ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Nguyễn Phan Liên
VĂN HOÁ KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP FDI
CỦA TRUNG QUỐC TẠI VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Hà nội - 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Nguyễn Phan Liên
1.1.1. Văn hoá kinh doanh 7
1.1.2. Văn hoá DN 9
1.1.3. Các loại hình VHDN 11
1.1.4. Các yếu tố cấu thành 15
1.1.4.1. Triết lý kinh doanh 15
1.1.4.2 Đạo Đức Kinh Doanh 17
1.1.4.3 Văn hoá doanh nhân 19
1.1.4.4 Quan hệ và ứng xử trong kinh doanh 21
1.1.5. Các nhân tố ảnh hƣởng, tác động đến VHKD 24
1.1.5.1 Nền văn hoá xã hội 24
1.1.5.2. Thể chế xã hội 25
1.1.5.3 Sự khác biệt và giao lƣu văn hoá 26
1.1.5.4 Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế 28
1.1.5.5 Khách hàng 29
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN 30
1.2.1. Khái quát những đặc điểm nổi bật của VHKD Trung Quốc 30
1.2.2. Sự tƣơng đồng và khác biệt về văn hoá giữa hai nƣớc Việt Nam và Trung Quốc 32
1.2.3. Môi trƣờng thể chế ở Việt Nam 36
1.2.5 Những tƣơng đồng và khác biệt trong PTKT giữa Việt Nam và Trung Quốc 38
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VHKD CỦA CÁC DOANH NGHIỆP FDI TRUNG QUỐC Ở
VIỆT NAM 43
2.1. TỔNG QUAN VỀ DN FDI TRUNG QUỐC Ở VIỆT NAM 43
2.1.1. Khái quát tiến trình đầu tƣ của các DN Trung Quốc vào Việt Nam 43
2.1.2. Đánh giá chung về hoạt động của các DN Trung Quốc ở Việt Nam 47
2.2. KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VHKD TRONG CÁC DN FDI TRUNG QUỐC Ở VIỆT NAM
51
2.2.1. Triết lý kinh doanh 53 2.2.2 Đạo đức kinh doanh 57
i
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt
Stt
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
1
2
3
4
5
6
7
39
40
41
42
43
ASEAN
BG
BGĐ
BQ
CBQL
CBTNVTX
CNNPĐ
CSKT
CT – XH
ĐĐKD
DN
EU
FDI
GDP
ILO
KCN
KHKT
KTTT
MKT
NLĐ
NQL
NXB
PĐT
PGS
European Union – Liên minh châu Âu
Foreign direct investment – Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
Gross domestic product – Tổng sản phẩm quốc nội
International labour organization – Tổ chức lao động quốc tế
Khu công nghiệp Giáo sƣ
Khoa học kỹ thuật
KTTT
MKT – hoạt động tiếp thị
Ngƣời lao động
Nhà quản lý
Nhà xuất bản
Phiếu điều tra
Phó Giáo sƣ
Phát triển kinh tế
Sản xuất – kinh doanh
Sau công nguyên
Trƣớc công nguyên
Tiêu chuẩn Việt nam
Thế kỷ
Tài nguyên và môi trƣờng
Trách nhiệm hữu hạn
Thành phố
Tiến sĩ
Tiến sĩ khoa học
Ủy ban nhân dân
Đô la Mỹ
Phòng thƣơng mại và công nghiệp Việt nam
Vốn đầu tƣ
Văn hoá doanh nghiệp
Văn hóa kinh doanh
39
43
44 Danh mục biểu đồ
Stt
Biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
1.1
1.2
2.1
2.2
2.3
2.4
73
79
81
1
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu hƣớng tất yếu của sự phát
triển kinh tế (PTKT) thế giới. Cạnh tranh trong môi trƣờng toàn cầu, đa văn hóa
khiến các doanh nghiệp DN luôn phải khai thác và tìm kiếm các yếu tố tạo nên lợi
thế cạnh tranh mới. Và ngày nay, khai thác, vận dụng các yếu tố văn hóa vào hoạt
động sản xuất kinh doanh là một trong những yếu tố giúp các DN tăng sức cạnh
tranh, tạo dựng phát triển bền vững.
Lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng văn hóa kinh doanh (VHKD) không
chỉ là một vũ khí mà các chủ thể trong nền kinh tế dùng để thực hiện sự cạnh tranh
đơn thuần mà (gần đây) còn hƣớng đến một sự cạnh tranh “thông minh” hơn và
mang tính nhân văn cao hơn đó là sự cạnh tranh mang tính thích nghi mà trong đó
các chủ thể đều có lợi (win – win game hay win – win strategy).
Trên thế giới, VHKD đã đƣợc nghiên cứu từ những năm 60 của thế kỷ
(TK)20. Đặc biệt vào cuối TK 20 khi mà khuynh hƣớng quản trị hƣớng tới lợi
nhuận (profit oriented management) bộc lộ nhiều yếu điểm - dẫn tới những thất bại
trong quản trị của các DN, thì ngƣời ta bắt đầu chuyển hƣớng quản trị sang việc coi
hạt nhân của quản trị là con ngƣời (human oriented management) và xây dựng văn
hóa DN (VHDN) là một giải pháp.
Ở Việt Nam, VHKD đƣợc cho là mới chỉ đƣợc quan tâm trong thời gian gần
đây; đặc biệt là kể từ khi Việt Nam mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều vấn đề
đặt ra cả về lý luận và thực tiễn nhƣ là: làm thế nào để tăng cƣờng sức cạnh tranh
các quan hệ kinh tế quốc tế của mình.
2.Tình hình nghiên cứu
Trong nƣớc
Các nghiên cứu trong nƣớc hiện nay chủ yếu đề cập đến các vấn đề nhƣ: lý
luận về VHKD, nghiên cứu về VHKD của một số tập đoàn, DN, vùng miền hoặc
đặc trƣng của một vài quốc gia. Những nghiên cứu này ngoài việc cung cấp những
lý luận cơ bản về VHKD thƣờng đề cập đến những yếu tố có tác động và ảnh hƣởng
3
tới VHKD nhƣ: nền tảng văn hóa dân tộc, tƣ tƣởng truyền thống dân tộc, cơ chế,
chính sách của nhà nƣớc và môi trƣờng văn hóa xã hội. Một số nghiên cứu khác có
đƣa ra những giải pháp, gợi ý chính sách xây dựng VHKD của Việt Nam. Ngoài ra,
còn có những nghiên cứu về VHKD ảnh hƣởng đến vấn đề đạo đức trong kinh
doanh của các DN.
Về những nghiên cứu về lý luận VHKD đã hệ thống khá đầy đủ về các cơ sở
hình thành, khái niệm, đặc điểm, đặc trƣng, các mô hình, các yếu tố ảnh hƣởng
nhƣ các nghiên cứu của các tác giả: Phạm Xuân Nam (1996), Nguyễn Hoàng Ánh
(2002), Dƣơng Thị Liễu và các tác giả (2008), Phùng Xuân Nhạ, Đỗ Minh Cƣơng
(2010) Các nghiên cứu tiêu biểu đề cập đến những yếu tố ảnh hƣởng tới VHKD
qua đó đƣa ra những gợi ý và giải pháp cho việc xây dựng và phát triển VHKD có
công trình nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Ánh (2004), Đỗ Minh Cƣơng (2001),
Trần Quốc Dân (2008), Hoàng Huy Hòa, Nguyễn Đại Lai, Nguyễn Thị Hoài (2007),
Đào Duy Quát, Vũ Tiến Lộc, Nguyễn Hữu Thọ (2007), Hoàng Văn Hoa (2010).
Về VHKD Trung Quốc, có một số nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Hữu
Cần (2004), Dƣơng Ngọc Dũng, Lê Anh Minh (2006), Đồng Phƣơng Tri (2004).
Trong đó các tác giả chủ yếu đề cập đến các nhân tố ảnh hƣởng tới văn hóa Trung
Quốc, các yếu tố cấu thành và biểu hiện của văn hóa Trung Quốc trong ứng xử và
quan hệ xã hội. Các nghiên cứu về VHKD của Trung Quốc chỉ đề cập đến nhƣ là
các vấn đề có liên quan trong các nghiên cứu này. Một số nghiên cứu về thành tựu
Tây đến hiệu quả hoạt động kinh doanh. Nghiên cứu của Farrell, O.C, Fraedrich,
J.& Farrell, L. (2002) đề cập về vấn đề đạo đức kinh doanh (ĐĐKD). Ngoài ra các
công trình nghiên cứu về VHKD của T.Peter&R.Waterman (1996) P.Duckle
(1989), Fons Trompenaars ,Charles Hampden - Turner (1998) đi vào nghiên cứu
các yếu tố cấu thành và vai trò của các nhân tố văn hóa nhƣ hệ thống các nhân tố và
giá trị văn hóa, hệ thống các giá trị VHDN, doanh nhân và những tác động cũng
nhƣ ảnh hƣởng của giá trị những nhân tố văn hóa đến hoạt động kinh doanh và hoạt
động kinh doanh trong môi trƣờng quốc tế hóa.
Về nghiên cứu VHKD Trung Quốc thƣờng đƣợc các nhà nghiên cứu đề cập
đến trong các nghiên cứu về văn hóa Trung Quốc, môi trƣờng kinh doanh, tiến hành
các hoạt động việc kinh doanh ở Trung Quốc nhƣ Ampalavanar Brown (1998),
5
Donald C.Clarke (2008). Một số vấn đề về VHKD Trung Quốc: Ảnh hƣởng của văn
hóa đến mô hình quản trị, ảnh hƣởng của văn hóa tới hoạt động kinh doanh… của
các tác giả Robert Buderi, Gregory T.Huang (2008), How to be another Bill Gate
(2007), Min Chen (2004) Patria H. Werhane, Alan E.Singer (1999). Nghiên cứu về
những đóng góp của VHKD Trung Quốc và những vấn đề các nƣớc khác trên thế
giới phải đối mặt trong việc nghiên cứu về những thành tựu kinh tế của Trung Quốc
của các tác giả: L. Alan Winters và Shahid Yusuf (2007). Nghiên cứu về các giá trị
Trung Quốc của M.H.Bond (1991) đã lập ra một bảng câu hỏi điều tra những giá trị
mà ngƣời Trung Quốc đề cao, bảng điều tra này sau đó đƣợc sử dụng rất nhiều
trong các công trình nghiên cứu về Trung Quốc.
Về VHKD Trung Quốc thể hiện trong các DN FDI Trung Quốc tại Việt Nam
chỉ đƣợc đề cập đến trong một số bài báo đăng các tạp chí nhƣ : Nghiên cứu Trung
Quốc, Nghiên cứu Đông Bắc Á mà chƣa thực sự có công trình khoa học trong và
ngoài nƣớc nào nghiên cứu về nội dung này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hóa một số nội dung về lý luận và thực tiễn của VHKD Trung
Quốc.
- Phân tích đƣợc thực trạng VHKD của các DN FDI Trung Quốc tại Việt Nam.
- Từ việc nghiên cứu văn hóa các DN Trung Quốc, rút ra những bài học kinh
nghiệm và gợi ý cho việc xây dựng VHKD của Việt nam, đồng thời cũng gợi ý một
số vấn đề cho việc tạo sự hài hòa trong áp dụng và phát triển VHKD của các DN
FDI Trung Quốc tại Việt Nam.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của VHKD trong các DN FDI Trung Quốc ở
Việt Nam
Chƣơng 2: Thực trạng VHKD của các DN FDI Trung Quốc ở Việt Nam
Chƣơng 3: Một số gợi ý cho việc xây dựng VHKD ở Việt Nam
7
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VHKD
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP FDI TRUNG QUỐC Ở VIỆT NAM
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1. Văn hoá kinh doanh
Văn hóa hiện diện trong mọi hoạt động của đời sống con ngƣời nhƣ một yếu
tố không thể thiếu của tổng thể xã hội. Các nhà nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu những
sắc thái văn hóa của các hoạt động nhƣ: văn hóa chính trị, văn hóa pháp luật, văn
hóa giáo dục, văn hóa gia đình Kinh doanh là một hoạt động đặc thù của con
ngƣời, do vậy nó cũng là một phạm trù của văn hóa.
Có khá nhiều quan niệm, định nghĩa về VHKD. Trƣớc khi đi đến một định
nhằm mang lại hiệu quả cho sản xuất, kinh doanh nhƣng cũng mang lại lợi ích cho
cộng đồng, xã hội. Nhƣ vậy, theo quan điểm này thì VHKD là cách thức mà DN
vận dụng để mang lại lợi ích cho mình và cho xã hội.
Trong hệ thống quan điểm về VHKD là hệ thống cách thức để tạo nên dấu ấn,
đặc trƣng của mỗi DN, tác giả Đỗ Minh Cƣơng đƣa ra khái niệm: “là việc sử dụng
các nhân tố văn hóa vào trong hoạt động kinh doanh của chủ thể, là cái văn hóa mà
các chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh hình thành nên những
kiểu kinh doanh ổn định và đặc thù của họ…" [15, tr.50].
- PSG.TS Dƣơng Thị Liễu với sự phát hiện về bản chất của VHKD là “làm
cho cái lợi gắn bó chặt chẽ với cái đúng, cái tốt và cái đẹp” đã đƣa ra khái niệm:
“VHKD là toàn bộ các nhân tố văn hóa, được chủ thể kinh doanh chọn lọc, tạo ra,
sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh tạo nên bản sắc kinh doanh của
chủ thể đó” [33, 23].
Khái niệm trên đây của PGS.TS Dƣơng Thị Liễu tuy không đề cập một cách
cụ thể đến tác động của VHKD đến các nhân tố trong kinh doanh nhƣ sản phẩm,
quan hệ khách hàng…nhƣng đã cụ thể hóa và khái quát hóa về một hệ thống các
phạm trù tạo nên VHKD. Khái niệm VHKD trên đây phù hợp với nội dung nghiên
cứu luận văn của tác giả và cũng gần với những vấn đề thực tiễn mà tác giả đã
nghiên cứu khi tìm hiểu và chắt lọc tƣ liệu, tài liệu, số liệu để thực hiện luận văn, vì
9
vậy, tác giả sẽ kế thừa và sử dụng khái niệm trên trong suốt quá trình thực hiện luận
văn.
Nhƣ vậy, khái niệm VHKD trong luận văn này đƣợc hiểu là:
“VHKD là toàn bộ các nhân tố văn hóa, được chủ thể kinh doanh chọn lọc,
tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh tạo nên bản sắc kinh
doanh của chủ thể đó”.
1.1.2. Văn hoá DN
VHDN là khái niệm không mới, bởi VHDN đã đƣợc hiểu nôm na trong đời
mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết” [33,259].
Edgar Schein đã đƣa một khái niệm mà nhiều học giả đã sử dụng trong nghiên
cứu của mình: “Văn hóa công ty là tổng hợp những quan niệm chung mà các thành
viên trong công ty học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý
các vấn đề với môi trường xung quanh” [33,259].
Hai quan điểm trên thể hiện văn hóa công ty (hay DN) là những giá trị vô hình
chung đã trở thành thói quen, thành truyền thống trong DN để xử lý các vấn đề nội
bộ và các vấn đề có liên quan đến DN, các giá trị này cũng mang lại cho mỗi công
ty một dấu ấn riêng.
Nhà nghiên cứu Trần Quốc Dân đã đƣa ra một khái niệm tƣơng đối bao quát
các khái niệm đã đề cập ở trên: “VHDN được hiểu là một hệ thống bao gồm những
giá trị, truyền thống, tập quán, lối ứng xử, nghi lễ, biểu tượng, chuẩn mực được
hình thành trong quá trình xây dựng và phát triển của DN, có khả năng lưu truyền,
tạo nên bản sắc riêng, có tác động sâu sắc tới tâm lý và hành vi của tất cả các
thành viên trong DN” [18, 71].
Khái niệm này đã đề cập đến các yếu tố, tính chất, tác động của VHDN. Tuy
nhiên, khái niệm đƣợc đƣa trong cuốn bài giảng VHKD – Đại học Kinh tế quốc dân
là khái niệm ngắn gọn, cô đọng và vẫn khái quát đƣợc những khía cạnh trên:
“VHDN là toàn bộ những nhân tố văn hóa được DN chọn lọc, sử dụng và biểu hiện
trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của DN đó” [33, 260].
Đây cũng là khái niệm mang tính hệ thống và thống nhất với khái niệm về VHKD
mà tác giả đã sử dụng, do đó, trong luận văn này, khái niệm VHDN sẽ đƣợc hiểu là:
VHDN là toàn bộ những nhân tố văn hóa được DN chọn lọc, sử dụng và
11
biểu hiện trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của DN đó.
1.1.3. Các loại hình VHDN
Để xây dựng văn hóa cho DN một cách có hệ thống, các DN cần nhận định
mô hình văn hóa mà DN cần hƣớng đến. Theo các nhà nghiên cứu có hai cơ sở để
Cách thứ hai, dựa trên tiêu chí mục tiêu mà mô hình VHDN hƣớng đến (của
Fons Trompenaars và Charles Hampden-Turner)
* Mô hình văn hóa gia đình:
Khái niệm “gia đình” trong mô hình này dùng để tả mối quan hệ trực tiếp, gần
gũi nhƣng có thứ bậc trên dƣới. VHDN theo mô hình này hình thành nên một mô
hình văn hóa hƣớng quyền lực (ngƣời lãnh đạo có vai trò nhƣ “ngƣời cha” biết nên
làm điều gì và biết điều gì tốt cho “con cái”), là loại quyền lực hƣớng đến sự thân
thiện, ôn hòa, tạo ra môi trƣờng làm việc nhƣ một gia đình.
Trong mô hình này, động cơ làm việc, năng suất lao động và khả năng giải
quyết mâu thuẫn đƣợc tạo ra từ sự hài lòng trong các mối quan hệ. Quyền lực đƣợc
thực thi lớn nhất thông qua sự hòa hợp giữa các thành viên. Quyền lực và sự phân
biệt địa vị là tự nhiên, ngƣời lãnh đạo không bị đánh giá về khả năng hoàn thành
nhiệm vụ. Mô hình văn hóa gia đình thiên về trực giác hơn là trình độ kiến thức,
quan tâm đến sự phát triển con ngƣời hơn là triển khai hay sử dụng con ngƣời, kiến
thức cá nhân đƣợc đánh giá cao hơn kinh nghiệm cá nhân. Việc khích lệ, khen
thƣởng đƣợc thực hiện bằng sự tán dƣơng hay đánh giá cao hơn là bằng tiền. Việc
giải quyết mâu thuẫn phụ thuộc vào sự khôn khéo của lãnh đạo, ít phê phán công
khai mà chỉ dƣới hình thức gián tiếp.
Mô hình văn hóa gia đình ít quan tâm đến năng suất mà chú trọng ƣu tiên cho
hiệu quả. Các tập đoàn theo mô hình văn hóa gia đình thƣờng là ở những nơi diễn ra
quá trình quá độ từ phong kiến lên công nghiệp hóa nhanh, tồn tại nhiều thành tích
phong kiến nhƣ: Ai Cập, Italia, Nhật, Singapore, Triều Tiên, Tây Ban Nha, Pháp.
*Mô hình tháp Eiffel:
Tháp Eiffel, biểu tƣợng của Paris là hình ảnh đại diện cho mô hình này bởi
hình khối của tháp với độ dốc đứng, cân đối, thu hẹp ở đỉnh, nới rộng ở đáy, chắc
chắn, vững chãi. Đây là sự biểu tƣợng cho thời đại cơ khí, cấu trúc quan trọng hơn
chức năng. Biểu tƣợng đại diện cho mô hình này chỉ ra tính logic của sự phụ thuộc
13
14
Trong mô hình này, cá nhân học hỏi bằng cách hòa hợp với mọi ngƣời, tìm và
đảm đƣơng vai trò còn thiếu trong tập thể, thực hành nhiều hơn lý thuyết. Đánh giá
công việc của mỗi cá nhân là do ngƣời ngang hàng hay cấp dƣới chứ không phải là
cấp trên. Trong mô hình này, khích lệ trở thành bản chất, có sự tham gia đông đảo
của cá nhân thì có sự cam kết rộng rãi cho kết quả, cần sự đồng tâm, nhất trí trên
phạm vi lớn để lôi kéo sự tham gia của tất cả mọi ngƣời. trong mô hình này, công ty
quản lý bằng các mục tiêu, mọi ngƣời đƣợc trả công theo năng lực. Mục tiêu cuối
cùng của các cá nhân là tiền và vì vậy, làm việc là niềm say mê đƣợc chia sẻ và hợp
tác nhƣng lại mất đi ngay khi đạt đƣợc mục tiêu cuối cùng của công ty.
Mô hình này thƣờng áp dụng ở các dự án, chƣơng trình, nơi mà mục tiêu luôn
vận động, các mục tiêu mới xuất hiện thì sẽ xuất hiện nhóm làm việc mới, nhóm cũ
giải tán, xu hƣớng luân chuyển công việc cao do các cá nhân chuyển từ nhóm này
sang nhóm khác. Lòng trung thành với công việc lớn hơn lòng trung thành với công
ty. Thƣờng thấy mô hình này đƣợc áp dụng ở các công ty, tập đoàn lớn của Anh,
Mỹ.
* Mô hình văn hóa lò ấp trứng:
Dựa trên quan điểm về thuyết hiện sinh, mô hình này ƣu tiên sự hoàn thiện cá
nhân hơn là cơ cấu tổ chức, tổ chức là cái nôi của sự tự thể hiện và tự hoàn thiện.
Mục tiêu là giải phóng con ngƣời khỏi lề thói và phát huy sự sáng tạo, những cá thể
xung quanh đóng vai trò xác nhận, phê phán, phát triển, tìm nguồn lực để giúp hoàn
thành sản phẩm hay dịch vụ. Trong mô hình này, hệ thống thứ bậc đƣợc tinh giản,
quyền lãnh đạo là do đạt đƣợc chứ không phải là đƣợc quy cho, ngƣời lãnh đạo
thƣờng kết tinh sự nghiêm khắc, có ý tƣởng gây hứng thú, tạo sự hứng khởi, cuốn
hút những cá thể xung quanh.
Mô hình này đề cao sự sáng tạo, đổi mới. các cá thể có quan hệ thân thiết,
cùng chia sẻ nguồn cảm hứng để dẫn đến mục tiêu phi thƣờng. Cũng do sự gắn bó
mật thiết giữa các thành viên nên sự thay đổi trong mô hình có thể diễn ra bột phát,
nhanh chóng. Mô hình này duy trì sự sáng tạo và các thành viên học cách sáng tạo
tắc, quy tắc trong quan hệ ứng xử, trong hoạt động của DN để hƣớng tới mục tiêu
định sẵn, và nhƣ vậy, triết lý kinh doanh duy trì và dẫn dắt sự thay đổi của DN bất
chấp những vấn đề về nhân sự trong DN. Triết lý kinh doanh thƣờng đƣợc hình
16
thành trƣớc hoặc trong quá trình khởi nghiệp. Quan điểm “có bánh mì rồi mới có
hoa hồng” trƣớc đây cho rằng triết lý kinh doanh là một thứ xa xỉ chỉ xuất hiện khi
DN đã vững mạnh. Tuy nhiên, sự lựa chọn xây dựng triết lý kinh doanh dẫn đƣờng
ngay từ những ngày đầu khởi nghiệp là sự lựa chọn mang giá trị thực tiễn. Triết lý
kinh doanh dẫn đƣờng cho DN tới mục tiêu nhất định,cũng từ triết lý kinh doanh
đó, DN đƣợc ngƣời tiêu dùng biết đến, xã hội biết đến và tôn vinh họ, sử dụng sản
phẩm của họ. Triết lý kinh doanh thƣờng đƣợc hình thành trong sự tƣơng tác và tác
động, ảnh hƣởng của nền văn hóa dân tộc, sự giao thoa văn hóa trong cạnh tranh, sự
ảnh hƣởng của các mối quan hệ chủ - thợ, DN – đối thủ cạnh tranh, DN- bạn hàng,
DN- khách hàng, DN – xã hội…và vì vậy, có thể cho rằng, triết lý kinh doanh chính
là quan điểm triết học về kinh doanh của DN:
“Triết lý kinh doanh là những tư tưởng triết học phản ánh thực tiễn kinh
doanh thông qua con đường trải nghiệm, suy ngẫm, khái quát hòa của các chủ
thể kinh doanh và chỉ dẫn cho hoạt động kinh doanh.”[33, 54,55]
Triết lý kinh doanh gồm những nội dung sau (xem bảng 1.1.)
- Sứ mệnh và mục tiêu cơ bản của DN.
- Phƣơng thức hành động.
- Các nguyên tắc tạo ra một phong cách cƣ xử, giao tiếp và hoạt động kinh
doanh đặc thù của DN.
Các triết lý kinh doanh dù rất đa dạng nhƣng thƣờng hƣớng đến:
- Việc tuân theo các quy tắc cạnh tranh cơ bản của thị trƣờng.
- Có ý chí tấn công.
- Có định hƣớng về lòng trung thành.
- Định hƣớng về những đóng góp cho xã hội.
Biểu đồ 1.1 Các mối liên kết giữa giá trị, sự tin tƣởng và khả năng tạo ln
ĐĐKD
Giá trị đƣợc chia sẻ
Vốn xã hội
Tăng trƣởng kinh tế
Sự tin tƣởng
18
Nguồn: ĐĐKD, cẩm nang quản lý DN kinh doanh có trách nhiệm trong các nền
kinh tế thị trƣờng (KTTT) mới nổi, Us Department Of Commerce [61,67]
ĐĐKD ảnh hƣởng đến sự tồn tại của DN không chỉ trong hiện tại mà còn cả
trong tƣơng lai. Khi kinh doanh có đạo đức, mặc dù gặp thất bại cũng vẫn còn nhiều
cơ hội để phát triển, nhƣng ngƣợc lại, kinh doanh phi đạo đức sẽ mang đến cho DN
một tƣơng lai không có gì, không còn cơ hội gây dựng lại DN.
ĐĐKD có liên quan mật thiết đến trách nhiệm xã hội của DN. Kết quả kinh
doanh của mỗi DN không chỉ đơn thuần thể hiện trên những con số về doanh thu,
lỗ, lãi… mà còn là sự ảnh hƣởng, tác động thế nào đến hệ thống xã hội xung quanh.
Hoạt động kinh doanh của DN có liên quan (là những ngƣời tham gia, chịu tác
động hoặc có thể ảnh hƣởng đến DN) đến hệ thống xã hội bao gồm các thành phần:
1) Khách hàng và ngƣời tiêu dùng; 2) Chủ sở hữu, cổ đông, chủ nợ; 3) Nhân viên và
ngƣời thừa hành; 4) Nhà cung ứng; 5) Đối thủ cạnh tranh; 6) Giới truyền thông và
các nhóm vận động; 7) Chính phủ; 8) Gia đình; 9) Cộng đồng; 10) Xã hội; 11) Môi
trƣờng.
DN kinh doanh có trách nhiệm sẽ tính toán để tạo đủ doanh thu nhằm trang
trải những chi phí thật sự của vốn, những rủi ro của hoạt động kinh tế trong tƣơng
lai, những nhu cầu cho NLĐ hiện đang sử dụng và cả những ngƣời hƣu trí, chi phí
duy trì hoạt động về lâu dài (chi phí đảm bảo cho hoạt động vì môi trƣờng, chi phí