Vốn đầu tư mạo hiểm - giải pháp tài chính cho các doanh nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ LIÊN
VỐN ĐẦU TƯ MẠO HIỂM – GIẢI PHÁP
TÀI CHÍNH CHO CÁC DOANH NGHIỆP
CÔNG NGHỆ CAO Ở VIỆT NAM
VỐN ĐẦU TƯ MẠO HIỂM – GIẢI PHÁP
TÀI CHÍNH CHO CÁC DOANH NGHIỆP
CÔNG NGHỆ CAO Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Tài chính và Ngân hàng
Mã số: 60 34 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ HOÀNG LINH

Danh mục các hình vẽ iii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về vốn đầu tư mạo hiểm và doanh nghiệp công nghệ
cao 6
1.1 Khái niệm về vốn đầu tư mạo hiểm 6
1.1.1 Vốn đầu tư mạo hiểm là gì? 6
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của vốn đầu tư mạo hiểm 7
1.1.3 Các quỹ cấp vốn đầu tư mạo hiểm 12
1.2 Khái niệm về doanh nghiệp công nghệ cao 16
1.3 Sự cần thiết của vốn đầu tư mạo hiểm đối với doanh nghiệp công nghệ cao…
17
1.3.1 Nhu cầu về vốn mạo hiểm của doanh nghiệp công nghệ cao 17
1.3.2 Ưu thế và nhược điểm của việc tiếp cận vốn mạo hiểm so với các nguồn
khác 18
1.3.3 Vai trò của vốn đầu tư mạo hiểm đối với sự phát triển kinh tế 22
1.3.4 Ảnh hưởng của vốn đầu tư mạo hiểm đối với sự phát triển của doanh
nghiệp công nghệ cao 26
1.4 Các bước tiếp cận vốn đầu tư mạo hiểm 28
1.4.1 Tìm hiểu về quỹ đầu tư mạo hiểm 28
1.4.2 Xây dựng kế hoạch kinh doanh hoàn hảo 31
1.4.3 Tiếp cận và xây dựng mối quan hệ tốt với các quỹ đầu tư 33
1.4.4 Thực hiện đề xuất kế hoạch với quỹ đầu tư 34
Chương 2: Thực trạng thị trường vốn đầu tư mạo hiểm trong các doanh nghiệp
công nghệ cao ở Việt Nam hiện nay 39
2.1 Nhu cầu vốn của các doanh nghiệp công nghệ ở Việt Nam hiện nay 39
2.1.1 Thực trạng phát triển công nghệ cao ở Việt Nam 39
2.1.2 Nhu cầu vốn mạo hiểm của các doanh nghiệp công nghệ cao 43
2.2 Thực trạng nguồn vốn mạo hiểm ở Việt Nam hiện nay 48
2.2.1 Các quỹ cung cấp vốn đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam 48
2.2.2 Một số hoạt động đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam 51

Từ viết tắt
Nguyên nghĩa
Tiếng Việt Tiếng Anh
1
ARDC
Nghiên cứu và phát triển
châu mỹ
Aberdeen Research and
Development Center
2 CEO Giám đốc điều hành Chief Executive Officer
3 CFO Giám đốc tài chính Chief Finance Officer
4 DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ
5 ĐTMH Đầu tư mạo hiểm
6
EVCA
Hiệp hội vốn đầu tư mạo
hiểm châu Âu
European Venture
Capital Association
7
FDI
Đầu tư trực tiếp nước
ngoài
Foreign Direct
Investment
8
FRUBF1
Quỹ đầu tư cân cân bằng
Frudential
9 GDP Tổng sản phẩm quốc nội Gross Domestic Product

Investment Fund
21 VGF Quỹ phát triển Việt Nam Vietnam Growth Fund
22
VOF Quỹ Cơ hội Việt Nam
Vietnam Opportunity
Fund
23
WTO
Tổ chức thương mại thế
giới
World Trade
Organization
ii Danh mục các bảng biểu
Bảng 1.1: Tăng trưởng nhân sự trên mỗi công ty ở Anh 23
Bảng 2.1: Những ngành có tốc độ phát triển nhanh nhất về số lượng các
doanh nghiệp 41
Bảng 2.2: Đặc điểm sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh 47
Bảng 2.3: Đặc điểm sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội 47
Bảng 2.4: Đặc điểm và thách thức của ngành công nghiệp đầu tư mạo hiểm ở
Việt Nam 68
Bảng 2.5: Mức độ ưu tiên giữa các hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm 70
Bảng 2.6: Các vấn đề của công ty được đầu tư 73

iii

nghệ cao từ các ngân hàng thương mại và thị trường chứng khoán đang gặp
nhiều khó khăn do các doanh nghiệp này thường có độ rủi ro cao trong hoạt
động và thiếu tài sản thế chấp.
Vốn đầu tư mạo hiểm có thể coi là giải pháp tài chính mới để phát triển
các doanh nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam hiện nay. Vốn đầu tư mạo hiểm
và vai trò của nó đối với sự phát triển của khoa học công nghệ cao nói riêng
và nền kinh tế nói chung đã được chứng Minh trong lịch sử đầu tư mạo hiểm
ở Mỹ, Nhật, Châu Âu… Tuy nhiên, vốn đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam vẫn
chưa nhận được sự quan tâm đúng mức từ các doanh nghiệp và quản lý nhà
nước. Vì vậy trong khóa luận này, tác giả chọn đề tài “Vốn đầu tư mạo hiểm -
2

giải pháp tài chính cho các doanh nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam” để góp
phần giúp các doanh nghiệp và nhà nước có cái nhìn rõ hơn về vai trò và thực
trạng của vốn đầu tư mạo hiệm ở Việt Nam, từ đó xây dựng giải pháp phát
triển thị trường vốn mạo hiểm cho các doanh nghiệp công nghệ cao ở Việt
Nam.
2. Tình hình nghiên cứu
Hiện tại ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu nhất định về vấn đề vốn
đầu tư mạo hiểm. Phan Thị Bích Nguyệt [4] với đề tài “Thu hút vốn đầu tư
mạo hiểm cho đổi mới công nghệ tại Việt Nam” đã trình bày vai trò của đổi
mới công nghệ đối với sự tăng trưởng kinh tế trong đó nhấn mạnh “tiến bộ
của khoa học công nghệ chính là động lực của tăng trưởng kinh tế, của năng
suất lao động và cải thiện lâu dài mức sống”, và các hạn chế của thị trường
đầu tư mạo hiểm Việt Nam. Nghiên cứu này đưa ra các kiến nghị để khuyến
khích đầu tư mạo hiểm vào quá trình đổi mới công nghệ tại Việt Nam bao
gồm: đẩy mạnh hoạt động đầu tư đổi mới công nghệ, tạo môi trường đầu tư
thuận lợi hỗ trợ cho sự phát triển hình thức đầu tư vốn mạo hiểm, xây dựng
nền tảng pháp lý cho hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm, thành lập các quỹ đầu
tư mạo hiểm thuộc sở hữu của nhà nước, thiết kế chương trình tín dụng hỗ trợ

Luận văn có nhiệm vụ trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
(1) Cơ sở lý thuyết chung về vốn đầu tư mạo hiểm. Làm rõ:
o Vốn đầu tư mạo hiểm là gì?
o Vốn đầu tư mạo hiểm có tác động như thế nào đối với các doanh nghiệp
công nghệ cao và nền kinh tế?
4

o Quy trình tiếp cận vốn mạo hiểm như thế nào?
(2) Thực trạng thị trường vốn mạo hiểm hiện nay như thế nào?
o Cụ thể về nhu cầu vốn mạo hiểm ở thị trường Việt Nam hiện nay ra sao?
o Hiện tại có những quỹ nào có hoạt động đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam,
quy mô vốn của các quỹ thế nào?
o Các đặc điểm của thị trường đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam hiện nay
(3) Giải pháp nào để phát triển thị trường vốn đầu tư mạo hiểm cho các
doanh nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: thị trường vốn đầu tư mạo hiểm cho các doanh
nghiệp công nghệ cao.
* Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Đề tài này giới hạn nghiên cứu thị trường vốn đầu tư
mạo hiểm cho các doanh nghiệp công nghệ cao trên lãnh thổ ở Việt Nam
Về thời gian: Hình thức đầu tư mạo hiểm đã xuất hiện trên thế giới từ
năm 1946. Ở Việt Nam các quỹ đầu tư mạo hiểm xuất hiện vào những năm
1990. Tuy nhiên, đề tài này tập trung vào phân tích thực trạng vốn đầu tư mạo
hiểm ở Việt Nam trong những năm gần đây (2000-2012).
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của đề tài này bao gồm:
Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích tổng hợp và so sánh để đạt
được mục tiêu của đề tài. Trong đó:
Thu thập thông tin từ các bài viết được đăng trên các tạp chí, các báo;

Chương 1
Cơ sở lý thuyết về vốn đầu tư mạo hiểm
và doanh nghiệp công nghệ cao
1.1 Khái niệm về vốn đầu tư mạo hiểm
1.1.1 Vốn đầu tư mạo hiểm là gì?
Khi tìm nguồn tài trợ cho bất kỳ một giai đoạn nào trong quá trình phát
triển của mình, các doanh nghiệp công nghệ cao cũng phải xem xét mức độ
rủi ro mà doanh nghiệp phải gánh chịu. Trong giai đoạn khởi sự, doanh
nghiệp công nghệ cao phải đối mặt với rủi ro kinh doanh rất lớn cho nên
doanh nghiệp phải tìm một nguồn tài trợ thích hợp nhằm để hạn chế rủi ro tài
chính. Trong giai đoạn này tiếp cận vốn từ các tổ chức tín dụng là không khả
thi vì trong giai đoạn mới khởi sự qui mô doanh nghiệp còn nhỏ, doanh
nghiệp chưa có đủ tài sản để thế chấp và uy tín của doanh nghiệp chưa đủ để
đáp ứng nhu cầu vay vốn. Và đồng thời nó cũng làm gia tăng chi phí của
doanh nghiệp do gánh nặng chi trả lãi suất tiền vay. Thêm nữa, doanh nghiệp
cũng khó nhận được tài trợ bằng vốn cổ phần bởi trong giai đoạn này doanh
nghiệp chưa đủ các tiêu chuẩn để phát hành chứng khoán ra công chúng.
Vốn đầu tư mạo hiểm được xem là đáp án tối ưu cho bài toán về vốn
của các doanh nghiệp công nghệ cao. Vốn đầu tư mạo hiểm là những khoản
đầu tư cổ phần vào giai đoạn đầu của những doanh nghiệp mới khởi sự - khi ở
giai đoạn này các doanh nghiệp công nghệ cao cần vốn để tài trợ cho việc
phát triển sản phẩm mới hoặc ý tưởng về khoa học công nghệ. Đây là những
7

khoản đầu tư có khả năng thu lời lớn để bù đắp cho mức độ rủi ro cao của các
quỹ đầu tư.
Tùy thuộc vào đặc điểm hoạt động của các quỹ, vốn đầu tư mạo hiểm
có thể được hiểu theo hai cách khác nhau.
Cách hiểu thứ nhất, theo nghĩa rộng, vốn đầu tư mạo hiểm là “nguồn tài
chính cung cấp cho các công ty tư nhân dưới hình thức vốn cổ phần hoặc các

yếu vào các công ty mới thành lập hoặc các công ty có ý định mở rộng sản
xuất. Thông thường, các công ty này khai thác những bước đột phá trong
công nghệ điện tử, y tế, xử lý dữ liệu. Kết quả là đầu tư vốn mạo hiểm đến
gần như đồng nghĩa với tài trợ công nghệ. Công ty cung cấp những khoản vốn
đầu tư mạo hiểm đầu tiên tại West Coast là công ty đầu tư Draper và Johnson,
được hình thành vào năm 1962 bởi William Henry Draper III và Franklin P.
Johnson. Năm 1962, Draper Bill và Paul Wythes thành lập Sutter Hill
Ventures, và Pitch Johnson thành lập Asset Management Company.
Người ta ghi nhận rằng doanh nghiệp đầu tiên được hỗ trợ bởi vốn mạo
hiểm là Fairchild Semiconductor (sản xuất các mạch tích hợp thương mại
thiết thực đầu tiên), được thành lập năm 1959, bởi quỹ đầu tư mà sau này trở
thành Venrock Associates. Venrock được thành lập vào năm 1969 bởi
Laurance S. Rockefeller.
Hình thức phổ biến trong những năm 1960 của nguồn cung vốn đầu tư
mạo hiểm là từ các quỹ vốn tư nhân. Các hãng tư nhân được tổ chức theo
dạng công ty trách nhiệm hữu hạn để nắm giữ các khoản vốn đầu tư, trong đó
các chuyên gia đầu tư hoạt động như là đối tác chung còn các nhà đầu tư là
các đối tác trách nhiệm hữu hạn thụ động thì thu xếp vốn. Cơ cấu bồi thường,
vẫn còn được sử dụng ngày nay, cũng xuất hiện với việc các thành viên góp
9

vốn phải trả một khoản phí quản lý hàng năm là 1-2,5% và lãi suất thực hiện
thường lên đến 20% lợi nhuận của công ty.
Sự tăng trưởng quy mô cung cấp vốn đầu tư mạo hiểm được thúc đẩy
bởi sự xuất hiện của các công ty đầu tư độc lập trên đường Sand Hill, bắt đầu
với Kleiner, Perkins, Caufield and Byers và Sequoia Capital vào năm 1972.
Trong suốt những năm 1970, một nhóm các hãng tư nhân, tập trung chủ yếu
vào lĩnh vực đầu tư mạo hiểm, được thành lập để rồi trở thành mô hình cho
“leveraged buyout” và các hãng đầu tư mạo hiểm về sau này. Năm 1973, với
sự gia tăng về số lượng các công ty đầu tư mạo hiểm, các nhà đầu tư mạo

Cuối những năm 1990 là thời gian bùng nổ của vốn đầu tư mạo hiểm,
như các công ty trên đường Sand Hill ở Menlo Park và Thung lũng Silicon
được hưởng lợi từ sự đột biến lớn liên quan đến Internet non trẻ và công nghệ
máy tính. Các đợt IPO của cổ phiếu công nghệ đều rất thành công và các
khoản vốn đầu tư mạo hiểm đã gặt hái lợi nhuận lớn.
Vụ sụp đổ thị trường Nasdaq và sụt giảm cổ phiếu công nghệ bắt đầu từ
tháng 3 năm 2000 làm rung chuyển hầu như toàn bộ ngành công nghiệp cung
ứng vốn đầu tư mạo hiểm. Trong hai năm sau đó, nhiều công ty đầu tư mạo
hiểm đã bị buộc phải rút một tỷ lệ lớn các khoản đầu tư của họ và nhiều quỹ
đã bị "chết ngụp" (giá trị đầu tư của quỹ dưới số vốn đầu tư). Nhà đầu tư vốn
mạo hiểm tìm cách để giảm các cam kết của họ cho các quỹ đầu tư mạo hiểm
và trong nhiều trường hợp, tìm cách dỡ bỏ các cam kết hiện tại. Đến giữa năm
2003, quy mô cung ứng vốn đầu tư mạo hiểm đã co lại còn khoảng một nửa
mức năm 2001. Tuy nhiên, theo khảo sát MoneyTree của
PricewaterhouseCoopers cho thấy tổng vốn mạo đầu tư mạo hiểm được giữ
ổn định ở mức năm 2003 cho tới quý hai của năm 2005.
11

Mặc dù các năm bùng nổ sau đó chỉ bằng một phần nhỏ của đỉnh cao
của vốn đầu tư mạo hiểm đã đạt được trong năm 2000, chúng vẫn đại diện
cho một sự gia tăng trên mức đầu tư từ năm 1980 đến năm 1995. Theo tỷ lệ
phần trăm của GDP, vốn đầu tư mạo hiểm chiếm 0,058% năm 1994, đạt mức
1,087% (gần 19 lần mức năm 1994) vào năm 2000 và dao động từ 0,164%
đến 0,182% trong năm 2003 và 2004. Sự hồi sinh của Internet từ năm 2004
đến năm 2007 đã giúp phục hồi môi trường vốn đầu tư mạo hiểm.
Lịch sử phát triển của đầu tư mạo hiểm trên thế giới gắn liền với lịch sử
phát triển của thị trường đầu tư mạo hiểm tại Mỹ. Đồ thị dưới đây cho ta cái
nhìn khái quát về quá trình phát triển của đầu tư mạo hiểm trong giai đoạn
1980-2011 (Hình 1.1).


khác.
Đầu tư gián tiếp là việc quỹ đầu tư tự dùng vốn của mình tham gia vào
thị trường chứng khoán với tư cách của một nhà kinh doanh chứng khoán,
mua đi bán lại các chứng khoán, nhằm hưởng chênh lệch giá hay cổ tức từ các
công ty hoặc lợi tức trái phiếu. Tuy nhiên quỹ đầu tư không phải là thành viên
của thị trường chứng khoán tập trung. Các quỹ đầu tư có thể dùng vốn của
mình cho các chủ doanh nghiệp vay để đầu tư vào các dự án theo những thoả
thuận nhất định. Nguồn vốn hình thành quỹ đầu tư rất phong phú và đa dạng.
13

Các tập đoàn tư bản, các công ty, dân chúng có vốn nhàn rỗi dù nhiều hay ít
đều có thể trở thành các chủ sở hữu của quỹ đầu tư bằng việc mua các chứng
chỉ quỹ đầu tư do quỹ đầu tư phát hành.
Hiện nay có rất nhiều loại hình quỹ đầu tư như: quỹ đầu tư chứng
khoán, quỹ đầu tư hỗn hợp, quỹ hỗ trợ đầu tư, quỹ đầu tư mạo hiểm Trong
đó, quỹ đầu tư mạo hiểm là hình thức huy động vốn để đầu tư tiền và kỹ năng
vào các công ty công nghệ mới khởi sự có tiềm năng phát triển cao hoặc các
công ty đang ở giai đoạn tăng trưởng cao.
1.1.3.2. Các cơ chế hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm
Do đầu tư mạo hiểm thường rót vốn vào các doanh nghiệp công nghệ
cao, công nghệ tiên tiến đang trong giai đoạn khởi nghiệp, nên độ rủi ro rất
cao. Vì vậy, để hạn chế rủi ro có thể phát sinh, hoạt động đầu tư mạo hiểm
thường được thực hiện theo một số cơ chế nhất định sau:
Cơ chế lựa chọn dự án
Hiệu quả hoạt động của ĐTMH phụ thuộc vào sự thành công của các dự
án đầu tư hay những doanh nghiệp công nghệ mà quỹ ĐTMH rót vốn vào.
Một dự án công nghệ tốt sẽ đem lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp, cho các
nhà ĐTMH và các nhà quản lý quỹ. Vì thế, việc lựa chọn một dự án tốt hay
một doanh nghiệp tiềm năng đóng vai trò rất quan trọng. Quỹ ĐTMH sẽ căn
cứ vào những tiêu chí nhất định để lựa chọn các dự án đầu tư phù hợp và có

hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (tại Việt Nam, cao nhất là 30%). Bên
cạnh đó, quỹ còn hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh như: Tư vấn
15

quản lý doanh nghiệp, lựa chọn nhân sự, mở rộng quan hệ nhằm tăng cường
năng lực kinh doanh, xây dựng uy tín, thương hiệu, tìm kiếm thị trường…
Tại Việt Nam, do ĐTMH được thực hiện chủ yếu bởi các quỹ của nước
ngoài nên vốn ĐTMH thường tập trung vào hai giai đoạn cuối là mở rộng và
tăng tốc. Điều này cũng dễ hiểu vì về bản chất, ĐTMH là hoạt động kinh
doanh vốn và nhằm mục tiêu lợi nhuận. Trong 5 giai đoạn đầu tư, 3 giai đoạn
đầu có độ rủi ro cao hơn 2 giai đoạn sau.

1.1.3.3. Các giai đoạn đầu tư mạo hiểm
Một dự án đầu tư mạo hiểm thông thường kéo dài từ 7 đến 10 năm, được
thực hiện qua ba bước: bắt đầu từ việc xem xét, thẩm định dự án, tới thực hiện
đầu tư, rót vốn và kết thúc là việc thu hồi vốn.

Hình 1.2: Nhà đầu tư mạo hiểm
Xem xét và thẩm định các dự án đầu tư.
Các quỹ đầu tư sẽ tiến hành nhiệm vụ xem xét và thẩm định dự án đầu
tư rất kỹ trước khi quyết định đầu tư vào doanh nghiệp. Đó là thẩm định tỉ lệ
rủi ro, vốn rút để tái đầu tư, mức độ lợi nhuận… Trên thực tế ở Việt Nam, các
quỹ đầu tư mạo hiểm chấp nhận tỉ lệ rủi ro thấp nên thường tìm đến với các
doanh nghiệp đã có tên tuổi và uy tín trên thị trường.
16

Thực hiện đầu tư, rót vốn.
Sau khi ký hợp đồng hợp tác, các quỹ đầu tư mạo hiểm tiến hành đầu tư,
rót vốn vào doanh nghiệp. Quá trình rót vốn chia làm 5 giai đoạn, 3 giai đoạn
đầu có mức độ rủi ro cao hơn 2 giai đoạn sau. Không chỉ rót vốn, quỹ còn hỗ

Lịch sử phát triển thế giới cũng như yêu cầu khách quan đặt ra đối với
nền sản xuất xã hội là cần phải phát triển khoa học công nghệ cao. Điều này
đặc biệt có ý nghĩa đối với những nước có nền kinh tế chậm phát triển, trình
độ khoa học lạc hậu như Việt Nam. Để phát triển kinh tế cần đẩy nhanh quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền sản xuất xã hội mà then chốt là phát
triển các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao. Đó là con
đường duy nhất, bền vững nhất nhằm phát triển kinh tế xã hội, thu hẹp
khoảng cách với các nước khác.
Đầu tư phát triển cho doanh nghiệp công nghệ cao là đảm bảo lợi ích
lâu dài, bền vững và toàn diện. Do vậy nó đòi hỏi sự quan tâm đúng mức từ
cấp doanh nghiệp đến quy mô nền kinh tế quốc dân nhằm nâng cao năng lực
cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới hiện nay.
1.3 Sự cần thiết của vốn đầu tư mạo hiểm đối với doanh nghiệp công
nghệ cao
1.3.1 Nhu cầu về vốn mạo hiểm của doanh nghiệp công nghệ cao
Hiện nay, kênh huy động vốn từ ngân hàng hay từ thị trường chứng
khoán đang gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp công
nghệ cao khi đây là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ và không có tài sản
có giá trị lớn làm thế chấp. Hơn nữa, các doanh nghiệp công nghệ cao thường

Trích đoạn Ưu thế và nhược điểm của việc tiếp cận vốn mạo hiểm so với các nguồn Xây dựng kế hoạch kinh doanh hoàn hảo Chuyên nghiệp hóa trong cách thức tiếp cận vốn mạo hiểm Xây dựng một khuôn khổ quản trị doanh nghiệp hiện đại Minh bạch tài chính
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status