Thu hút vốn đầu tư nhằm phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng định hướng đến năm 2020 - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

VŨ ĐÌNH TUẤN
THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ NHẰM PHÁT
TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI TỈNH LÂM ĐỒNG
ĐỊNH HƢỚNG ĐẾN NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SỸ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. QUÁCH MẠNH HÀO
Đà Lạt - Năm 2012 MỤC LỤC

Trang
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT …………………………
1
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ………………………………… . .
2
MỞ ĐẦU ……………………………………………………………….
3
CHƢƠNG 1 : Cơ sở lý luận về thu hút vốn cho đầu tƣ phát triển
kinh tế - xã hội …………………………………………………………

8
1.1. Khái niệm về đầu tƣ và vốn đầu tƣ ………………………
8
1.1.1. Khái niệm về đầu tư …………………………………………
8
1.1.2. Khái niệm về vốn đầu tư ………………………………………
11
1.1.3. Các hình thức đầu tư …………………………………………
12

2.2.1. Thu hút vốn từ nguồn vốn đóng góp của dân cư ………….
57
2.2.2. Thu hút vốn đầu tư của doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh tế
cá thể ………
57
2.2.3. Thu hút vốn từ nguồn tín dụng …….
66
2.2.4. Thu hút vốn đầu tư nước ngoài ……………….
69
2.3. Đánh giá những kết qua đạt đƣợc và những tồn tại, hạn chế
của việc thu hút vốn đầu tƣ trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn
2006-2010 …………………………………………………………….
68
2.3.1. Những kết qua đạt được của việc thu hút vốn đầu tư và tác
động của thu hút vốn đầu tư đối với phát triển kinh tế - xã hội …….…
68
2.3.2. Những tồn tại, hạn chế của việc thu hút vốn đầu tư ………
73
2.3.3. Nguyên nhân của những tồn tại và hạn chế ………………….
75
CHƢƠNG 3. Giải pháp thu hút vốn cho đầu tƣ và phát triển kinh
tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm
78 2020 ………………………………………………………………
3.1. Định hƣớng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng giai
đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2020 ………………………
78
3.1.1. Mục tiêu phát triển đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm

3.3.6. Nhóm giải pháp hỗ trợ khác
97
3.4. Những kiến nghị, đề xuất nâng cao khả năng thu hút vốn
đầu tƣ nhằm phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng giai đoạn
2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2020 ………………………………
109
3.4.1. Đối với Trung ương …………………………………………….
109
3.4.2. Đối với UBND Tỉnh Lâm Đồng ……………………………
109
KẾT LUẬN ……………………………………………………………
111
TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………….
113
i

Biểu 2.1: Huy động đóng góp của dân cư để đầu tư cơ sở hạ tầng
Biểu 2.2: Số lượng Doanh nghiệp phân theo khu vực kinh tế
Biểu 2.3: Số lượng Doanh nghiệp phân theo ngành kinh tế
Biểu 2.4: Nguồn vốn của các doanh nghiệp đến thời điểm 31/12
(Chia theo loại hình kinh tế và 1 số ngành)
Biểu 2.5 Tình hình huy động vốn của các tổ chức tín dụng giai đoạn (2006-
2010)

1
Mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trước yêu cầu Hội nhập Kinh tế Thế giới và Khu vực, cùng với sự phát
triển của cả nước, trong những năm qua Kinh tế - Xã hội tỉnh Lâm Đồng tiếp
tục có bước phát triển tăng trưởng khá so với Khu vực Tây Nguyên cũng như
so với tốc độ tăng trưởng chung của cả nước. Kinh tế - Xã hội tỉnh Lâm Đồng
tiếp tục ổn định và phát triển theo hướng chuyển định cơ cấu kinh tế: tăng dần
tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, bước đầu đã phát huy được những lợi thế của
địa phương. Tuy nhiên trong những năm qua Kinh tế- XH của tỉnh Lâm Đồng

nên các đề tài nghiên cứu chưa đề cập trực tiếp đến vấn đề thu hút vốn và sử
dụng vốn đầu tư để phát triển có hiệu quả cao nhất nền kinh tế xã hội của tỉnh
Lâm Đồng.
Xuất phát từ đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng là một tỉnh
Tây nguyên có tính đặc thù về về địa lý và điều kiện kinh tế - xã hội, cho đến
nay chưa có công trình, đề tài nào đặt vấn đề nghiên cứu một cách hệ thống
về lý luận, thực tiễn, thực trạng và giải pháp thu hút, sử dụng vốn đầu tư phát
triển kinh tế - xã hội của địa phương. Mặt khác Nghị quyết Đại hội Đảng bộ
tỉnh Lâm Đồng lần thứ IX (nhiệm kỳ 2011-2015) đã đề ra những phương
hướng, mục tiêu phát triển mới với những kỳ vọng tốc độ tăng trưởng cao;
ngày 23/8/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 1462/QĐ-
TTg v/v phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Lâm
Đồng đến năm 2020; trong đó đã đặt ra những yêu cầu mới về phát triển kinh
tế- xã hội của tỉnh với những mục tiêu và nhiệm vụ cao hơn, nhằm thực hiện
thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH của tỉnh nhà vào năm 2020. Đó là những vấn
đặt ra về mặt lý luận và thực tiễn để tác giả thực hiện nghiên cứu Luận án
khoa học với đề tài “Thu hút vốn đầu tƣ nhằm phát triển kinh tế - xã hội
tỉnh Lâm Đồng định hƣớng đến năm 2020’’ để được nghiên cứu một cách 3
hệ thống trên cơ sở các vấn đề lý luận về đầu tư, thu hút vốn đầu tư, mối quan
hệ giữ đầu tư và tăng trưởng kinh tế; Xuất phát từ thực tiễn thu hút vốn và sử
dụng vốn cho phát triển kinh tế - xã hội địa phương thời qua, đề xuất các giải
pháp thu hút và sử dụng các nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội tỉnh
Lâm Đồng giai đoạn 2011 – 2015 và tầm nhìn đến năm 2020.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
- Trình bày có hệ thống để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản và
thực tiễn về vốn đầu tư về mối quan hệ giữa vốn đầu tư và tăng trưởng phát
triển KT-XH, làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất các quan điểm, phương

Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, sử dụng số
liệu thống kê và phương pháp thống kê so sánh, phương pháp dự báo, phân
tích thống kê, phương pháp so sánh tổng hợp trong xử lý thông tin.
6. Những đóng góp của luận văn
Đề tài nghiên cứu nhằm đóng góp những điểm mới như sau:
- Về lý luận: Hệ thống hoá một số lý luận cơ bản về đầu tư, vốn đầu tư
phát triển kinh tế xã hội; mối quan hệ giữ vốn đầu tư và phát triển kinh tế -xã
hội. Luận văn trình bày có hệ thống cơ sở của việc hình thành các nguồn vốn
đầu tư phát triển và làm sáng tỏ những vấn đề về đặc điểm, vai trò, các nhân
tố ảnh hưởng của thu hút vốn đầu tư đến sự phát triển của kinh tế -xã hội tỉnh
Lâm Đồng.
- Về thực tiễn: Nghiên cứu phản ánh thực trạng thu hút các nguồn vốn
đầu tư phát triển kinh tế -xã hội của tỉnh Lâm Đồng; từ đó đánh giá những kết
quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của thực trạng trên trong thời
gian qua.
- Hệ thống những giải pháp đã có, hoàn thiện và đề xuất thêm những
giải pháp đổi mới cơ chế chính sách và giải pháp tổ chức thực hiện nhằm thu 5
hút vốn, đa dạng hoá nguồn vốn đầu tư và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư
phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2011 – 2015 và tầm nhìn
đến năm 2020.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung chính
của Luận văn được chia làm 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về thu hút vốn cho đầu tư phát triển kinh tế-
xã hội
Chƣơng 2: Thực trạng thu hút vốn đầu tư phát triển kinh tế-xã hội tỉnh
Lâm Đồng giai đoạn 2006-2010

thu lợi nhuận: “Đầu tư, theo cách dùng thông thường là việc cá nhân hoặc
Công ty mua sắm một tài sản. Đôi khi, thuật ngữ này còn bị giới hạn trong
việc mua một tài sản tại Sở giao dịch chứng khoán”. Ông có nói đến đầu tư
mua tài sản tài chính, song chủ yếu tập trung vào khái niệm đầu tư tạo thêm
tài sản vật chất mới (như máy móc, thiết bị, nhà xưởng…) và để thu về một
khoản lợi nhuận trong tương lai: “Khi một người mua hay đầu tư một tài sản,
người đó mua quyền để được thu một loạt các khoản lợi tức trong tương lai
mà người đó hy vọng giành được qua việc bán sản phẩm do tài sản cố định
làm ra Quan niệm của ông đã nói lên kết quả của đầu tư về hình thái vật chất
là tăng thêm tài sản cố định, tạo ra tài sản mới về mặt giá trị, kết quả thu được
lớn hơn chi phí bỏ ra.
+ Nhà kinh tế học P.A Samuelson cho rằng đầu tư là hoạt động tạo ra
vốn ta bản thực sự, theo các dạng nhà ở, đầu tư vào tài sản cố định của doanh
nghiệp như máy móc, thiết bị và nhà xưởng và tăng thêm hàng tồn kho. Đầu
tư cũng có thể dưới dạng vô hình như giáo dục, nâng cao chất lượng nhân lực,
nghiên cứu, phát minh…Theo ông trong thuật ngữ tài chính, đầu tư mang một
ý nghĩa hoàn toàn khác, dùng để chỉ mua một loại chứng khoán…, đó không
phải là đầu tư thực sự của nền kinh tế. Trên góc độ làm tăng thu nhập cho
tương lai, đầu tư được hiểu là “hoạt động kinh tế từ bỏ tiêu dùng hiện nay với 7
tầm nhìn để tăng sản lượng cho tương lai”, với niềm tin, kỳ vọng thu nhập do
đầu tư đem lại sẽ cao hơn các chi phí đầu tư.
Các vấn đề mà P.A Samuelson nêu ra trong các cách tiếp cận về đầu tư
đã cho thấy đầu tư là hy sinh tiêu dùng hôm nay để có thu nhập cao hơn trong
tương lai và đó là quá trình chứa đựng những rủi ro. Điều đó không chỉ nói
lên kết quả của đầu tư mà còn chỉ rõ nguồn gốc của đầu tư trên giác độ cá
nhân cũng như trên phạm vi nền kinh tế, thể hiện các mối quan hệ thu nhập,
tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư. Đồng thời ông cũng xác định các dạng chính

ty phát hành.
Thứ hai là đầu tư thương mại: là loại đầu tư, trong đó người có tiền bỏ
tiền ra để mua hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do
chênh lệch giá khi bán.
Thứ ba là đầu tư tài sản vật chất và sức lao động: là loại đầu tư, trong
đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm duy trì và tạo ra
tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng năng lực sản xuất, kinh doanh và mọi
hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời
sống của nhân dân.
Trong đầu tư tài sản vật chất, có đầu tư các điều kiện cơ sở vật chất, kỹ
thuật, kiến trúc, thông tin, dịch vụ tài chính, ngân hàng… tạo nền tảng cơ bản
cho các hoạt động kinh tế - xã hội. Đó là đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội.
Hay có thể nói đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội bỏ một
lượng tiền vào việc tạo mối hay tăng cường cơ sở vật chất, các điều kiện kỹ
thuật, phương tiện, thiết chế, tổ chức làm nền tảng cho kinh tế - xã hội phát
triển.
Khái niệm này đã phản ánh được khá đầy đủ các đặc điểm của đầu tư kết
cấu hạ tầng - kinh tế xã hội. Các đặc điểm đó là. 9
Một là, hoạt động đầu tư thường sử dụng nhiều nguồn lực tương ứng với
các đơn vị đo lường khác nhau, nhưng thường sử dụng đơn vị tiền tệ để biểu
hiện. Khi nói đến đầu tư thì thường được biểu hiện bằng tổng số tiền cần chi
hoặc đã chi.
Hai là, thời gian kể từ khi bắt đầu thực hiện đầu tư cho đến khi các kết
quả của công cuộc đầu tư phát huy tác dụng phải kéo dài trong một khoảng
thời gian nhất định (nhiều năm, tháng).
Ba là, chi phí cần thiết cho một công cuộc đầu tư lớn và phải nằm ứ

1.1.3. Các hình thức đầu tư
Hoạt động đầu tư là việc sử dụng vốn để phục hồi và tạo ra năng lực sản
xuất kinh doanh mới. Đó là quá trình chuyển hoá vốn thành các yếu tố phục
vụ cho quá trình sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ để làm tăng tài sản quốc gia.
Hoạt động đầu tư thường được tiến hành dưới hai hình thức:
- Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư mà người có vốn tham gia trực tiếp
vào quá trình hoạt động và quản lý đầu tư, họ biết được mục tiêu đầu tư cũng
như phương thức hoạt động của các lọai vốn mà họ bỏ ra. Hoạt động đầu tư
này có thể được thực hiện dưới các dạng: hợp đồng, liên doanh, công ty cổ
phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.
- Đầu tư gián tiếp là hình thức bỏ vốn vào hoạt động kinh tế nhằm đem
lại hiệu quả cho bản thân người có vốn cũng như cho xã hội, nhưng người có
vốn không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Đầu tư gián tiếp
thường được thực hiện dưới dạng: cổ phiếu, tín phiếu… Hình thức đầu tư này
thường ít gặp rủi ro hơn so với đầu tư trực tiếp.
1.2. Thu hút vốn đầu tƣ 11
- Thu hút vốn đầu tư là hoạt động nhằm tới việc khai thác, thu hút các
nguồn vốn đầu tư, làm cho lượng vốn đầu tư tăng lên nhằm thoả mãn nhu cầu
đầu tư.
Muốn tăng vốn đầu tư trước hết phải thực hiện tăng tỷ lệ tiết kiệm trong
nước cho đầu tư, thứ hai trong nền kinh tế mở, nhất là Việt Nam và các nước
đang phát triển nguồn tiết kiệm trong nước chưa đủ đáp ứng cho đầu tư, đòi
hỏi phải thu hút các nguồn vốn từ nước ngoài. Như vậy thu hút vốn đầu tư có
thể hiểu bao gồm cả việc thu hút nguồn tiết kiệm từ trong nước và thu hút
nguồn vốn nước ngoài nhằm đạt được một khối lượng vốn đầu tư được xác
định.
- Thu hút vốn đầu tư được các nhà kinh tế học quan tâm nghiên cứu,

thành phần kinh tế, và các tác động đến mối quan hệ giữa đầu tư khu vực Nhà
nước và khu vực tư nhân. Đầu tư công cộng của Nhà nước phải có tác động
lôi kéo, dẫn dắt mà không làm suy giảm, lấn át đầu tư tư nhân.
Thứ ba, thu hút vốn đầu tư góp phần tăng cường khoa học kỹ thuật, công
nghệ.
Thu hút vốn đầu tư làm cho trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ của
nền kinh tế được tăng cường thông qua các dự án đầu tư được triển khai, thay
thế các thiết bị kỹ thuật công nghệ lạc hậu. Bình thường, thiết bị kỹ thuật có
thể mới nhưng vẫn dựa trên cơ sở công nghệ hiện có; thì trong thời kỳ cách
mạng khoa học, công nghệ, đầu tư vào các thiết bị mới thường đi kèm với
những bước tiến công nghệ mới, tạo chuyển biến mạnh mẽ vê năng suất lao
động. Trên cơ sở này tích luỹ tư bản tăng nhanh và tăng cường khả năng đầu
tư mới. Đầu tư mới lại thúc đẩy tốc độ đổi mới thiết bị kỹ thuật và công nghệ.
Đối với các nước đang phát triển, mặc dù tích luỹ vốn và công nghệ thấp
nhưng cũng có những lợi thế của người đi sau tiếp thu, thích nghi và làm chủ
công nghệ có sẵn, rút ngắn thời gian và giảm những rủi ro trong áp dụng công 13
nghệ mới. Mặt khác, điều kiện kinh tế cũng tạo ra khả năng đi tắt, đón đầu
những công nghệ hiện đại. Nhưng thực tế cũng đã cho thấy, không phải quốc
gia nào cũng tận dụng được những lợi thế trên. Việc tăng cường thu hút đầu
tư nâng cao tiềm lực khoa học, kỹ thuật, công nghệ không chỉ thu hút một
lượng vốn đầu tư của nền kinh tế cho có hiệu quả hơn mà còn góp phần chống
lại sự thất thoát, lãng phí nguồn vốn của ngân sách Nhà nước cũng như của
toàn xã hội.
1.3. Mối quan hệ giữa đầu tƣ và tăng trƣởng kinh tế
Đầu tư tác động lên tăng trưởng kinh tế ở cả hai mặt: tổng cung và tổng
cầu. Trong hàm tổng cầu thì đầu tư là một thành phần của tổng cầu; đầu tư
tăng một đơn vị làm cho thu nhập quốc dân tăng lên hơn một đơn vị (ảnh

một dự án; tiền phải được vận động nhằm mục đích sinh lời. Vốn vừa là nhân
tố đầu vào, đồng thời vừa là kết quả phân phối thu nhập đầu ra của quá trình
đầu tư. Chính trong quá trình đó, vốn tồn tại với tư cách là một nhân tố độc
lập, không thể thiếu được. Vốn khi được đầu tư và sau một thời gian hoạt
động phải được thu về để tiếp ứng cho chu kỳ kinh doanh sau; không thể mất
đi mà vốn phải được bảo toàn và phát triển.
1.4.2. Đối với nền kinh tế quốc dân
- Tác động của vốn đến cân bằng kinh tế vĩ mô: Một trong những điều
kiện cơ bản đảm bảo nền kinh tế tăng trưởng và phát triển là đòi hỏi phải đảm
bảo sự cân bằng kinh tế vĩ mô, trong đó giữa tiết kiệm và đầu tư phải có sự
cân đối để nền kinh tế vừa có đủ vốn cho đầu tư phát triển, vừa tiêu hoá số
tiền tiết kiệm một cách hiệu quả. Vốn chính là hiện thân của sự kết hợp giữa
tiết kiệm và đầu tư. Số tiền tiết kiệm được gọi là vốn khi được tích tụ và tập
trung đến một lượng nhất định để đưa vào đầu tư. Nền kinh tế có tiết kiệm
mới có cơ hội tăng thêm số vốn hiện hữu, qua đó mở rộng quy mô đầu tư. Thế
nhưng, trong nền kinh tế thị trường, tiết kiệm và đầu tư được thực hiện bởi 15
các chủ thể khác nhau. Công chúng quyết định tiết kiệm bao nhiêu trong thu
nhập của mình và doanh nghiệp quyết định mở rộng quy mô đầu tư ở mức độ
nào, tất cả đều là những biến cố độc lập. Vì vậy, giữa tiết kiệm và đầu tư khó
ăn khớp với nhau, nên dễ dẫn đến tình trạng nền kinh tế bị thừa hoặc thiếu
vốn làm cho sự phát triển không ổn định, tăng trưởng thấp, thất nghiệp gia
tăng… Vì vậy, để ổn định nền kinh tế và thiết lập sự cân bằng giữa tiết kiệm
và đầu tư đòi hỏi phải có sự can thiệp của nhà nước. Ở những nền kinh tế
đang phát triển, trong thời kỳ công nghiệp hóa, nhu cầu vốn đầu tư thường
vượt xa số tiền tiết kiệm có được, các nền kinh tế đó phải thu hút một lượng
vốn lớn từ bên ngoài để bổ sung vào sự thiếu hụt đó. Nhà nước phải kiểm soát
chặt chẽ các dòng vốn nước ngoài, thực hành tiết kiệm để nâng cao tỷ trọng

hình thành từ tiết kiệm trong nước và tiết kiệm của nước ngoài.
1.5.1. Nguồn vốn đầu tư trong nước
Nguồn vốn đầu tư trong nước hình thành từ tiết kiệm của NSNN, tiết
kiệm của các doanh nghiệp và tiết kiệm của khu vực dân cư.
- Tiết kiệm của NSNN: là số chênh lệch dương giữa tổng các khoản thu
mang tính không hoàn lại (chủ yếu là thuế) với tổng chi tiêu dùng của NS.
Tiết kiệm ở khâu tài chính này sẽ hình thành nên nguồn vốn đầu tư của nhà
nước.
Nghĩa là, số thu nhập tài chính mà NS tập trung được không thể xem
ngay đó là nguồn vốn đầu tư của nhà nước, điều này còn tùy thuộc vào chính
sách chi tiêu dùng của NS. Nếu quy mô chi tiêu dùng vượt quá số thu nhập
tập trung thì nhà nước không có nguồn để tạo vốn cho đầu tư.
Đối với các nước đang phát triển, do tiết kiệm của nền kinh tế còn hạn
chế, cho nên, để duy trì sự tăng trưởng kinh tế và mở rộng đầu tư đòi hỏi nhà
nước phải gia tăng tiết kiệm NSNN trên cơ sở kết hợp chính sách thuế và chi
tiêu. 17
- Tiết kiệm của các doanh nghiệp: là số lãi ròng có được từ kết quả kinh
doanh. Đây là nguồn tiết kiệm cơ bản để các doanh nghiệp tạo vốn cho đầu tư
phát triển theo chiều rộng và chiều sâu. Quy mô tiết kiệm của các doanh
nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố như hiệu quả kinh doanh, chính sách thuế, sự
ổn định kinh tế vĩ mô…
- Tiết kiệm của các hộ gia đình và tổ chức đoàn thể xã hội (khu vực dân
cư): là khoản tiền còn lại của thu nhập sau khi đã phân phối và sử dụng cho
mục đích tiêu dùng. Quy mô tiết kiệm của khu vực dân cư chịu ảnh hưởng bởi
các nhân tố trực tiếp như: trình độ phát triển kinh tế, thu nhập bình quân đầu
người, chính sách lãi suất, chính sách thuế và sự ổn định kinh tế vĩ mô…
Trong nền kinh tế thị trường, số tiền tiết kiệm của khu vực dân cư có thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status