và ngoài nƣớc kể
cả trên việc áp dụng thuế suất nhập khẩu hay thuế nội địa, vì việc này vi phạm
các cam kết quốc tế khi đã tham gia hội nhập.
* Điều tiết xã hội
Hệ thống chính sách thuế trong nền kinh tế thị trƣờng hội nhập đƣợc áp

Qua phân tích nguồn gốc của sự ra đời của thuế và khái niệm chung về
thuế nêu trên, có thể khẳng định rằng: Thuế là một công cụ tài chính của Nhà
nƣớc, đƣợc sử dụng để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung nhằm sử dụng cho
mục đích công cộng. Tuy nhiên, thuế khác với các công cụ tài chính khác nhƣ
phí, lệ phí, tiền phạt, giá cả.v.v. Điều này thể hiện qua các đặc điểm cơ bản
của thuế trong kinh tế thị trƣờng nhƣ sau:
- Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền
Theo phƣơng thức đánh thuế trong nền kinh tế thị trƣờng, về nguyên tắc,
thuế là một khoản trích nộp dƣới hình thức tiền tệ, khác với hình thức nộp
thuế bằng hiện vật đã tồn tại từ thời xa xƣa hoặc khác với chế độ giao nộp sản
phẩm trong nền kinh tế phi thị trƣờng. Nhiều quan điểm cho rằng, đây chính
là sự khác biệt cơ bản và đầu tiên của thuế trong nền kinh tế thị trƣờng và
thuế trong các nền kinh tế khác. Chính sự phát triển của hoạt động trao đổi
hàng hoá bằng tiền đã làm cho thuế phát triển, và ngƣợc lại, việc bắt buộc nộp
các khoản thuế bằng tiền đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
thị trƣờng bằng cách đòi hỏi ngƣời nộp thuế trong trƣờng hợp không có tiền
phải đổi những tài sản hiện vật của mình ra thành tiền để thanh toán nợ thuế.
Tuy nhiên, hình thức trả thuế bằng hiện vật cũng không hoàn toàn mất đi
trong hệ thống chính sách thuế đƣơng đại. Một số quốc gia vẫn duy trì hình
thức này dƣới dạng thanh toán thuế bằng tặng vật với một số hiện vật qúy,
nhƣ khi đào đƣợc cổ vật phải nộp thuế cho Nhà nƣớc với một tỷ lệ hiện vật

Trích đoạn Đổi mới công tác tổ chức, chỉ đạo thu Hoàn thiện về công tác kê khai Coi trọng công tác tổ chức cán bộ Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thu thuế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status