Quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam - Pdf 25

o0o
Hà nội - 2008

1
MỤC LỤC
Lời mở đầu 4
Chương 1: Quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài - Những vấn đề lý luận cơ bản và kinh nghiệm quốc tế 10
1.1. Nhận thức chung về quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài 10
1.1.1. Sự cần thiết phải quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài 10
1.1.2. Nội dung quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài 12
1.2. Kinh nghiệm quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài của Trung Quốc và bài học cho Việt Nam 20
1.2.1. Kinh nghiệm 20
1.2.2. Bài học cho Việt Nam 27
Chương 2: Thực trạng hoạt động quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 30
2.1. Hoạt động của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam từ
năm 2000 đến nay 30
2.1.1. Đóng góp 30
2.1.2. Hạn chế 40
2.1.3. Nguyên nhân của hạn chế 45
2.2. Thực trạng hoạt động quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn

Kết luận 90
Danh mục tài liệu tham khảo 92
4
LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, sự di chuyển nguồn lực giữa các
quốc gia đã làm hình thành trong mỗi nền kinh tế một khu vực mới - khu vực
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Đóng góp của khu vực kinh tế này đối với
sự tăng trưởng, phát triển kinh tế của mỗi nước là không thể phủ nhận, đặc
biệt, đối với những nước đang phát triển như Việt Nam thì sự di chuyển vào
của luồng vốn này có ý nghĩa vô cùng to lớn. Thực tiễn đã chứng minh, trong
quá trình mở cửa nền kinh tế, quốc gia nào thu hút được nhiều luồng vốn quốc
tế và sử dụng chúng có hiệu quả thì cơ hội tăng trưởng và phát triển kinh tế sẽ
nhiều hơn, đồng thời, khoảng cách tụt hậu so với các nước phát triển sẽ được
rút ngắn nhanh hơn. Vì lý do đó mà hiện nay, tất cả các nước đang phát triển
đều muốn thu hút ngày càng nhiều hơn luồng vốn nước ngoài và dẫn đến cạnh
tranh rất gay gắt.

lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam” được chọn làm đề tài luận văn của tôi.
2. Tình hình nghiên cứu.
Quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở
Việt Nam là vấn đề kinh tế vĩ mô có tác động lớn tới phát triển kinh tế xã hội
của đất nước, được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Đã có nhiều công
trình nghiên cứu được công bố, các kết quả có tác động nhất định đối với thực
tiễn phát triển kinh tế xã hội của đất nước như:
6
- Những giải pháp chính trị, kinh tế nhằm thu hút có hiệu quả đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào Việt Nam, PGS,TS. Nguyễn Khắc Thân – GS,TS. Chu
Văn Cấp, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài với tạo việc làm cho người lao động, Bùi
Anh Tuấn, NXB Thống kê, Hà Nội, 2000.
- Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt nam hiện nay, PGS.TS. Trần
Quang Lâm – TS. An Như Hải, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài với công cuộc CNH, HĐH ở Việt Nam, TS
Nguyễn Trọng Xuân, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp,
PGS.TS Trần Xuân Tùng, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005.
- Đầu tư của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) tại Việt Nam, PGS.TS
Đỗ Đức Bình, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.
- Trần Văn Nam, Quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài: Thực trạng và giải pháp, Trần Văn Nam, NXB Khoa học -
Kỹ thuật, Hà Nội, 2005.
Ngoài ra còn rất nhiều bài báo nghiên cứu về vấn đề này. Tuy nhiên, việc
nghiên cứu chủ yếu chỉ tập trung vào việc làm thế nào để tăng cường thu hút
nguồn vốn đầu tư nước ngoài? Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp này ra
sao? Nó tham gia đóng góp vào phát triển kinh tế, xã hội như thế nào,… mà
chưa quan tâm nhiều đến hoạt động quản lý Nhà nước đối với thu hút, sử

8
- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động quản lý Nhà nước đối với doanh
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là vấn đề lớn, bao gồm tổng thể các
cơ chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm điều chỉnh tất cả các mặt
của hoạt động đầu tư nước ngoài. Do vậy, đề tài sẽ chỉ tập trung nghiên cứu
vấn đề liên quan đến hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở tầm vĩ mô: Vì sao cần tăng cường quản lý Nhà nước đối với
doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài? Nhà nước quản lý doanh
nghiệp FDI như thế nào? Khi Việt Nam đã là thành viên chính thức của
WTO, hoạt động quản lý của Nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài cần có những thay đổi gì để vừa phù hợp với cam kết
quốc tế về đầu tư, vừa tạo lập môi trường hấp dẫn thu hút đầu tư nước ngoài?
Từ đó đưa ra các giải pháp tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước đối với
doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong giai đoạn mở rộng hội
nhập kinh tế quốc tế.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử làm phương pháp cơ bản, kết hợp với phương pháp
thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh.
6. Đóng góp của luận văn.
- Tìm hiểu kinh nghiệm của Trung Quốc về hoạt động quản lý Nhà nước
đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
- Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước đối
với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian
tới.
9
7. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, bố cục của luận văn

trọng, đặc biệt nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được coi là nguồn
vốn thích hợp, có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Việc thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn FDI mang lại nhiều lợi ích to lớn:
Nâng cao năng lực quản lý và trình độ công nghệ, tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp Việt Nam chủ động tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,
tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Do đó, các giải
pháp tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn FDI
có ý nghĩa to lớn, một mặt phát huy tối đa nội lực của các doanh nghiệp này
vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước, mặt khác tạo đà cho sự phát
triển của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác trong nền kinh
tế.
Doanh nghiệp có vốn FDI là đối tượng quản lý của Nhà nước. Mối quan
hệ biện chứng giữa Nhà nước và các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp
có vốn FDI nói riêng là chặt chẽ và hết sức quan trọng. Sự quản lý của Nhà
nước có ảnh hưởng quyết định tới hoạt động của các doanh nghiệp trong một
quốc gia và ngược lại, hoạt động của các doanh nghiệp lại quyết định tới sức
mạnh của Nhà nước và có ảnh hưởng lớn đến các vấn đề kinh tế, xã hội của
11
đất nước. Do đó, thực hiện quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn
FDI là vấn đề hết sức cần thiết đối với mọi quốc gia.
Mục tiêu của Việt Nam là đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một
nước công
nghiệp. Để thực hiện được mục tiêu đó, trong điều kiện nguồn vốn
ODA trên thế giới đang có xu hướng giảm xuống thì việc thu hút nguồn vồn
FDI là tất yếu.
Trong những năm gần đây, luồng vốn FDI vào Việt Nam liên
tục tăng, tuy nhiên, con số đó vẫn chưa phản ánh hết tiềm năng thu hút vốn
nước ngoài của chúng ta, mặt khác, tỷ lệ vốn giải ngân so với vốn đăng ký
còn rất thấp. Điều này đặt ra những vấn đề bức bách đối với chính phủ Việt
Nam, đòi hỏi các cơ quan hữu quan cần nghiên cứu tìm ra các giải pháp phù

giảm thiểu mặt tiêu cực, phát huy mặt tích cực, tạo ra môi trường đầu tư hấp
dẫn thu hút ngày càng nhiều hơn luồng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, góp phần thực
hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia.
1.1.2. Nội dung quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài.
Quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn FDI là việc Nhà nước
tạo lập môi trường kinh doanh ổn định, các điều kiện cần thiết, tạo ra khung
khổ chính sách, pháp luật phù hợp thông qua bộ máy hành chính từ trung
ương đến địa phương quản lý hoạt động của doanh nghiệp từ khi thành lập
đến khi doanh nghiệp rút khỏi thị trường. Hoạt động quản lý Nhà nước đối
với doanh nghiệp có vốn FDI bao gồm những nội dung sau:
13
- Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về đầu tư phát
triển.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế đều được tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhưng vì mục
tiêu lợi nhuận, họ sẽ chỉ đầu tư vào những nơi có thể đem lại cho họ nhiều lợi
nhuận nhất. Bắt nguồn từ lý do đó thì chỉ những ngành, những lĩnh vực có
khả năng thu hồi vốn nhanh, những vùng có điều kiện sản xuất kinh doanh
thuận lợi mới thu hút được sự đầu tư của họ. Tuy nhiên, điều đó rất dễ dẫn
đến tình trạng mất cân đối trong sự phát triển của nền kinh tế. Do vậy, để các
doanh nghiệp có vốn FDI phát triển cân đối trong phạm vi cả nước, giữa các
vùng kinh tế, giữa các ngành kinh tế, việc xây dựng chiến lược, quy hoạch và
kế hoạch phát triển doanh nghiệp FDI đóng một vai trò rất quan trọng trong
quản lý Nhà nước.
Khi xây dựng chiến lược quy hoạch, kế hoạch cần đảm bảo thoả mãn các
yêu cầu kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, an ninh quốc phòng của đất nước,
đồng thời phải công khai cho các nhà đầu tư biết về những lĩnh vực, ngành
nghề khuyến khích, không khuyến khích hay cấm đầu tư, và những ưu tiên

của mỗi quốc gia, nhưng phải phù hợp với những nguyên tắc và thông lệ quốc
tế, đặc biệt phải phù hợp với những quy định của WTO. Những chính sách
khuyến khích, ưu đãi đầu tư cần được cân nhắc kỹ, xem xét dài hạn, tránh ảnh
hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế.
Cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp
FDI bao gồm:
15
+ Chính sách tài chính, chính sách đất đai, chính sách tiền tệ, chính sách
thuế, chính sách khoa học công nghệ, chính sách ưu đãi, khuyến khích, hỗ trợ
đầu tư, chính sách lao động tiền lương, chính sách về môi trường,…
+ Những quy định về các hình thức tổ chức doanh nghiệp, việc chia,
tách, sát nhập, hợp nhất và chuyển đổi doanh nghiệp, thủ tục đăng ký kinh
doanh, các ngành doanh nghiệp FDI được phép hoặc không được phép kinh
doanh, trình tự, thủ tục giải thể, phá sản doanh nghiệp.
+ Quy định về giải quyết tranh chấp, vướng mắc trong hoạt động của
doanh nghiệp, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của doanh
nghiệp về thực thi pháp luật,…
- Quản lý hoạt động cấp phép và các hoạt động khác của doanh nghiệp.
+ Hoạt động cấp phép và rút giấy phép:
Để được cấp giấy chứng nhận đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải đáp ứng đầy đủ các yêu
cầu của nước tiếp nhận đầu tư về các vấn đề: phù hợp với chiến lược phát
triển kinh tế của đất nước, phù hợp với quy hoạch, chiến lược phát triển của
từng ngành, từng vùng, từng địa phương và bên cạnh lợi ích đem lại cho chủ
đầu tư thì phải thể hiện được lợi ích có thể đạt được cho sự phát triển kinh tế,
xã hội của nước tiếp nhận đầu tư.
Theo quy định của luật đầu tư năm 2005, những dự án liên quan đến an
ninh quốc phòng hoặc có quy mô lớn, đầu tư vào các ngành, các lĩnh vực
quan trọng của nền kinh tế quốc dân, những lĩnh vực đầu tư có điều kiện sẽ do
cơ quan quản lý cao nhất của Nhà nước quyết định, những dự án ngoài những

Trong các trường hợp doanh nghiệp giải thể trước thời hạn, cơ quan nhà
nước sẽ đưa ra các quyết định về việc chấm dứt hoạt động và thu hồi giấy
phép đầu tư.
+ Hoạt động chuyển giao công nghệ:
Trong các liên doanh, nhà nước có những quy định về tỷ lệ góp vốn của
các bên tham gia. Thông thường nhà nước khuyến khích phía Việt Nam góp
phần vốn lớn trong liên doanh và có những quy định chặt chẽ về kiểm soát giá
cả máy móc, thiết bị để tránh tình trạng phía nước ngoài nâng giá lên cao hơn
giá thị trường gây thiệt hại cho doanh nghiệp Việt Nam và nhà nước. Mặt
khác, nhà nước cũng có những quy định về quản lý quá trình chuyển giao
công nghệ, nhập máy móc thiết bị của những doanh nghiệp có vốn FDI để
tránh trường hợp các doanh nghiệp nhập khẩu máy móc, thiết bị cũ, lạc hậu sẽ
làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam và làm ảnh hưởng đến
môi trường sinh thái. Tuy nhiên, do trình độ của lao động Việt Nam có hạn,
nếu sử dụng công nghệ hiện đại sẽ đẩy người lao động đến chỗ thất nghiệp.
Do vậy, nhà nước cần có những quy định trong việc lựa chọn công nghệ và có
thể phải hy sinh một số mục tiêu kinh tế, xã hội.
+ Hoạt động tạo điều kiện cạnh tranh và kiểm soát độc quyền:
Nhà nước cũng cần phải có quy chế để giảm thiểu tình trạng các doanh
nghiệp FDI liên kết với nhau thống lĩnh thị trường gây thiệt hại cho người tiêu
dùng và doanh nghiệp trong nước để đảm bảo cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy
sự phát triển của nền kinh tế.
+ Quản lý về vấn đề lao động tiền lương trong các doanh nghiệp FDI.
Nhà nước ban hành quy chế đảm bảo cho thị trường lao động Việt Nam
hoạt động có hiệu quả và đúng luật để đảm bảo cho sự cạnh tranh bình đẳng
18
giữa các loại hình doanh nghiệp trên thị trường này và cũng là để đảm bảo
quyền lợi cho người lao động.
Ban hành những quy định bắt buộc các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài chấp hành nghiêm chỉnh những chính sách, chế độ tuyển dụng lao

ngày nay, khi nền kinh tế thế giới đang dần chuyển sang nền kinh tế tri thức
thì lợi thế nhân công rẻ sẽ không còn là yếu tố chính hấp dẫn với nhà đầu tư
nước ngoài nữa. Nguồn lực có trình độ, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp,
phẩm chất đạo đức và nhân cách sẽ trở thành nhân tố quyết định chính đối với
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài nói riêng cũng như sự tăng trưởng, phát triển của mỗi quốc gia.
Hiện nay, nguồn nhân lực của chúng ta còn yếu về chuyên môn, kỹ năng
nghề nghiệp, trình độ ngoại ngữ và sự am hiểu về pháp luật lao động, pháp
luật đầu tư nước ngoài của chính đất nước mình cũng còn rất hạn chế. Đây là
nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động thu hút vốn đầu tư nước ngoài
vào Việt Nam. Chính vì vậy, hoạt động đào tạo nguồn lực cũng là một nội
dung quan trọng trong quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài.
- Tổ chức hoạt động xúc tiến đầu tư.
Hoạt động xúc tiến đầu tư là một bộ phận quan trọng trong hệ thống
chính sách thu hút FDI của mỗi quốc gia. Hoạt động này thường được thực
hiện thông qua các phương pháp:
+ Tham gia các cuộc hội thảo, hội chợ, triển lãm quốc tế về đầu tư nước
ngoài.
20
+ Tổ chức các hoạt động quảng bá, tuyên truyền, giới thiệu hình ảnh
quốc gia trên các phương tiện thông tin đại chúng và thông qua các cuộc hội
thảo, triển lãm trong và ngoài nước.
+ Cung cấp các thông tin về cơ chế, chính sách, pháp luật về đầu tư.
+ Cung cấp các dịch vụ tư vấn và hỗ trợ đầu tư.
+ Tháo gỡ những khó khăn, thúc đẩy những dự án đang hoạt động hoạt
động hiệu quả hơn.
+ Cải tiến thủ tục hành chính trong quá trình cấp phép, giải quyết tranh
chấp theo hướng nhanh, gọn, đơn giản, minh bạch.
Hoạt động đầu tư được thực hiện thông qua cơ quan xúc tiến đầu tư.

- Chính sách, cơ chế, pháp luật đối với đầu tư nước ngoài.
Bộ luật liên doanh cổ phần giữa Trung Quốc với nước ngoài ban hành
ngày 01/07/1979 là văn bản đầu tiên về đầu tư nước ngoài sau cải cách và mở
cửa của Trung Quốc. Đến nay, Trung Quốc đã ban hành hơn 500 văn bản
gồm các bộ luật và văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động đầu tư nước
ngoài, trong đó có Luật liên doanh, quy định thực hiện luật liên doanh, quy
định của hội đồng nhà nước về khuyến khích đầu tư nước ngoài, luật ngoại
thương,… Những văn bản này cơ bản là phù hợp với đòi hỏi của những quan
hệ mở trong nền kinh tế thị trường và thường được sửa đổi, bổ sung cho phù
hợp khi thực tiễn thay đổi.
Để nhất quán với những điều khoản đã cam kết, bảo vệ quyền lợi của
nhà đầu tư nước ngoài, đối xử công bằng và cùng có lợi chung, Trung Quốc
22
tăng cường ban hành và cải tiến luật, quy định, chính sách có liên quan đến
thu hút đầu tư nước ngoài nhằm thiết lập hệ thống thị trường thống nhất và có
trật tự trên toàn quốc như: Luật doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được ban
hành năm 1986, luật về khuyến khích đầu tư của thương nhân Đài Loan được
ban hành năm 1988. Luật hợp đồng hợp tác kinh doanh được ban hành năm
1988, luật thuế thu nhập doanh nghiệp được ban hành năm 1991. Năm 1990,
Trung Quốc tiến hành sửa đổi các luật trên với nhiều quy định có lợi cho các
nhà đầu tư nước ngoài.
Năm 1992 là dấu mốc rất quan trọng trong lịch sử thu hút FDI của Trung
Quốc. Sự thông thoáng và cởi mở hơn của chính sách và chiến lược thu hút
FDI đã mở ra thời kỳ tăng trưởng FDI cao nhất trong lịch sử của Trung Quốc.
Năm 1992 Luật về hiệp hội thương mại được ban hành. Năm 1993 Luật công
ty được thông qua và các điều khoản về kiểm soát thuế tiêu thụ, thuế kinh
doanh và thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng được ban hành đã
khuyến khích mạnh dòng vốn FDI vào Trung Quốc. Để đảm bảo lợi ích và tạo
sự tin tưởng của giới đầu tư Đài Loan - một trong những nhà đầu tư lớn nhất
của Trung Quốc - vào chính sách mở cửa của đại lục, năm 1994 Trung Quốc

mại, ngoại thương, truyền thông, du lịch, vận tải là những lĩnh vực sẽ từng
bước được mở cửa khuyến khích đầu tư theo lộ trình cam kết gia nhập WTO.
Những ngành trước đây bị cấm như khí đốt, bưu chính viễn thông, cấp thoát
nước, cung cấp hơi nóng, theo quy định mới, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ
được phép đầu tư. Ngoài ra, hướng dẫn mới còn khuyến khích các nhà đầu tư
nước ngoài tham gia cải cách doanh nghiệp nhà nước và cho phép họ được
quyền giữ cổ phần chi phối ở những doanh nghiệp nhà nước lớn, trừ những
lĩnh vực đặc biệt quan trọng với an ninh quốc gia. Việc tích cực điều chỉnh

Trích đoạn Nguyên nhân của hạn chế Ban hành luật đầu tư Tăng cường công tác xúc tiến đầu tư Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính Đào tạo nguồn nhân lực
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status