Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Duy Đạt
LỜI CÁM ƠN
Trong khoảng thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Dược phẩm Việt Nam em
đã cố gắng tìm hiểu thực tế các hoạt động nhập khẩu thực phẩm dinh dưỡng của
Công ty. Bên cạnh đó em cũng đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình từ các thầy
cô, các anh chị và các bạn, do đó trên khía cạnh nghiên cứu em đã hoàn thành mục
đích của bài khóa luận.
Lời đầu tiên cho em gửi lời cám ơn sâu sắc tới thầy Ths. Nguyễn Duy Đạt –
Trưởng bộ môn Kinh tế quốc tế - Trường Đại học Thương Mại. Thầy đã trực tiếp
dẫ dắt em, tận tình chỉ bảo, định hướng nghiên cứu đúng trọng tâm và có những
chỉnh sửa hợp lý cho bài khoa luận tốt nghiệp.
Em cũng xin chân thành cám ơn thầy cô trong khoa Thương mại quốc tế, bộ
môn kinh tế quốc tế, trường Đại học Thương Mại đã tạo điều kiện tốt nhất cho em
hoàn thành bài khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn trưởng, phó phòng cùng các nhân viên trong phòng
xuất nhập khẩu của Công ty Cổ phần Dược phẩm Việt Nam đã giúp đỡ, giải thích,
có nhiều ý kiến đóng góp bổ ích cho em hoàn thành bài khóa luận.
Mặc dù em đã cố gắng nhưng năng lực cũng như thời gian nghiên cứu còn hạn
chế, do vậy mà bài viết của em không tránh khỏi những thiếu xót và hạn chế. Em
rất mong nhận được những lời góp ý và chỉ bảo từ các thầy cô và các bạn sinh viên.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Nguyễn Thị Hương Thơm
SVTH: Nguyễn Thị Hương Thơm
Lớp: K45E6
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Duy Đạt
MỤC LỤC
LỜI CÁM ƠN 1
MỤC LỤC 2
3.3 Thực trạng hoạt động kinh doanh và mở rộng thị trường của công ty Cổ
phần Dược phẩm Việt Nam 19
3.3.1 Thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty Cổ phần Dược phẩm Việt
Nam 19
3.3.2 Hệ thống kênh phân phối của công ty Cổ phần Dược phẩm Việt Nam.
21
3.3.3 Phương pháp nghiên cứu 22
3.4 Đánh giá các hoạt động mở rộng kinh doanh nhập khẩu thực phẩm dinh
dưỡng của công ty 25
3.4.1 Những kết quả đạt được 25
3.4.2 Một số hạn chế và nguyên nhân 25
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH NHẬP KHẨU THỰC PHẨM DINH DƯỠNG CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦN DƯỢC PHẨM VIỆT NAM 28
4.1 Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu đề tài 28
4.1.1 Dự báo nhu cầu về sản phẩm sữa của thị trường Việt Nam 28
4.1.2 Định hướng hoạt động mở rộng kinh doanh nhập khẩu của Công ty
29
4.2 Một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động kinh doanh nhập khẩu của
Công ty Cổ phần Dược phẩm Việt Nam 30
4.2.1 Giải pháp về kênh phân phối 30
4.2.2 Giải pháp về Marketing 32
4.2.3 Kiến nghị với cơ quan cấp trên 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
PHIẾU ĐIỀU TRA 2
SVTH: Nguyễn Thị Hương Thơm
Lớp: K45E6
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Duy Đạt
DANH MỤC BẢNG BIỂU SƠ ĐỒ
1 TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
2 VNĐ Việt Nam Đồng
3 LN Lợi nhuận
SVTH: Nguyễn Thị Hương Thơm
Lớp: K45E6
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Duy Đạt
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hiện nay quốc tế hóa, toàn cầu hóa đang là xu thế chung của nhân loại không
một quốc gia nào có thể thực hiện một chính sách đóng cửa mà vẫn có thể phồn
vinh được. Trong bối cảnh đó thương mại quốc tế đóng vai trò mũi nhọn thúc đẩy
nền kinh tế trong nước hội nhập với nền kinh tế thế giới, phát huy hết những lợi thế
so sánh của đất nước, tận dụng tiềm năng về vốn, công nghệ, khoa học kỹ thuật, kỹ
năng quản lý tiên tiến từ nước ngoài, duy trì và phát triển văn hóa dân tộc, tiếp thu
những tinh hoa văn hóa nhân loại.
Hoạt động nhập khẩu đã và đang giúp cho người tiêu dùng trong nước có điều
kiện được tiếp cận với các chủng loại sản phẩm đa dạng, hiện đại. Và đối với toàn
bộ nền kinh tế, nhập khẩu làm tặng hiệu quả sử dụng nguồn lực kinh doanh, tập
trung kinh doanh những mặt hàng mà mình có lợi thế, tăng năng suất lao động
thông qua nhập khẩu.
Công ty Cổ phần Dược phẩm Việt Nam là một công ty hoạt động trong lĩnh vực
kinh doanh nhập khẩu thực phẩm dinh dưỡng. Trong những năm qua công ty đã
không ngừng vươn lên hoạt động có hiệu quả, tạo được chỗ đứng trên thị trường
trong nước và là bạn hàng tin cậy với các đối tác nước ngoài. Tuy nhiên trong giai
đoạn hiện nay, khi tính cạnh tranh ngày càng tăng lên do công ty không chỉ cạnh
tranh với doanh nghiệp trong nước mà còn cạnh tranh với các doanh nghiệp nước
ngoài có nguồn lực tài chính mạnh mẽ. Vì vậy muốn đứng vững trên thị trường
Công ty phải tạo được sự khác biệt so với các doanh nghiệp khác về giá cả hay chất
lượng sản phẩm. Đối với doanh nghiệp chuyên nhập khẩu như Công ty Cổ phần
dưỡng. Đây là thị trường được đánh giá là có nhiều tiềm năng trong những năm gần
đây. Vì vậy trong thời gian thực tập tại công ty, em đã cố gắng tìm hiểu, nghiên cứu
cách thức hoạt động của công ty và thực hiện bài khóa luận với đề tài “ Một số giải
pháp mở rộng hoạt động kinh doanh nhập khẩu thực phẩm dinh dưỡng tại Công ty
Cổ phẩn Dược phẩm Việt Nam.”
1.2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề tài “Một số giải pháp mở rộng hoạt động kinh doanh nhập khẩu thực phẩm
dinh dưỡng tại công ty Cổ phần Dược phẩm Việt Nam” với mục đích tìm hiểu rõ về
mở rộng hoạt động kinh doanh nhập khẩu và các nhân tố ảnh hưởng đến nó, đánh
giá và đưa ra các giải pháp mở rộng kinh doanh nhập khẩu của công ty trong thời
gian qua.
SVTH: Nguyễn Thị Hương Thơm
Lớp: K45E6
2
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Duy Đạt
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
• Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về hoạt động nhập khẩu thực phẩm dinh dưỡng của công ty
Cổ phần Dược Phẩm Việt Nam cụ thể là sản phẩm sữa bột giành cho trẻ em.
• Phạm vi nghiên cứu về không gian: Nghiên cứu tại công ty, chủ yếu là phòng
xuất nhập khẩu và điều tra thị trường.
• Phạm vì về thời gian: nghiên cứu hoạt động kinh doanh của công ty trong 3
năm gần đây (2010-2012).
1.4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Bao gồm các phương điều tra trắc nghiệm và phỏng vấn chuyên gia, sử dụng số
liệu thứ cấp, phân tích dữ liệu, phương pháp so sánh sự thay đổi qua các năm.
Trong đó số liệu thứ cấp được thu thập trong quá trình thực tập tại công ty là nguồn
tài liệu chủ yếu đánh giá chính xác về tình hình của công ty.
Bên cạnh đó còn sử dụng các tài liệu có trên sách báo, trang web… liên quan
tấn công vào các khách hàng không đầy đủ, tức là những người không mua tất cả
sản phẩm của doanh nghiệp cũng như của người cạnh tranh.
Biết được biến động của thị trường và chu kỳ sống có hạn của hầu hết các sản
phẩm là điều cốt tử đảm bảo cho sự phát triển trước mắt cũng như triển vọng lâu
dài. Kế hoạch mở rộng phải được vạch ra một cách thận trọng để tránh đầu tư quá
mức vào thiết bị và nhân lực, những yếu tố này sẽ đè nặng lên công ty khi thị
trường suy thoái. Và hoạt động mở rộng thị trường của doanh nghiệp là cần thiết và
thích hợp.
2.1.2 Vai trò của hoạt động mở rộng thị trường
Hoạt động mở rộng thị trường là một trong những tác động Marketing nhằm mở
rộng phạm vi thị trường cũng như phạm vi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Hoạt động mở rộng thị trường giữ một vai trò quan trọng trong việc thiết lập và mở
rộng hệ thống sản xuất và tiêu thụ các chủng loại sản phẩm của doanh nghiệp với
mục tiêu lợi nhuận và duy trì ưu thế cạnh tranh.
SVTH: Nguyễn Thị Hương Thơm
Lớp: K45E6
4
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Duy Đạt
Mở rộng thị trường giúp khai thác hiệu quả nội lực của doanh nghiệp. Việc khai
thác, phát huy sử dụng, quản lý, phối hợp nội lực biểu hiện tập trung nhất ở khả
năng cạnh tranh. Trong điều kiện toàn cầu hoá như hiện nay khả năng cạnh tranh
cao thấp cho biết sức mạnh của doanh nghiệp, nó sẽ bảo đảm cho sự phát triển bền
vững. Khai thác nội lực chỉ là động lực của phát triển, khi kinh doanh không còn
hiệu quả nghĩa là việc khơi dậy và phát huy nội lực không tốt.
Quá trình khai thác và phát huy nội lực là quá trình chuyển hoá các yếu tố sức
lao động, tư liệu lao động thành sản phẩm hàng hoá thành thu nhập của doanh
nghiệp. Phát triển thị trường vừa là cầu nối, vừa là động lực để khai thác, phát huy
nội lực tạo thực lực kinh doanh cho doanh nghiệp .Thị trường tác động theo hướng
tích cực sẽ làm cho nội lực tăng trưởng mạnh mẽ, trái lại cũng sẽ hạn chế vai trò
Mở rộng thị trường theo chiều rộng:
Mở rộng thị trường theo chiều rộng tức là doanh nghiệp cố gắng mở rộng phạm
vi thị trường, tìm kiếm thêm những thị trường nhằm tăng khả năng tiêu thụ sản
phẩm, tăng doanh số bán, tăng lợi nhuận. Phương thức này thường được các doanh
nghiệp sử dụng khi thị trường hiện tại bắt đầu có xu hướng bão hòa. Đây là một
hướng đi rất quan trọng đối với các doanh nghiệp được tiêu thụ thêm nhiều sản
phẩm, tăng vị thế trên thị trường.
Xét theo tiêu thức địa lý, mở rộng thị trường theo chiều rộng được hiểu là việc
doanh nghiệp mở rộng địa bàn hoạt động kinh doanh, tăng cường sự hiện diện của
mình trên các địa bàn mới bằng các sản phẩm hiện tại. Doanh nghiệp tìm cách khai
thác những địa điểm mới và đáp ứng nhu cầu của khách hàng trên thị trường này.
Mục đích doanh nghiệp là để thu hút thêm khách hàng đồng thời quảng bá sản
phẩm của mình đến người tiêu dùng ở những địa điểm mới. Tuy nhiên, để đảm bảo
thành công cho công tác mở rộng thị trường này, các doanh nghiệp phải tiến hành
nghiên cứu thị trường mới để đưa ra những sản phẩm phù hợp với các đặc điểm của
từng thị trường.
Xét theo tiêu thức sản phẩm, mở rộng thị trường theo chiều rộng tức là doanh
nghiệp tiêu thụ sản phẩm mới trên thị trường hiện tại ( thực chất là phát triển sản
phẩm ). Doanh nghiệp luôn đưa ra những sản phẩm mới có tính năng, nhãn hiệu,
bao bì phù hợp hơn với người tiêu dùng khiến họ có mong muốn tiếp tục sử dụng
sản phẩm của doanh nghiệp.
Xét theo tiêu thức khách hàng, mở rộng thị trường theo chiều rộng đồng nghĩa
với doanh nghiệp kích thích, khuyến khích nhiều nhóm khách hàng tiêu dùng sản
phẩm của doanh nghiệp. Do trước đây, sản phẩm của doanh nghiệp mới chỉ phục vụ
một nhóm khách hàng nào đó và đến nay, doanh nghiệp mới chỉ phục vụ một nhóm
khách hàng mới nhằm nâng cao số lượng sản phẩm được tiêu thụ.
SVTH: Nguyễn Thị Hương Thơm
Lớp: K45E6
6
Khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Nguyễn Thị Hương Thơm
Lớp: K45E6
7
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Duy Đạt
Ansoff đã đưa ra một khung tiêu chuẩn rất hiệu dụng để phát hiện những cơ hội
tăng trưởng chiều sâu gọi là lưới mở rộng sản phẩm hay thị trường. Theo Ansoff có
3 chiến lược tăng trưởng theo chiều sâu.
Chiến lược xâm nhập thị trường: dành thêm thị phần bằng những sản phẩm
hiện có trên thị trường hiện tại.
Chiến lược phát triển thị trường: tìm kiếm những thị trường mới mà nhu cầu của
những thị trường đó có thể đáp ứng được những sản phẩm hiện có của doanh nghiệp.
Chiến lược phát triển sản phẩm: phát triển những sản phẩm mới mà những thị
trường hiện tại có khả năng quan tâm.
Bảng 2.1: Lưới mở rộng thị trường/ sản phẩm của Ansoff
Sản phẩm hiện có Sản phẩm mới
Thị trường hiện có Chiến lược xâm nhập thị
trường
Chiến lược phát triển sản
phẩm
Thị trường mới Chiến lược phát triển thị
trường
Chiến lược đa dạng hóa
Khi công ty dự định mở rộng thị trường hay thâm nhập vào thị trường mới
phải cân nhắc thật cẩn thận xem liệu sản phẩm có phù hợp với những đòi hỏi, yêu
cầu của thị trường hay không, sẽ bán được số lượng đủ lớn với mức giá đủ cao để
có lợi nhuận hay không. Nếu không thì có sự lựa chọn nào khác. Thường thì người
làm marketing có ít nhất 4 khả năng lựa chọn khi khai thác thị trường mới, đó là :
• Khả năng gặm nhấm thị trường (tăng thị phần của doanh nghiệp): cơ hội để
doanh nghiệp tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm hiện tại trên thị trường hiện tại.
- Mối quan hệ trong tiêu dùng giữa sản phẩm đang kinh doanh với các sản
phẩm khác, sản phẩm đó thay thế cho sản phẩm nào, hỗ trợ cho sản phẩm nào ?
• Các chính sách của doanh nghiệp
- Chính sách sản phẩm: xác định nhu cầu của từng đối tượng, từng thị trường
mà đưa ra sản phẩm phù hợp với thị trường đó.
- Chính sách giá: Chính sách giá vừa là nhân tố chủ quan vừa là nhân tố khách
quan, tính chủ quan được thể hiện trước hết bởi việc định giá phụ thuộc vào các
mục tiêu của doanh nghiệp. Giá cả hàng hóa là một trong những nhân tố chủ yếu
tác động đến tiêu thụ. Giá cả hàng hóa có kích thích hay hạn chế cung cầu và do đó
ảnh hưởng đến tiêu thụ. Xác định giá đúng sẽ đảm bảo khả năng tiêu thụ và thu lợi
hay tránh được ứ đọng, hạn chế thua lỗ. Giá cả cũng được sử dụng như một vũ khí
trong cạnh tranh. Song trong điều kiện hiện tại công cụ chủ yếu vẫn là chất lượng
Giá cả chịu ảnh hưởng của môi trường cạnh tranh và sự điều tiết của nó, do vậy giá
cả luôn ở trong thế tương quan về cạnh tranh với các đối thủ.
- Chính sách phân phối: Lựa chọn kênh và thiết lập đúng đắn mạng lưới các
kênh tiêu thụ có ý nghĩa to lớn đến việc thúc đẩy tiêu thụ. Việc thiết lập kênh phân
SVTH: Nguyễn Thị Hương Thơm
Lớp: K45E6
9
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Duy Đạt
phối cần phải căn cứ vào chính sách, chiến lược tiêu thụ mà doanh nghiệp đang
theo đuổi, khả năng nguồn lực của doanh nghiệp ( sức mạnh tài chính, khả năng của
đội ngũ cán bộ tiêu thụ, vị trí địa lý, danh tiếng, kinh nghiệm trong phân phối), vào
đặc tính của khách hàng ( số lượng khách hàng, sự phân phối trên từng vùng địa lý,
thói quen tiêu dùng, khả năng thanh toán ), vào đặc tính sản phẩm.
- Chính sách Marketing : Quảng cáo là thông báo với mọi người và kích thích
họ mua hàng nhằm lôi kéo thu hút khách hàng đến với doanh nghiệp.
2.2.2.2 Các nhân tố khách quan
• Chính trị luật pháp.
Khách hàng là cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp có nhu cầu và khả năng
thanh toán về hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp mà chưa được đáp ứng và mong
muốn được thoả mãn.
Thị trường của doanh nghiệp là tập hợp của các khách hàng rất đa dạng, khác
nhau về lứa tuổi, giới tính, mức thu nhập, nơi cư trú, sở thích tiêu dùng và vị trí
trong xã hội …Người ta có thể chia khách hàng nói chung thành những nhóm
khách hàng khác nhau, mỗi nhóm có đặc trưng riêng phản ánh quá trình mua sắm
của họ ( những đặc điểm này sẽ là gợi ý quan trọng để doanh nghiệp đưa ra các
biện pháp phù hợp, thu hút khách hàng)
* Theo mục đích mua sắm: có khách hàng là người tiêu dùng cuối cùng,
những khách hàng trung gian, chính phủ và các tổ chức phi lợi nhuận.
Người tiêu dùng cuối cùng mua hàng hoá để thoả mãn nhu cầu của chính bản thân
mình ; những người trung gian mua sắm sản phẩm để bán lại nhằm mục đích kiếm lợi.
Các chính phủ và các tổ chức phi lợi nhuận mua hàng hoá để sản xuất, làm dịch vụ
công cộng hoặc chuyển hàng hoá, dịch vụ này cho người khác cần dùng.
* Theo thành phần kinh tế: có khách hàng cá nhân, tập thể hay doanh nghiệp
nhà nước. Nguồn gốc khác nhau của đồng tiền thanh toán và sự tiêu dùng của chính
họ hay tập thể và những người khác là đặc trưng của nhóm khách hàng này.
* Căn cứ vào khối lượng hàng hoá mua sắm: có thể có khách hàng mua với
khối lượng lớn và khách hàng mua với khối lượng nhỏ.
* Căn cứ vào phạm vi địa lý: có khách hàng trong vùng, trong địa phương;
trong nước ngoài nước (gồm cả người sản xuất, người trung gian, người tiêu dùng
cuối cùng và các chính phủ).
Các khách hàng trong nước thể hiện quy mô của thị trường nội địa; khách hàng
nước ngoài thể hiện mối quan hệ đối ngoại và phạm vi của thị trường mà doanh
nghiệp tham gia. Căn cứ vào tỷ trọng khối lượng sản phẩm bán trên các phạm vi
khác nhau có thể đánh gia chất lượng và sự trưởng thành của doanh nghiệp trong
hoạt động kinh doanh.
SVTH: Nguyễn Thị Hương Thơm
Lớp: K45E6
ty phải tập trung nỗ lực và sản phẩm hiện tại để đáp ứng quy mô thị trường, đáp
ứng nhu cầu của khách hàng. Hơn nữa trong thời gian tới Công ty Cổ phần Dược
phẩm Việt Nam vẫn chưa có ý định nhập khẩu thêm sản phẩm mới mà chú trọng
SVTH: Nguyễn Thị Hương Thơm
Lớp: K45E6
12
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Duy Đạt
vào phát triển sữa Physiolac giành cho trẻ em nhập khẩu từ Pháp cho nên việc mở
rộng thị trường theo chiều sâu là cần thiết cho công ty trong giai đoạn hiện nay.
Để làm rõ nội dụng nghiên cứu đề tài cần làm rõ những vấn đề sau:
- Các hoạt động mở rộng thị trường của công ty
- Các vấn đề còn tồn tại mà công ty cần giải quyết liên quan đến việc mở rộng
hoạt động kinh doanh của công ty.
- Đề xuất một số giải pháp nhẳm giúp công ty xử lý những khó khăn trong
việc mở rộng hoạt động kinh doanh của công ty.
SVTH: Nguyễn Thị Hương Thơm
Lớp: K45E6
13
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Duy Đạt
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU THỰC PHẨM
DINH DƯỠNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM VIỆT NAM
3.1 Giới thiệu về công ty Cổ phần Dược phẩm Việt Nam
3.1.1 Giới thiệu chung về công ty
- Tên công ty: Công ty Cổ phần Dược Phẩm Việt Nam.
- Tên giao dịch: Vietnam Pharmaceutical Joint Stock Company - VNA-
PHARM,.JSC.
- Trụ sở chính: 223A, Khương Trung Mới, Quận Thanh Xuân, Hà Nội.
- Mã số thuế: 0102138141
của Tổng công ty đầu tư dược phẩm hoạt động kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực
thực phẩm dinh dưỡng. Năm 2008 trở thành nhà phân phối độc quyền cho sản phẩm
sữa Physiolac của Cộng hòa Pháp ,Kanny của Hà Lan, Ninolac của Bỉ, sữa tươi
Neuburger của Đức và còn là đại lý phân phối cho các sản phẩm khác như sữa tươi,
sữa chua, dầu oliu…
Đến năm 2010 nhận thấy được nhu cầu thị trường ngày càng nhiều và cần tổ
chức linh hoạt hơn nên ban điều hành công ty đã ra quyết định mở thêm chi nhánh
ở TPHCM và tiếp sau đó là các chi nhánh tại các tỉnh thành khác như Đà Nẵng,
Cần Thơ, Bình Dương để tiện cho hoạt động kinh doanh của công ty và phục vụ
nhu cầu cho khách hàng một cách hiệu quả nhất.
Là công ty với hoạt động kinh doanh chủ yếu là nhập khẩu thực phẩm dinh
dưỡng từ thị trường nước ngoài về cung cấp cho thị trường trong nước. Trong
những năm gần đây, từ khi công ty mở rộng thêm chi nhánh thì hoạt động kinh
doanh của công ty không thay đổi. Những thông tin trong bảng dưới đây phần nào
phản ảnh hoạt động kinh doanh của công ty
SVTH: Nguyễn Thị Hương Thơm
Lớp: K45E6
15
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Duy Đạt
Bảng 3.1: Tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của công ty giai
đoạn 2010-2012
(ĐV: VNĐ)
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 2011/2010
(%)
2012/2011
(%)
Tổng tài
sản.
17,734,380,791 24,826,762,247 25,168,671,707 40 1.37
Là một Công ty chuyên nhập khẩu thực phẩm dinh dưỡng cao cấp của thị
trường nước ngoài để cung cấp cho thị trường trong nước. Do vậy mà việc lựa chọn
nhà cung cấp để ký hợp đồng thì công ty cần căn cứ nhiều phương diện, yếu tố
khác nhau như chất lượng, giá cả, tính ổn định của nguồn hàng, thời gian giao
hàng….
Bảng 3.2: Tỷ trọng thị trường nhập khẩu giai đoạn 2010 -2012
(Đơn vị: VNĐ).
Thị
trường
Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Giá trị (VNĐ) TT (%) Giá trị(VNĐ) TT (%) Giá trị (VNĐ) TT (%)
Pháp 2,008,457,687 26.9 2,968,567,489 30.7 3,609,789,399 32.8
Bỉ 2,078,456,045 27.8 2,354,756,465 24.3 2,224,145,687 20.2
Đức 1,402,332,011 18.7 1,813,443,222 18.7 2,000,089,102 18.2
Hà Lan 1,973,398,096 26.6 2,522,344,302 26.3 3,145,609,897 28.8
Tổng
GT
7,462,643,839 100 % 9,659,111,478 100 % 10,979,634,085 100 %
(Nguồn: Phòng xuất nhập khẩu năm 2012)
Nhìn chung thì kim ngạch nhập khẩu hàng năm của Công ty tăng. Năm 2011
tổng kim ngạch nhập khẩu của tất cả các mặt hàng tăng 29.4% so với năm 2010 và
năm 2012 tăng 13.67% so với năm 2011. Kim ngạch của năm sau vẫn cao hơn năm
trước nhưng tốc độ tăng trưởng của kim ngạch lại giảm đi, cho thấy là kim ngạch
nhập khẩu của năm 2011 vẫn là cao nhất. Do tình hình kinh tế không ổn định nên
năm 2012kim ngạch nhập khẩu cũng tăng nhưng không bằng mức độ tăng trưởng
năm 2011. Điều này chứng tỏ hoạt động kinh doanh của Công ty có phần chững
lại,nhưng nhìn chung vẫn có sự tăng trưởng dương. Khả năng tiêu thụ sản phẩm của
công ty có phần không tốt nhưng không phải đến mức báo động.Việt Nam hiện nay
SVTH: Nguyễn Thị Hương Thơm
Lớp: K45E6
Lớp: K45E6
18
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: ThS. Nguyễn Duy Đạt
3.3 Thực trạng hoạt động kinh doanh và mở rộng thị trường của công ty Cổ
phần Dược phẩm Việt Nam
3.3.1 Thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty Cổ phần Dược phẩm Việt Nam
Thị trường sữa ở Việt Nam hiên nay rất đa dạng về chủng loại sản phẩm và chất
lượng hàng hóa. Với dân số hơn 80 triệu dân và mức tiêu thụ sữa trên đầu người
còn khá thấp, Việt Nam là một thị trường tiêu thụ khá hấp dẫn đối với các nhà đầu
tư trong và ngoài nước. Chia sẻ, cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ sữa Việt
Nam đang là mối quan tâm hàng đầu của các công ty kinh doanh sữa. Trong những
năm vừa qua, tiêu thụ sữa ở Việt Nam tăng mạnh.
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay go khốc liệt như mọi ngành sản xuất
kinh doanh khác trên thị trường Việt Nam, ngành sản xuất và kinh doanh các sản
phẩm sữa cũng đang có nhiều bước thay đổi rõ nét. Công ty Cổ phần Dược phẩm
Việt Nam phải đối đầu với rất nhiều đối thủ cạnh tranh trên thị trường Việt Nam
như Vinamilk, Nestlé…. Bên cạnh đó thị trường sữa còn sôi động bởi các sản phẩm
sữa nhập ồ ạt với danh mục rất phong phú đặc biệt là sữa bột. Physiolac là sản
phẩm sữa bột giành cho trẻ em được nhập khẩu từ Pháp cũng chịu không ít cạnh
tranh từ các sản phẩm nhập ngoại khác như Dutch Lady, Abbott, Friso….
Nền kinh tế Việt Nam đạt tốc độ phát triển khá cao, nhu cầu tiêu dùng sản
phẩm sữa, thực phẩm dinh dưỡng là nhu cầu thường xuyên đối với đại bộ phận dân
chúng, đặc biệt là đối với sức khỏe và sự phát triển toàn diện của trẻ lại càng được
người dân quan tâm, chú trọng nhiều hơn. Điều này chứng tỏ thị trường Việt Nam
là thị trường rất tiềm năng cần được khai thác, mở rộng.
Nhận biết được Việt Nam là thị trường tiềm năng và cần được mở rộng nên
Công ty Cổ phần Dược phẩm Việt Nam đã tiến hành mở rộng thị trường tiêu thụ
của mình, thành lập chi nhánh tại các thành phố lớn, khu trung tâm trên cả nước,
phân phối sản phẩm tại rất nhiều điểm bán từ bắc vào nam.
Sự chênh lệch về mức độ tiêu thụ giữa ba miền còn rất lớn. Những năm gần đây
nền kinh tế của các tỉnh miền trung đang trên đà phát triển nên sẽ là thị trường tiềm
năng cho công ty khai thác. Công ty nên tập trung hơn nữa vào thị trường này để
tăng thị phần, chiếm lĩnh thị trường, đánh bật đối thủ cạnh tranh. Miền Nam cũng là
khu vực tập trung khá nhiều người dân có thu nhập khá cao và tương đối ổn định.
Tuy sản phẩm của công ty tiêu thụ trên thị trường này tương đối lớn nhưng vẫn còn
là thị trường cần được quan tâm và khai thác triệt để. Miền bắc là thị trường đầu
tiên của công ty cho nên so với hai thị trường còn lại có mức tiêu thụ lớn nhất, các
sản phẩm tập trung ở các siêu thị và cửa hàng lớn.
SVTH: Nguyễn Thị Hương Thơm
Lớp: K45E6
20