1
MỤC LỤC
Trang
Phần mở đầu
4
Chƣơng 1: những vấn đề chung về quản lý nhà nƣớc
đối với Kinh tế tƣ nhân
9
1.1.
Khái niệm và đặc điểm của kinh tế tƣ nhân
9
1.1.1.
Quan niệm chung về kinh tế tư nhân
9
1.1.2.
Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
13
1.1.2.1.
Thu hút các nguồn lực trong dân cƣ vào sản xuất, kinh
doanh, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế đất
nƣớc
Quá trình đổi mới nhận thức và các chính sách đối
với kinh tế tƣ nhân ở Việt Nam
28
1.3.1.
Hai giai đoạn nhận thức và chính sách đối với kinh tế
tư nhân ở Việt Nam
28 2
1.3.1.1.
Từ 1986 trở về trƣớc
28
1.3.1.2.
Sự đột phá về nhận thức và chính sách đối với kinh tế tƣ
nhân trong những năm Đổi mới
29
1.3.2.
Thể chế hoá những quan điểm, đường lối của Đảng
bằng các văn bản pháp luật
35
Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với kinh
tế tƣ nhân ở Hà Nội
41
60
2.3.4.
Cơ chế về tài chính, tín dụng chưa khuyến khích kinh
tế tư nhân
61
2.3.5.
Quản lý nhà nước về thị trường chưa đồng bộ
64
2.3.6.
Quản lý nhà nước về khoa học – công nghệ chưa có tác
dụng thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển
66
2.4.
Nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý nhà
3
nc i vi kinh t t nhõn H Ni
68
Chng 3: Quan im v gii phỏp nõng cao hiu lc,
hiu qu qun lý nh nc i vi kinh t t
nhõn H NI
chế, chính sách
83
3.2.3.
Xây dựng đội ngũ doanh nhân mới; nâng cao chất
l-ợng nguồn nhân lực
93
Kết luận
101
Danh mục tài liệu tham khảo
103
4
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ
chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa là nội dung cốt lõi của đường lối Đổi mới mang tính nhất quán của
nghiệp tƣ nhân, chẳng hạn: Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa (GS.TS Hồ Văn Vĩnh, Tạp chí Cộng Sản số
21 tháng 7/2003); Kinh tế tư nhân - Bộ phận cấu thành quan trọng của
nền kinh tế nước ta (TS. Lê Xuân Bá, Tạp chí Cộng sản Điện tử số 19-
2002); Cơ cấu thành phần kinh tế ở nước ta hiện nay - Lý luận, thực
trạng và giải pháp (GS.TSKH Lương Xuân Quỳ (chủ biên), Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2003); Thành phần kinh tế tư bản tư nhân trong quá
trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa, (GS.TS Nguyễn Thanh Tuyền (chủ
biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003); Thành phần kinh tế cá thể,
tiểu chủ và tư bản tư nhân- Lý luận và chính sách (TS. Hà Huy Thành
(chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, v.v… Ngoài ra, còn có
một số công trình khác, tập trung nghiên cứu về những yếu tố cần thiết
cho sự phát triển các doanh nghiệp tƣ nhân, tiêu biểu như: Xây dựng
một thế hệ doanh nhân, doanh nghiệp mới (Đoàn Nhất Dũng, Tạp chí
Cộng sản số 31 tháng 11/2002), hoặc đi sâu vào những chính sách và
giải pháp vĩ mô cần thiết trong việc phát triển doanh nghiệp tƣ nhân
nƣớc ta: Bàn về chính sách phát triển KTTN trong thời kỳ đổi mới (TS.
Lương Hoài Nam, Tạp chí Cộng sản Điện tử số 16 - 2002); Phát huy lợi 6
thế của kinh tế dân doanh (Thông tin tư liệu, TTXVN- số 87 (365)
29/10/2003), v.v
Về kinh tế tư nhân ở Hà Nội, cũng có một số công trình nghiên cứu
đã được công bố, như: Ý thức chính trị của công nhân trong một số
doanh nghiệp ở Hà Nội hiện nay (PGS.TS Phan Thanh Khôi, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội – 2003); Kinh tế- xã hội nhân văn trong phát triển
KTTN Hà Nội (GS.TSKH Lê Du Phong, PGS.TS Hoàng Văn Hoa, và
PGS.TS Nguyễn Văn Áng (đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2004); Phát triển kinh tế tư nhân ở Hà Nội (Nguyễn Minh Phong
và phát hiện những vấn đề đang đặt ra dưới góc độ quản lý nhà nước.
- Đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả, tăng
cường hiệu lực của quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân ở
Hà Nội, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dưới góc độ kinh tế chính trị và trong chừng
mực nhất định, có tham khảo cách tiếp cận của kinh tế học phát triển.
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử làm cơ sở phương pháp luận nghiên cứu, đồng thời sử dụng các
phương pháp của kinh tế học, khoa học quản lý…, từ đó hình thành cách
tiếp cận tổng hợp để giải quyết vấn đề. Những nội dung cụ thể của đề tài
được giải quyết thông qua việc áp dụng các công cụ nghiên cứu khoa
học truyền thống, như tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê và phương
pháp chuyên gia, kế thừa khoa học, v.v…
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 8
Đối tƣợng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề
quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân trên địa bàn Hà Nội,
giới hạn trong 20 năm đổi mới (1986-2005).
6. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
- Góp phần làm rõ hơn thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở Hà
Nội và những vấn đề đặt ra dưới góc độ quản lý nhà nước, bổ sung cơ sở
khoa học cho việc nhìn nhận, đánh giá về phát triển kinh tế tư nhân ở Hà
Nội trong 20 năm đổi mới.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả của
quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân ở Hà Nội. Những giải
pháp này có thể tham khảo, vận dụng ở các tỉnh, thành phố khác trong
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
ĐỐI VỚI KINH TẾ TƢ NHÂN
1.1. Khái niệm và đặc điểm của kinh tế tƣ nhân
1.1.1. Quan niệm chung về kinh tế tư nhân
Kinh tế tư nhân là những hình thức kinh tế hình thành và phát triển
trên cơ sở chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Loại hình kinh tế
này ra đời khá sớm trong lịch sử. Tuy nhiên, cho đến nay, ở nước ta vẫn
còn chưa thống nhất trong quan niệm về kinh tế tư nhân. Có quan điểm
đồng nhất kinh tế tư nhân với kinh tế ngoài quốc doanh; theo đó, một
doanh nghiệp sẽ được coi là ngoài quốc doanh nếu như tư nhân nắm giữ
trên 50% cổ phiếu. Khu vực kinh tế này bao gồm các loại hình: kinh tế
cá thể của nông dân, thợ thủ công và tiểu thương; kinh tế tư bản tư nhân;
kinh tế tư nhân trong kinh tế nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài (nếu thuộc sở hữu tư nhân).
Trong Niên giám thống kê năm 2004, Tổng cục Thống kê đã phân
chia các thành phần kinh tế ở nước ta gồm: kinh tế nhà nước; kinh tế 10
ngoài nhà nước, trong đó có: kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế cá
thể; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài được tách riêng. Trong khi đó,
quan điểm khác lại xếp kinh tế có 100% vốn nước ngoài cũng thuộc kinh
tế tư nhân (nếu thuộc sở hữu tư nhân).
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khoá IX xác định: "Kinh tế tư nhân gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh
tế tư bản tư nhân, hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các
loại hình doanh nghiệp của tư nhân…" [26, tr.55]. Kinh tế tư nhân ở đây
được hiểu bao gồm cả kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân.
Tính chất và trình độ của kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư
nhân là khác nhau nhưng có mối liên hệ với nhau. Xét về mặt quan hệ sở
và công ty hợp danh được thành lập theo Luật Doanh nghiệp. Những chủ
doanh nghiệp tư nhân dù bỏ nhiều vốn kinh doanh, thuê nhiều lao động
nhưng vẫn là những người lao động trực tiếp, trực tiếp quản lý doanh
nghiệp nhằm làm giàu cho mình và cho xã hội. Thực chất họ vẫn là
những tiểu chủ ở những mức độ khác nhau, trình độ khác nhau. Quan hệ
giữa người bỏ vốn kinh doanh hợp pháp với người làm công ăn lương
không còn là quan hệ cưỡng bức giữa người bóc lột và người bị bóc lột,
mà là quan hệ hợp tác tự nguyện giữa người có vốn kinh doanh với
người có sức lao động nhưng không có vốn. Cho nên, ở nước ta hiện
nay, có nhìe ý kiến cho rằng không nên dùng thuật ngữ kinh tế tư bản tư
nhân, mà chỉ nên dùng thuật ngữ kinh tế tư nhân, bao gồm cả kinh tế cá
thể, kinh tế tiểu chủ, công ty tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công
ty cổ phần mà không có cổ đông là Nhà nước [46, tr.164. Trong luận văn
này, khái niệm kinh tế tư nhân được hiểu theo cách phân loại tại Nghị
quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX: 12
"kinh tế tư nhân gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân,
hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh
nghiệp tư nhân" [26, tr.55].
Bản chất của kinh tế tư nhân là một loại hình tổ chức kinh tế hình
thành và phát triển dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất
và kết quả của sản xuất. Trong đó, các chủ thể của nó tự chủ tiến hành
sản xuất-kinh doanh vì lợi ích trực tiếp của cá nhân hay tập thể hoạt
động dưới những hình thức kinh tế khác nhau, dù có hay không thuê lao
động.
Vì thế, có thể hiểu kinh tế tư nhân là kinh tế được hình thành và
phát triển dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và lợi ích cá nhân
[43, tr. 11]. Để xác định bản chất của kinh tế tư nhân phải xét trên cả 3
tất yếu. Chủ doanh nghiệp có quyền quyết định phân phối trong doanh
nghiệp, được toàn quyền sử dụng lợi nhuận sau thuế và các nghĩa vụ xã
hội khác cho chi tiêu cá nhân hay tích lũy để đầu tư mở rộng sản xuất,
kinh doanh.
Nguyên tắc hoạt động của kinh tế tư nhân: tự bỏ vốn, tự tổ chức và
tự chủ trong sản xuất - kinh doanh; lời ăn, lỗ chịu. Doanh nghiệp tư nhân
luôn gắn lợi ích với kết quả hoạt động; hay nói cách khác, là hoạt động
vì động cơ lợi nhuận. Đây là một cơ chế hoạt động mang tính khách
quan, là đặc trưng chung của kinh tế tư nhân, và cũng chính do có đặc
điểm này mà kinh tế tư nhân có nhiều ưu thế trong cạnh tranh.
Ở Việt Nam, kinh tế tư nhân là một bộ phận cơ hữu của nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự phát triển của kinh tế tư nhân
được định hướng xã hội chủ nghĩa thông qua đường lối, chính sách, pháp
luật của Việt Nam. Thông qua Nhà nước, sự phát triển kinh tế tư nhân
được điều tiết theo vùng, theo lĩnh vực. 14
1.1.2. Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Việc giải thích vai trò của khu vực kinh tế tư nhân được căn cứ vào
những ưu thế vốn có, xuất phát từ bản chất và đặc điểm của khu vực kinh
tế này. Đó là khu vực kinh tế có động lực kinh tế mạnh mẽ, dễ thay đổi
để thích nghi với những yêu cầu thường xuyên biến động của thị trường
nên có sức sống mãnh liệt. Thực tế đã chứng minh vai trò quan trọng của
khu vực kinh tế này, thể hiện cụ thể là:
1.1.2.1. Thu hút các nguồn lực trong dân cƣ vào sản xuất, kinh
doanh, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế đất nƣớc.
Sự thừa nhận và bảo hộ về luật pháp đối với các hình thức sở hữu
và tổ chức kinh tế tư nhân đã làm cho khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta
càng tăng. Các doanh nghiệp tư nhân ra đời ngày càng nhiều, hoạt động
kinh doanh đa dạng, đưa vào kinh doanh những nguồn lực đầu tư ngày
càng lớn đã làm cho quá trình chuyển dịch kinh tế diễn ra mạnh mẽ, thúc
đẩy cạnh tranh giữa các ngành và quan trọng hơn cả là đã có những đóng
góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Vốn đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân đã đóng vai trò quan
trọng, thậm chí là nguồn vốn đầu tư chủ yếu đối với phát triển kinh
tế của nhiều địa phương. Ví dụ, đầu tư của các doanh nghiệp tư
nhân năm 2002 ở Thành phố Hồ Chí Minh đã chiếm 38% tổng số
vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn [4]. Khu vực kinh tế tư nhân
của thành phố Hồ Chí Minh đã thực sự trở thành động lực tăng
trưởng chính của kinh tế Thành phố từ năm 2002 đến nay. Năm
2000 vốn đầu tư của khu vực kinh tế này chỉ chiếm 22%, vốn đầu
tư của khu vực kinh tế nhà nước là 48% thì đến năm 2005, các tỷ
lệ trên đã thay đổi là 52% và 36%.
Với sự phát triển nhanh chóng trong những năm qua, khu vực kinh
tế tư nhân đã chiếm tỷ trọng cao và đóng góp ngày càng lớn đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta. Xét trên phạm vi toàn quốc, hiện 2
Theo số liệu đăng trên Thời báo Kinh tế Việt Nam số 152, ngày 2-8-2005, vốn đầu tư của
khu vực kinh tế tư nhân năm 2004 ước đạt 69,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 26,9% tổng vốn đầu tư
toàn xã hội, cao hơn tỷ trọng 17,1% của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
16
nay khu vực kinh tế tư nhân đang tạo ra trên 20% GDP và đóng góp trên
30% tổng thu ngân sách nhà nước hàng năm.
1999
131.170,9
76.958,1
31.542,0
22.670,8
2000
151.183,0
89.417,5
34.593,7
27.171,8
2001
170.496,0
101.973,0
38.512,0
30.011,0
2002
199.104,5
112.237,6
52.111,8
34.755,1
2003
231.616,2
125.127,6
68.688,6
37.800,0
2004
275.000,0
147.500,0
84.900,0
42.600,0
17,6 17
2002
100,0
56,3
26,2
17,5
2003
100,0
54,0
29,7
16,3
2004
100,0
53,6
30,9
15,5
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Niên giám Thống kê 2004, Nxb Thống
kê, H, 2005
1.1.2.2. Tạo công ăn việc làm, góp phần thúc đẩy sự hình thành,
phát triển thị trƣờng lao động
Một trong những đóng góp nổi bật nhất của kinh tế tư nhân là đã tạo
thêm được nhiều việc làm, thu hút ngày càng nhiều lực lượng lao động
xã hội, cải thiện đời sống dân cư. Kinh tế tư nhân có thể tận dụng tài sản
của các hộ gia đình như đất đai, nhà ở vào sản xuất kinh doanh; sử dụng
lao động nhàn rỗi một cách linh hoạt, hợp lý; dễ thay đổi để thích nghi
với sự biến đổi của thị trường.
3
Trong hơn một thập kỷ gần đây, sự
phát triển của kinh tế tư nhân còn có tác dụng thúc đẩy nhanh sự chuyển
dịch cơ cấu lao động vốn đang rất mất cân đối ở Việt Nam.
Nếu chỉ tính riêng vấn đề giải quyết việc làm, thu hút lao động thất
nghiệp thì kinh tế tư nhân đã giải quyết tốt hơn các khu vực kinh tế
khác
4
. Lực lượng lao động làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân có xu
hướng ngày càng tăng. Cơ chế linh hoạt của kinh tế tư nhân trong việc
tuyển chọn và đào thải nhân công không những đã có tác dụng thúc đẩy
thị trường lao động phát triển mà còn trở nên ngày càng năng động. Hơn 3
Công ty trách nhiệm hữu hạn Đỉnh Vàng (Hải Phòng): 6.500 người lao động, Công ty trách
nhiệm hữu hạn Kim Anh (Sóc Trăng) 3.400 lao động
4
Điều tra của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương cho thấy đối với các
doanh nghiệp tư nhân cần trung bình 70 đến 100 triệu vốn đầu tư để tạo ra được
một chỗ làm việc; trong khi đó đối với doanh nghiệp nhà nước, thì số tương ứng là
từ 210 đến 280 triệu.
19
nữa, kinh tế tư nhân là loại hình phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất hiện nay và có khả năng khai thác tốt các tiềm năng này.
1.1.2.3. Tạo ra sự cạnh tranh và góp phần nâng cao hiệu quả huy
về sở hữu và lợi ích làm cho họ tâm huyết hơn, phát huy được mọi tiềm
lực trong hoạt động. Đây là lợi thế mà khu vực kinh tế nhà nước không
có được.
Hai là, tính tự chủ trong phân phối của kinh tế tư nhân đã tạo ra ưu
thế kép: một mặt, tạo động lực mạnh mẽ cho kinh tế tư nhân phát triển-
năng động, sáng tạo để gia tăng hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp cũng
là tăng lợi ích cho chính mình; mặt khác, dùng phân phối để khuyến
khích nhân viên làm việc (chế độ trả lương, thưởng trong doanh nghiệp
tư nhân thường linh hoạt, hiệu quả). Hiệu quả kinh doanh của các doanh
nghiệp tư nhân cao hơn doanh nghiệp nhà nước
5
.
Sự hình thành và phát triển của khu vực kinh tế tư nhân đã tạo nên
cơ chế cạnh tranh giữa các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa. Với những ưu thế như tính hiệu quả cao,
sức sống mãnh liệt, dễ thay đổi để thích nghi với những biến động của
thị trường, trong những năm qua, khu vực kinh tế tư nhân cũng có tốc độ
tăng trưởng cao hơn các khu vực kinh tế khác. (xem biểu 1.2. tr. 20).
Cùng với sự phát triển của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài,
việc khu vực kinh tế tư nhân ngày càng phát triển và mở rộng phạm vi
hoạt động trong nhiều ngành nghề đã buộc các doanh nghiệp nhà nước,
hợp tác xã phải đổi mới để cạnh tranh, đồng thời góp phần xóa bỏ dần sự 5
Kết qủa điều tra do Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội tiến hành về tiền lương
trong khối doanh nghiệp trong năm 2005 cho thấy: trong khối doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài 1 đồng lương tạo ra 1,1 đồng lợi nhuận, khối doanh nghiệp tư nhân là 0,5 đồng,
khối doanh nghiệp nhà nước là 0,3 đồng.
106,36
106,84
- Kinh tế tập thể
105,46
103,24
104,91
103,43
103,83
- Kinh tế tư nhân
109,70
113,43
112,92
110,20
111,90
- Kinh tế cá thể
103,88
105,49
116,07
106,06
106,15
Khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài
111,14
107,21
107,16
110,52
111,09
Nguồn: Tổng cục Thống kê: Niên giám Thống kê 2004, Nxb
Thống kê, Hà Nội, 2005
Tóm lại, sự hồi sinh và phát triển mạnh mẽ của kinh tế tư nhân ở
Việt Nam trong 20 năm đổi mới đã khẳng định những vai trò to lớn của
khu vực kinh tế này trong nền kinh tế nhiều thành phần. Khu vực kinh tế
tư nhân đã có những đóng góp quan trọng về nhiều mặt vào sự phát triển
của đất nước. Song bên cạnh đó, vì nhiều nguyên nhân khách quan và
chủ quan, khu vực kinh tế tư nhân còn bộc lộ nhiều hạn chế, nổi bật là:
- Hầu hết các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất-kinh doanh trong khu
vực kinh tế tư nhân mới được thành lập; hơn 90% là các doanh nghiệp
vừa và nhỏ, thiếu kinh nghiệm quản lý, vốn ít, yếu kém về thiết bị, công 23
nghệ, do vậy khả năng cạnh tranh kém; đồng thời hiệu quả kinh tế chưa
cao.
- Đa số doanh nghiệp tư nhân tập trung ở đô thị, chưa có ảnh
hưởng trực tiếp đến các vùng nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng
xa.
6
- Cơ cấu ngành nghề kinh doanh còn bất hợp lý, tập trung nhiều ở
các ngành thương mại, dịch vụ. Thiếu sự liên kết, hợp tác trong nội bộ
khu vực kinh tế tư nhân cũng như giữa khu vực kinh tế tư nhân với các
khu vực kinh tế khác.
- Tính tự phát và các mặt tiêu cực trong hoạt động của khu vực kinh
tế tư nhân gây không ít khó khăn cho công tác quản lý của Nhà nước.
Biểu hiện cụ thể: một số doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể vi phạm
pháp luật, kinh doanh trái phép; trốn, lậu thuế; chưa thực hiện đúng Luật
Doanh nghiệp và các quy định về đăng ký kinh doanh; nhiều đơn vị chưa
thực hiện tốt những quy định của pháp luật về lao động, hợp đồng lao
động, chế độ tiền công, bảo hộ lao động, giờ làm việc,… đối với người
Xuất phát từ quan niệm chung nêu trên về quản lý, có thể hiểu quản
lý nhà nước về kinh tế là quá trình hoạt động quản lý được thực hiện
bằng cơ quan nhà nước các cấp đối với toàn bộ đời sống kinh tế đất nước
nhằm đạt mục tiêu đã được xác định phù hợp với từng thời kỳ phát triển
đất nước. Nói cách khác, "quản lý nhà nước về kinh tế chính là sự tác
động của hệ thống quản lý hay chủ thể quản lý (Nhà nước) lên hệ thống
bị quản lý hay khách thể quản lý (nền kinh tế) nhằm đạt được các mục
tiêu đề ra" [47, tr. 15].
- Quản lý nhà nƣớc đối với kinh tế tƣ nhân
Tất cả các thành phần kinh tế, mọi chủ thể kinh doanh ở Việt Nam
đều là đối tượng quản lý của Nhà nước. Tuy nhiên, mỗi thành phần kinh
tế có tính chất sở hữu riêng, có vai trò, vị trí, đặc điểm hoạt động nhất
định, nên các hoạt động quản lý nhà nước đối với từng bộ phận kinh tế
này vừa có những nội dung và nguyên tắc chung, vừa có sự khác nhau ít
nhiều về nội dung và cách thức cụ thể. 25
Quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân có thể hiểu là các hoạt
động quản lý kinh tế được thực hiện bằng cơ quan nhà nước các cấp đối
với quá trình hoạt động của kinh tế tư nhân nhằm khuyến khích, tạo điều
kiện cho kinh tế tư nhân phát triển trong nền kinh tế thị trường thống
nhất, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội chung của đất nước.
Đối với khu vực kinh tế tư nhân, do đặc điểm cơ bản của các doanh
nghiệp tư nhân là có tính tự chủ cao dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu
sản xuất (trừ ruộng đất chỉ có quyền sử dụng) và các tài sản khác nên
quản lý của Nhà nước nhìn chung mang tính gián tiếp và quyền tự chủ
của các doanh nghiệp tư nhân cao hơn so với doanh nghiệp nhà nước.
Nhà nước vừa có vai trò là người đại diện cho quyền lợi và ý chí của các
chủ thể tham gia kinh tế tư nhân, vừa là chủ thể quản lý đối với kinh tế