ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
HỒ TRUNG THANH
KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG TIÊU CHUẨN
MÔI TRƢỜNG TRONG THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ
CỦA MỘT SỐ MẶT HÀNG XUẤT KHẨU VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Chuyên ngành : Kinh tế chính trị XHCN
Mã số : 5.02.01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học : PGS. TS. Nguyễn Thế Chinh
1.2.6. Các tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật đối với sản phẩm 21
1.3. TÁC ĐỘNG CỦA CÁC QUY ĐỊNH VÀ TIÊU CHUẨN MÔI TRƢỜNG ĐỐI VỚI
THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ HIỆN NAY 22
1.3.1. Tác động tích cực 22
1.3.2. Tác động tiêu cực 24
1.4. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG VIỆC ĐÁP ỨNG CÁC TIÊU CHUẨN VÀ QUY
ĐỊNH VỀ MÔI TRƢỜNG ĐỂ PHÁT TRIỂN THƢƠNG MẠI VÀ BẢO VỆ MÔI
TRƢỜNG 26
1.4.1. Kinh nghiệm của Thái Lan 26
1.4.2. Kinh nghiệm của Indonesia 30
1.4.3. Kinh nghiệm của Trung Quốc 32
1.4.4. Bài học đối với Việt Nam 35
CHƢƠNG II: KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CÁC TIÊU CHUẨN MÔI TRƢỜNG ĐỐI VỚI
MỘT SỐ MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM 37
2.1. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA VÀ
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN CÁC KHÍA CẠNH MÔI TRƢỜNG CỦA SẢN
PHẨM XUẤT KHẨU 37
2.1.1. Đánh giá khái quát về thực trạng hoạt động xuất khẩu của Việt
Nam thời kỳ
1991 - 2003 37
2.1.2. Một số vấn đề đặt ra liên quan đến khả năng cạnh tranh của
hàng xuất khẩu Việt Nam dƣới giác độ môi trƣờng 41
2.2. TÌNH HÌNH ĐÁP ỨNG CÁC QUY ĐỊNH VÀ TIÊU CHUẨN MÔI TRƢỜNG QUỐC
TẾ CỦA MỘT SỐ MẶT HÀNG XUẤT KHẨU VIỆT NAM 43
2.2.1. Khả năng đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn môi trƣờng của
các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu 43
2.2.2. Khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn môi trƣờng của một số mặt
nâng cao khả năng đáp ứng tiêu chuẩn môi trƣờng trong xuất khẩu 34
Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 1991 – 2003 37
Bảng 2.2: Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 1991 - 2003 39
Bảng 2.3: Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu thời kỳ 1996-2003 39
Bảng 2.4: Tỷ lệ phân bố xuất khẩu của Việt Nam năm 1995 – 2003 41
Bảng 2.5: Mức độ nhận thức về nhãn môi trƣờng đối với sản phẩm 46
Bảng 2.6: Xuất khẩu thủy sản thời kỳ 1997-2003 50
Bảng 2.7: Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam 58
Bảng 2.8: Tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam 59
Bảng 2.9: Kim ngạch xuất khẩu rau quả Việt Nam thời kỳ 1996-2003 63
Phụ lục 1: Hệ thống nhãn hiệu sinh thái toàn cầu 101
Phụ lục 2: Hiệp định về áp dụng các biện pháp kiểm dịch đối với động thực
vật (SPS) 102
Phụ lục 3: Hiệp định về các rào cản kỹ thuật trong thƣơng mại (TBT) 103
Phụ lục 4: Uỷ ban về Luật thực phẩm (Codex) 104
Phụ lục 5: Hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát trọng yếu (HACCP) 105
Phụ lục 6: Hệ thống quản lý môi trƣờng theo ISO 14000 107
Phụ lục 7: Hệ thống quản lý chất lƣợng ISO 9000 107
Phụ lục 8: Một số tiêu chuẩn, quy định liên quan đến môi trƣờng của Nhật
Bản 109
Phụ lục 9: Một số tiêu chuẩn, quy định liên quan đến môi trƣờng của Hoa Kỳ
110
Phụ lục 10: Một số tiêu chuẩn, quy định liên quan đến môi trƣờng của EU . 111
Phụ lục 11: Các vụ tranh chấp thƣơng mại liên quan đến quy định và tiêu
chuẩn môi trƣờng đƣợc giải quyết theo cơ chế của WTO 112 2
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
Chemical Oxygen Demand
Nhu cầu ôxy hoá học
EU
European Union
Cộng đồng châu Âu
FAO
Food and Agriculture Organization of
the Union Nations
Tổ chức nông nghiệp và
lƣơng thực của Liên hợp
quốc
GATT
General Agreement on Tariffs and
Trade
Hiệp định chung về thuế
quan và thƣơng mại
GDP
General Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội
GMP
Good Manufacturing Practice
Thông lệ sản xuất tốt
HACCP
Hazard Analysis and Critical Control
Point
Phân tích Mối nguy và Kiểm
soát điểm trọng yếu
IMF
International Monetary Fund
Quỹ tiền tệ quốc tế
TBT
Technical Barriers to Trade
Hàng rào kỹ thuật đối với
thƣơng mại
TRIPs
Trade related aspects of the
intellectual and property rights
Các khía cạnh liên quan đến
thƣơng mại của quyền sở
hữu trí tuệ
UNCTAD
United Nations Conference on Trade
and Development
Hội nghị Liên Hợp Quốc về
thƣơng mại và phát triển
UNDP
United Nations Development
Programme
Chƣơng trình phát triển Liên
hợp quốc
UNEP
United Nations Environment
Programme
Chƣơng trình Môi trƣờng
Liên hợp quốc
UNIDO
United Nations Industrial
Development Organisation
Tổ chức phát triển công
nghiệp Liên hợp quốc
trên thế giới. Hàng loạt các hiệp định/công ước khu vực và quốc tế về thương
mại và môi trường được xây dựng và ngày càng có nhiều nước tham gia phê
chuẩn và cam kết thực hiện.
Việc thực hiện các hiệp định/công ước quốc tế về môi trường cũng như
áp dụng hệ thống tiêu chuẩn quốc tế về môi trường trong bối cảnh tự do hoá
thương mại đã góp phần tích cực hạn chế ô nhiễm môi trường, khuyến khích
sản xuất và trao đổi sản phẩm thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, trong bối
cảnh tự do hoá thương mại hiện nay, khi các rào cản thương mại được loại bỏ,
các tiêu chuẩn và quy định về môi trường trong nhiều trường hợp đã trở thành
"hàng rào xanh" trong buôn bán quốc tế và ngày càng được áp dụng rộng rãi ở
các nước, đặc biệt là các nước phát triển, chúng đang trở thành lợi thế của họ
trong cạnh tranh thương mại quốc tế. Trong điều kiện như vậy, việc đáp ứng
các quy định và tiêu chuẩn môi trường trong buôn bán quốc tế hiện nay đang là
thách thức to lớn đối với các nước, đặc biệt là các nước kém phát triển, nơi
đang thiếu nhiều điều kiện để thực hiện và áp dụng các hiệp định/công ước và
tiêu chuẩn quốc tế về môi trường.
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới với việc
thực thi các cam kết quốc tế về thương mại và môi trường. Hội nhập với
thương mại thế giới, Việt Nam sẽ có nhiều thuận lợi trong việc mở rộng thị
trường xuất khẩu, nhưng phải chấp nhận sự cạnh tranh hết sức gay gắt với các
nước khác. Một cản trở đặt ra cho ngoại thương nước ta trong tương lai là việc
áp dụng ngày càng phổ biến các biện pháp môi trường trong thương mại quốc
tế của các nước nhập khẩu có thể ảnh hưởng đáng kể đến khả năng cạnh tranh
5
của hàng xuất khẩu nước ta, một nước hiện nay và trong những năm tới xuất
khẩu nhiều mặt hàng nhạy cảm về môi trường như nông sản, thuỷ sản và sản
phẩm chế biến. Hơn nữa, những yêu cầu nói trên ngày càng cao ở những thị
trường mà Việt Nam đang muốn mở rộng như Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU. Ngay
Bên cạnh đó, nhiều học giả nước ngoài cũng quan tâm đến vấn đề phát
triển thương mại và bảo vệ môi trường ở Việt Nam. Chẳng hạn nghiên cứu của
Khor (1993) đã đề cập đến vấn đề tự do hoá thương mại ở Việt Nam và việc
bảo vệ tài nguyên đa dạng sinh học; nghiên cứu của S. Banergee (1998) về mối
quan hệ của ngành thương mại Việt Nam trong việc tiếp cận và sử dụng các quy
định và tiêu chuẩn môi trường quốc tế
Ở Việt Nam, vấn đề thương mại và môi trường nói chung và những vấn
đề cụ thể liên quan đến chủ đề này cũng đã được đề cập nhiều từ năm 1998 trở
lại đây. Liên quan đến chủ đề nghiên cứu được đề cập trong luận văn này có
một số công trình như:
- Trung tâm Kỹ thuật môi trường đô thị và khu công nghiệp (1999),
"Cơ sở khoa học đền bù thiệt hại môi trường”
- Trung tâm Tư vấn và Đào tạo Kinh tế thương mại (1999),
“Đánh giá tác động môi trường của các hoạt động thương mại”
- Trung tâm Tư vấn và Đào tạo Kinh tế thương mại (1999), “Thương
mại môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam”,
- Vụ Chính sách thương mại đa biên – Bộ Thương mại (2002), "Hoàn
thiện chính sách quản lý nhập khẩu nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường ở Việt
Nam"
- Đại học Thương mại Hà Nội (1999), "Nhận thức về cơ hội và thách thức
môi trường trong phát triển thương mại ở Việt Nam"
- Viện Nghiên cứu thương mại (2002), “Vấn đề môi trường trong xuất
khẩu nông sản của Việt Nam”.
- Viện Nghiên cứu thương mại (2002), “Quy định môi trường của EU và
khả năng xuất khẩu hàng nông sản và thuỷ sản Việt Nam”.
- Dương Thanh An (2002), “Mối quan hệ giữa bảo vệ môi trường và
thương mại trong các liên kết thương mại quốc tế và ảnh hưởng của chúng tới
hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường của Việt Nam”
- Cục Môi trường (2003), Dự án “Hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đáp
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
- Xuất phát từ đối tượng, tính phức tạp của vấn đề nghiên cứu, hệ thống
quan hệ nhiều chiều của lĩnh vực thương mại và môi trường, vì vậy phương
pháp nghiên cứu chủ đạo ở đây là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử. Thông qua phương pháp này nghiên cứu mối quan hệ bên trong có tính
bản chất của mối quan hệ giữa tăng trưởng xuất khẩu và bảo vệ môi trường,
giữa khả năng của Việt Nam và yêu cầu đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn
môi trường trong thương mại quốc tế…
8
- Kết hợp nghiên cứu lý thuyết với khảo sát thực tế thực tiễn hoạt động
của một số ngành, doanh nghiệp nhằm làm rõ khả năng và hạn chế của nước ta
trong việc đáp ứng các yêu cầu môi trường, nâng cao khả năng cạnh tranh của
hàng xuất khẩu.
- Kết hợp mô hình phân tích, so sánh và dự báo kinh tế với phương
pháp chuyên gia để tiến hành phân tích, đánh giá hiện trạng, xác định khả
năng đáp ứng các yêu cầu môi trường của nước nhập khẩu của một số mặt
hàng xuất khẩu nhạy cảm về môi trường của nước ta.
6. Những đóng góp mới của luận văn:
- Hệ thống hoá các quy định và tiêu chuẩn môi trường liên quan đến
thương mại và phân tích tác động của chúng đối với cạnh tranh thương mại
quốc tế hiện nay, làm cơ sở phương pháp luận cho việc đánh giá khả năng đáp
ứng các yêu cầu môi trường của hàng xuất khẩu Việt Nam.
- Bước đầu đánh giá khả năng và hạn chế của doanh nghiệp Việt Nam
trong việc đáp ứng yêu cầu về môi trường của nước nhập khẩu, chỉ ra những
khó khăn và thuận lợi của họ khi mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng cao khả
năng cạnh tranh của hàng hoá. Đây là khía cạnh mới đặt ra đối với khả năng
cạnh tranh của hàng xuất khẩu nước ta khi phải thực hiện ngày càng đầy đủ
hơn các Hiệp định đa phương về thương mại và môi trường.
và vì thế là một trong những tác nhân quan trọng của những biến đổi môi
trường. Tuy nhiên, chỉ trong điều kiện tự do hoá thương mại, khi trao đổi sản
phẩm và dịch vụ mang tính phổ biến vượt qua khuôn khổ quốc gia, sản xuất ở
quy mô lớn thì tác động qua lại giữa thương mại và môi trường mới rõ nét.
Mối quan hệ giữa thương mại và môi trường vô cùng phức tạp, bản chất
của nó phản ánh sự tác động qua lại lẫn nhau giữa mục tiêu phát triển thương
mại và việc bảo vệ môi trường. Vấn đề gây nhiều tranh cãi ở đây là “Có phải
tự do hóa thương mại và bảo vệ môi trường là những mục tiêu trùng hợp nhau
không? Thương mại và môi trường nên ưu tiên mục tiêu nào hơn? Tự do hóa
thương mại giúp cho việc bảo vệ môi trường hay làm tổn hại môi trường? Áp
dụng các biện pháp môi trường có làm cản trở thương mại hay không? Cần
làm gì để điều hòa được hai mục tiêu nói trên?”
Những người làm công tác thương mại cho rằng, các hoạt động thương
mại không hề phá hoại môi trường, trong mục tiêu của thương mại bao hàm cả
mục tiêu về môi trường. Theo quan điểm của họ thì việc tiếp cận và mở rộng
thị trường làm tăng hiệu quả việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, do
đó có tác dụng tiết kiệm và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi
trường. Mặt khác, do cạnh tranh của các sản phẩm hàng hóa trên thị trường,
càng ngày các công nghệ cao sẽ được sử dụng trong quá trình sản xuất, tạo ra
các sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường. Hơn nữa,
tự do hóa thương mại là một trong những công cụ đắc lực để góp phần tăng
trưởng kinh tế, nhất là đối với các nước đang phát triển. Khi kinh tế phát triển
thì thu nhập của con người cũng tăng lên, điều đó đáp ứng được việc mua sắm
các sản phẩm có chất lượng cao, đảm bảo các tiêu chuẩn về môi trường. Đồng
thời, khi kinh tế phát triển thì nhận thức của con người cũng tăng lên, đòi hỏi
11
chất lượng môi trường cao hơn. Tóm lại, theo nhìn nhận của những người làm
công tác thương mại thì tự do hóa thương mại không hề làm tổn hại đến môi
sách môi trường có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đối với thương mại tự
do, thúc đẩy hoặc là tạo ra rào cản đối với thương mại. Các biện pháp và chính
12
sách môi trường có thể làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ
hoặc tạo rào cản hạn chế thương mại, bảo hộ mậu dịch, hạn chế khả năng cạnh
tranh, bất bình đẳng trong thương mại quốc tế, thách thức đối với các nước
đang phát triển, khó khăn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Các tác động cụ
thể của các biện pháp môi trường đối với thương mại sẽ được đề cập ở mục 3.1
chương I của đề tài.
1.1.3. Ảnh hƣởng của thƣơng mại tới môi trƣờng
Thứ nhất, thương mại ảnh hưởng đến môi trường bởi tính chất của hoạt
động này. Thương mại là hoạt động trao đổi, mua bán, là khâu trung gian giữa
sản xuất và tiêu dùng, do vậy vừa là nguyên nhân lây lan ô nhiễm vừa có thể
phổ biến một cách nhanh nhất những sản phẩm và công nghệ thân thiện với
môi trường.
Thứ hai, thương mại ảnh hưởng đến môi trường bởi tính quy mô của nó.
Thương mại quốc tế ngày nay mang tính toàn cầu. Do đặc tính này mà thương
mại có thể mở rộng quy mô của sản xuất thông qua sử dụng các phương pháp
sản xuất ngày càng hiệu quả, sản xuất nhiều hàng hoá hơn trên cùng một đơn
vị lao động, tài nguyên và công nghệ. Như vậy thương mại góp phần làm tăng
hiệu quả sản xuất, tiết kiệm và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên. Tăng
quy mô thương mại cũng làm tăng nhu cầu bảo vệ môi trường sống của con
người. Tuy nhiên, sự gia tăng quy mô sản xuất do tác động của thương mại tự
do cũng có thể gây ảnh hưởng xấu đến môi trường. Một mặt, hoạt động này
làm tăng các yếu tố đầu vào, khuyến khích khai thác và sử dụng ngày càng
nhiều các nguồn tài nguyên, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Mặt khác,
quy mô thương mại và sản xuất gia tăng sẽ làm tăng chất thải ô nhiễm từ hoạt
động sản xuất và tiêu dùng. Điều này có thể thấy rất rõ về tình trạng rác thải và
con đường tốt nhất để truyền bá các công nghệ đó.
- Tự do hóa thương mại sẽ tháo bỏ các khoản trợ cấp, vốn là rào chắn
của thương mại, và điều đó có tác dụng tích cực đến việc bảo vệ môi trường.
- Sự hợp tác đa phương là vô cùng cần thiết để giải quyết các vấn đề môi
trường và tự do hóa thương mại sẽ tạo ra bầu không khí tốt đẹp nhất cho sự
hợp tác đó.
14
(2) Tác động tiêu cực:
- Thương mại là cơ chế luân chuyển hàng hóa và dịch vụ sản xuất từ địa
điểm này sang tiêu dùng tại địa điểm khác. Đặc tính này tạo cho người tiêu
dùng khả năng hưởng thụ các sản phẩm tại đất nước mình không có hoặc
không có khả năng sản xuất. Song nếu các hàng hóa xuất khẩu được sản xuất ồ
ạt theo cách thức phá huỷ môi trường nhiều hơn các loại hàng hóa phục vụ cho
tiêu dùng trong nước, thì đương nhiên việc sản xuất hàng hóa cho mục đích
thương mại sẽ gây ra nhiều hậu quả môi trường nghiêm trọng.
- Tự do hóa thương mại có xu hướng làm tăng các hoạt động kinh tế.
Điều đó có nghĩa là sẽ có nhiều hơn nữa nguyên liệu, năng lượng được sử
dụng vào các hoạt động kinh tế. Sự gia tăng này là cần thiết, song không nhất
thiết phải duy trì thường xuyên. Kinh nghiệm của các nước phát triển cho thấy,
nếu năng lượng đầu vào cho mỗi đơn vị sản phẩm giảm theo thời gian thì việc
mở rộng sản lượng đầu ra không dẫn tới sự gia tăng tiêu dùng năng lượng.
- Các cơ hội thương mại cũng như việc mở rộng các hoạt động kinh tế
còn kéo theo nhiều thay đổi trong việc sở hữu đất đai, tài sản, cách thức sử
dụng đất đai, đe dọa môi trường tự nhiên. Một mặt với mục đích tăng lợi
nhuận, hàng loạt các kỹ thuật hiện đại được sử dụng trong nông nghiệp như
thâm canh tăng vụ, lạm dụng thuốc trừ sâu, phân hóa học đã phá huỷ cân bằng
sinh thái, thúc đẩy nhanh quá trình bạc màu của đất. Mặt khác những người
dân bị tước đoạt đất đai buộc lòng phải di chuyển vào các khu vực rừng núi,
- Các tiêu chuẩn quy định những đặc tính của sản phẩm;
- Các quy định về các phương pháp sản xuất và chế biến (PPM) và các
tiêu chuẩn về ô nhiễm;
- Cấm xuất nhập khẩu các mặt hàng độc hại hoặc gây nguy hại cho sức
khỏe;
- Hạn chế xuất nhập khẩu để bảo vệ và phát triển bền vững các nguồn tài
nguyên thiên nhiên;
- Các yêu cầu về bao bì đóng gói và nhãn mác.
Các công cụ kinh tế bao gồm các khoản thuế đánh vào sản phẩm độc hại
hoặc gây nguy hại cho sức khỏe; phí đối với sản phẩm phế thải, các biện pháp
kiểm soát dựa vào giá cả và trợ cấp môi trường [20, 349].
Việc lựa chọn sử dụng công cụ pháp lý hay kinh tế phụ thuộc vào điều
kiện cụ thể của một nước và được quyết định trên cơ sở từng trường hợp. Bất
cứ sự lựa chọn nào cũng nên cân nhắc đến các yếu tố như tính hiệu lực về môi
trường, tính hiệu quả kinh tế, chi phí và tính khả thi về mặt hành chính, tính
công bằng và khả năng được xã hội chấp nhận.
Dưới đây sẽ xem xét một số biện pháp và công cụ chính sách môi
trường chủ yếu được sử dụng trong thương mại quốc tế hiện nay.
16
1.2.1. Các phƣơng pháp chế biến và sản xuất theo quy định môi
trƣờng (PPM)
Các tiêu chuẩn có thể được phân chia một cách tương đối thành hai loại:
tiêu chuẩn sản phẩm và tiêu chuẩn PPM. Các tiêu chuẩn sản phẩm quy định
các đặc tính của sản phẩm (như độ an toàn sản phẩm, kích thước, kiểu dáng) và
các yêu cầu về đóng gói và nhãn mác. Các chuẩn PPM quy định sản phẩm cần
phải được sản xuất như thế nào. Các tiêu chuẩn PPM áp dụng cho giai đoạn
sản xuất, nghĩa là giai đoạn trước khi sản phẩm được tung ra bán ở thị trường.
Về mặt môi trường, việc xem xét quy trình sản xuất là để giải quyết một
tranh cãi và việc áp dụng chúng nhằm vào những mục đích khác nhau. Nhiều
trường hợp vì lý do môi trường, nhưng không ít trường hợp xuất phát từ mục
đích bảo hộ mậu dịch. Chẳng hạn việc Hoa Kỳ cấm nhập khẩu cá ngừ của
Mêhicô, tôm của Thái Lan vì các nước này đã sử dụng các phương pháp đánh
bắt có khả năng ảnh hưởng đến loài cá heo và rùa biển. Hay Cộng hoà Liên
Bang Đức cấm nhập khẩu các sản phẩm văn hoá của Phần Lan vì chúng được
sản xuất từ loại giấy có nguồn gốc là gỗ rừng nguyên sinh được khai thác trái
phép nhập khẩu từ Indonesia. Các tiêu chuẩn PPM được đề cập trong bộ tiêu
chuẩn ISO 14000 dưới tên gọi “chu trình sống của sản phẩm”. Hiệp định về
các hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) cũng đang xem xét để đưa PPM
vào chương trình đàm phán mới.
1.2.2. Các yêu cầu về đóng gói bao bì
Vấn đề bao bì sau tiêu dùng là một trong những chủ đề quan trọng của
chính sách môi trường và thương mại, bởi vì vấn đề này liên quan đến việc xử
lý chất thải rắn. Người ta tính rằng 25-30% số lượng rác thải sinh ra từ một hộ
gia đình tiêu biểu ở các nước châu Âu là các rác thải bao bì [11, 34]. Kinh
nghiệm của các nước phát triển trong mấy thập niên vừa qua cho thấy chi phí
xử lý rác thải chiếm một phần không nhỏ trong toàn bộ chi phí sản xuất. Các
chính sách đóng gói bao gồm những quy định liên quan đến nguyên vật liệu
đóng gói, những quy định về tái sinh, những quy định về xử lý và thu gom sau
quá trình sử dụng Những tiêu chuẩn và quy định liên quan đến những đặc
tính tự nhiên của sản phẩm và nguyên liệu đóng gói đòi hỏi việc đóng gói phải
phù hợp với việc tái sinh hoặc dùng lại. Những quy định không phù hợp có thể
bị thị trường từ chối cả nguyên liệu đóng gói và sản phẩm chứa trong bao bì.
Một ví dụ minh hoạ cho trường hợp này là các hàng hoá đóng gói bằng bao bì
gai từ các nước bị cấm nhập khẩu vào thị trường EU vì ở đó không có những
phương tiện để tiêu huỷ chúng.
Các biện pháp quy định về yêu cầu đóng gói được áp dụng vì các lý do
về môi trường gồm các biện pháp cấm sử dụng bao có chứa các chất độc hại,
sử dụng các nguyên liệu bị cấm, hạn chế về khả năng tái chế hoặc loại bỏ
độc lập cấp, khi các nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp thỏa mãn được các tiêu
chuẩn và điều kiện của cơ quan cấp giấy phép. Các nhãn hiệu thuộc loại hai
này thường được gọi là "nhãn hiệu sinh thái".
Sản phẩm được dán nhãn sinh thái nhằm mục đích thông báo cho người
tiêu dùng biết là sản phẩm đó được coi là tốt hơn về mặt môi trường. Các quy
định và tiêu chuẩn về dán nhãn sinh thái đang được sử dụng như một công cụ
định hướng đối với các chính sách môi trường.
19
Một trong những đặc điểm quan trọng của hệ thống nhãn hiệu sinh thái
là các tiêu chuẩn được sử dụng để cấp quyền sử dụng nhãn hiệu được đưa ra
bởi một cơ quan đánh giá nhãn hiệu sinh thái. Các tiêu chuẩn đó được dựa trên
cơ sở đánh giá chu trình sống của sản phẩm (LCA), một quá trình còn được gọi
là phương pháp phân tích từ đầu đến cuối (từ lúc sinh đến lúc chết). Theo
phương pháp này, người ta sẽ đánh giá mức độ ảnh hưởng đối với môi trường
của sản phẩm ở các giai đoạn khác nhau trong toàn bộ chu kỳ sống của nó. Các
giai đoạn này bao gồm giai đoạn tiền sản xuất (chế biến các nguyên liệu thô),
sản xuất, phân phối (bao gồm đóng gói), sử dụng hoặc tiêu thụ, và loại bỏ sau
khi sử dụng.
Việc sử dụng nhãn sinh thái cũng làm ảnh hưởng đến cạnh tranh thương
mại quốc tế. Trong các thị trường với những sở thích của người tiêu dùng đối
với những sản phẩm "xanh", tác dụng của nhãn sinh thái được coi như là một
công cụ xúc tiến, đồng thời nhãn đó có thể tác động ngược lại sự cạnh tranh
của những sản phẩm không dán nhãn trong cùng một chủng loại. Do đó, tuy là
việc dán nhãn mang tính chất tự nguyện, nhưng các chương trình nhãn sinh
thái cũng có thể ảnh hưởng đến thương mại quốc tế.
Các chương trình dán nhãn sinh thái được công khai đối với các nhà
cung cấp trong nước và nước ngoài và không phân biệt đối với sản phẩm sản
xuất trong nước hay nhập khẩu. Tuy nhiên, trong những trường hợp nhất định,
này có thể được đánh vào thời điểm tiêu thụ (trong trường hợp này tương
đương với phí sản phẩm và có tác động tương tự đến thương mại) hoặc các
loại thuế này có thể được thu dưới hình thức phí đối với người sử dụng để
trang trải chi phí xử lý rác thải công cộng.
Phí hành chính: Các khoản phí này thường được áp dụng kết hợp cùng
với các quy định để trang trải các chi phí dịch vụ của chính phủ, và có thể
được thu dưới hình thức phí giấy phép, đăng ký, phí kiểm định và kiểm soát.
Cơ sở của việc đánh thuế hay thu phí vì mục đích môi trường được dựa
trên nguyên tắc người gây ô nhiễm và người sử dụng các nguồn lực môi trường
phải chịu phí. Theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (PPP), người
gây ô nhiễm phải chịu chi phí do các cơ quan công cộng chi trả trong việc
giảm thiểu, phòng chống ô nhiễm, và duy trì môi trường ở trạng thái hiện tại.
Nguyên tắc người sử dụng phải trả tiền (UPP) bắt buộc những người được
hưởng thụ điều kiện môi trường tốt hơn phải chịu phí để duy trì môi trường ở
trạng thái nhận được. Trong khi PPP liên quan đến ô nhiễm thì UPP giải quyết
việc đánh giá các nguồn lực tự nhiên đang cạn kiệt. UPP quy định giá của một
nguồn lực tự nhiên cần phải phản ánh toàn bộ chi phí liên quan đến việc sử
dụng nguồn lực này, bao gồm chi phí do tác động bên ngoài gắn với việc khai
thác, chuyển đổi và sử dụng nguồn lực cùng với các chi phí sử dụng tương lai
đã bị bỏ quên.
21
Lý do kinh tế cơ bản của hai nguyên tắc này là, trong khi các chi phí môi
trường là các chi phí nội tại và vì thế được phản ánh trong giá, thì cơ chế thị
trường cần phải khuyến khích việc chấp thuận các kỹ thuật giảm thiểu ô nhiễm
và bảo tồn các nguồn lực đang cạn kiệt tới mức độ phù hợp với phát triển bền
vững và giúp ngăn ngừa những bóp méo trong phân bố đầu tư và hoạt động
thương mại. Việc tất cả các nước thực hiện 2 nguyên tắc này có thể tạo thuận
lợi cho sự phát triển bền vững các nguồn lực của thế giới [20, 354].
Trên đây là một số quy định và tiêu chuẩn môi trường được áp dụng phổ
biến hiện nay trong thương mại quốc tế. Một số quy định tiêu chuẩn do các tổ
chức quốc tế quy định như TBT, SPS, ISO 14000, HACCP, CODEX Một số
khác là quy định và tiêu chuẩn quốc gia. Việc sử dụng các quy định môi
trường trên đây về đại thể nhằm bảo vệ người tiêu dùng, động thực vật. Tuy
nhiên chúng cũng có thể được sử dụng một cách trá hình nhằm bảo hộ mậu
dịch, hạn chế thương mại. Trong bối cảnh gia tăng các vấn đề môi trường toàn
cầu, nhu cầu về các sản phẩn thân thiện với môi trường ngày càng cao thì việc
áp dụng các quy định và tiêu chuẩn môi trường là một trong những công cụ để
nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ, uy tín doanh nghiệp và
quốc gia.
1.3. TÁC ĐỘNG CỦA CÁC QUY ĐỊNH VÀ TIÊU CHUẨN MÔI TRƢỜNG
ĐỐI VỚI THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ HIỆN NAY
Nhìn chung việc áp dụng các quy định và tiêu chuẩn môi trường có thể
ảnh hưởng đến thương mại ở những khía cạnh sau:
1.3.1. Tác động tích cực
(1) Thuận lợi trong việc tiếp cận thị trƣờng
Quá trình tự do hoá thương mại toàn cầu đang thúc ép các quốc gia hạn
chế và tiến tới loại bỏ các rào cản thương mại để hàng hoá và dịch vụ được di
chuyển dễ dàng giữa các quốc gia, tạo nên sự tăng trưởng thương mại toàn cầu.
Tuy nhiên khi các rào cản thương mại bị bãi bỏ thì các tiêu chuẩn và quy định
kỹ thuật ngày càng có vai trò quan trọng trong cạnh tranh thương mại quốc tế.
Đặc biệt, trong bối cảnh các vấn đề môi trường toàn cầu đang có nguy cơ ngày
càng gia tăng, nhu cầu người tiêu dùng về các sản phẩm thân thiện với môi
trường ngày càng cao thì việc áp dụng các quy định và tiêu chuẩn môi trường
ở các nước ngày càng trở nên phổ biến và bắt buộc. Trước tình hình đó, các
sản phẩm thân thiện với môi trường (đáp ứng các tiêu chuẩn và quy định môi
trường) dễ được chấp nhận hơn so với các sản phẩm không tuân thủ các yêu
cầu nói trên. Thực tế cho thấy công ty áp dụng các biện pháp quản lý môi
trường tốt như ISO 14000, HACCP dễ được khách hàng tiếp nhận hơn, uy