Quản lý nhà nước đối với Doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn quận Hà Đông - Pdf 37

BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
TƯ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HÀ ĐÔNG – HÀ NỘI

Giảng viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
Lớp
Chuyên ngành
Niên khóa

: ThS. Vũ Thị Bích Ngọc
: Nguyễn Thị Uyên
: KH13 Kinh tế
: Quản lý nhà nước về Kinh tế
: 2012 - 2016

Hà Nội, năm 2016


LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Khoa quản lý nhà nước về Kinh tế - Học viện
Hành chính quốc giá, và sự đồng ý của Giáo viên hướng dẫn Th.s Vũ Thị
Bích Ngọc, em đã thực hiện đề tài “Quản lý nhà nước đối với các doanh
nghiệp tư nhân trên địa bàn quận Hà Đông, Hà Nội”.
Để hoàn thành bài khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn các thầy
cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên

1.2 Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân...................................................8
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân...............................8
1.2.2 Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân. .9
1.2.3 Nguyên tắc quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân...........................10
1.2.4 Phương hướng can thiệp của Nhà nước vào quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp tư nhân.................................................................................................12
1.2.5 Nội dung quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân..............................14
1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân ở một số quận,
huyện trên cả nước......................................................................................................22
1.3.1 Quận Thanh Xuân, Hà Nội................................................................................22
1.3.2 Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh...........................................................23
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho quận Hà Đông..........................................................24
Chương 2:THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH
GHIỆP TƯ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HÀ ĐÔNG, HÀ NỘI.......................26
2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội quận Hà Đông, Hà Nội...............................................26
2.1.1 Dân số................................................................................................................26
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế quận Hà Đông, Hà Nội........................................27
2.2 Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn quận Hà Đông
.....................................................................................................................................28
2.2.1 Số lượng.............................................................................................................28
2.2.2 Cơ cấu ngành nghề ...........................................................................................29
2.2.3 Quy mô lao động...............................................................................................30
2.2.4 Quy mô vốn.......................................................................................................32
2.2.5 Đóng góp của doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn quận Hà Đông....................33
2.3 Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân tại quận Hà
Đông............................................................................................................................34
2.3.1 Công tác thực thi các văn bản pháp luật liên quan đến doanh nghiệp tư nhân 34
2.3.2 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước quản lý doanh nghiệp tư nhân...................35
2.3.3 Công tác hỗ trợ tạo môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp tư nhân...........37
2.3.4 Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính...................................40


Doanh nghiệp

DNTN

Doanh nghiệp tư nhân

CBCC

Cán bộ công chức

ĐKKD

Đăng ký kinh doanh

CNH – HĐH

Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

GDP

Tổng sản phẩm trong nước

UBND

Uỷ ban nhân dân

KCN

Khu công nghiệp



PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình hình thành và phát triển kinh tế ở bất kỳ một quốc gia
nào, doanh nghiệp tư nhân cũng là một đơn vị cơ sở, một tế bào của cả nền
kinh tế, là một trong những bộ phận tạo ra tổng sản phẩm trong nước. Sự phát
triển của doanh nghiệp tư nhân sẽ giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy
động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định
vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân
sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: tạo việc làm,
xóa đói giảm nghèo,… Có thể nói vai trò của doanh nghiệp tư nhân có quyết
định sự phát triển bền vững về mặt kinh tế mà còn quyết định đến sự ổn định
và lành mạnh hóa các vấn đề xã hội.
Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân là vấn đề có nội dung
rộng, liên quan đến nhiều chủ đề. Ở nước ta hiện nay, quản lý nhà nước đối
với các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân sau đăng ký kinh
doanh là vấn đề có tính cấp thiết, đặc biệt là ở các quận, thành phố lớn. Luật
Doanh nghiệp 2014 đã đơn giản hóa thủ tục, giảm nhiều rào cản gia nhập thị
trường, Luật Đầu tư 2014 đã xóa bỏ các phân biệt đối xử giữa những nhà
đầu tư, bảo đảm hỗ trợ đầu tư. Tuy nhiên theo nhận định của nhiều nhà kinh
tế, các doanh nghiệp tư nhân hiện nay chưa phát huy được hết tiềm năng của
mình, còn gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân một phần do bản thân các
doanh nghiệp tư nhân chưa có nhiều kinh nghiệm nhất định trong nền kinh tế
thị trường, chưa đủ năng động sáng tạo trong kinh doanh. Quan trọng hơn là
hiện tại chưa có một khuôn khổ chính sách rõ ràng của Nhà nước trong việc
đưa ra những biện pháp hữu hiệu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân
phát huy hết khả năng của mình.

1

2


- Về thời gian: Nghiên cứu chủ yếu trong giai đoạn 2011 – 2015
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp để tìm hiểu hoạt động quản
lý nhà nước về doanh nghiệp tư nhân cũng như những rào cản đã cản trở tình
hình hoạt động của doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn quận Hà Đông, Hà Nội.
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kêt luận, Tài liệu tham khảo, khóa luận bao gồm
3 chương:
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
CÁC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
Chương II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC
DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HÀ ĐÔNG
Chương III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG
TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
TRÊN ĐỊA BÀN QUÂN HÀ ĐÔNG

3


CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
1.1 Khái quát về doanh nghiệp tư nhân
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp tư nhân
Khi kế hoạch Đổi mới nền kinh tế năm 1986 được thông qua, các
doanh nghiệp tư nhân ( DNTN) Việt Nam đã bắt đầu xuất hiện và giai đoạn
1986 – 1997 có thể coi là thời kỳ “ khai sinh” trong lịch sử DNTN Việt Nam

Thứ hai, DNTN phát triển góp phần thu hút một bộ phận lớn lực lượng
lao động và đào tạo nguồn nhân lực mới cho thị trường lao động.
Nhìn chung lợi thế nổi bật của DNTN là có thể thu hút một lực lượng lao
động đông đảo, đa dạng, phong phú cả về mặt số lượng cũng như chất lượng từ
lao động thủ công đến lao động chất lượng cao ở tất cả mọi vùng miền của đất
nước, ở tất cả mọi tầng lớp dân cư…. Như vậy, doanh nghiệp góp phần quan
trọng trong việc giải quyết việc làm cho một bộ phận lao động. Ngoài việc tạo
công ăn việc làm, do những đòi hỏi để đứng vững trong cạnh tranh, các doanh
nghiệp tư nhân phải luôn tìm những biện pháp tổ chức lao động, quản lý có hiệu
quả nhất, vì vậy kỹ thuật lao động được thực hiện rất nghiêm ngặt. Chính điều này
đã góp phần vào việc đào tạo nên đội ngũ lao động có kỹ năng và tác phong công
nghiệp. Đồng thời thông qua quá trình này, doanh nghiệp cũng được xem là nơi
đào tạo, rèn luyện các chủ doanh nghiệp lớn trong tương lai và là cơ sở kinh tế ban
đầu để phát triển các doanh nghiệp lớn.
Thứ ba, DNTN góp phần quan trọng thu hút vốn và sử dụng tối ưu các
nguồn lực của địa phương.
Việc thành lập các doanh nghiệp tư nhân không đòi hỏi quá nhiều vốn,
nhất là với các doanh nghiệp quy mô nhỏ. Điều đó sẽ tạo cơ hội cho đông đảo
dân cư có thể tham gia đầu tư. Mặt khác, trong quá trình hoạt động, các loại
5


hình doanh nghiệp tư nhân có thể dễ dàng huy động vốn vay dựa trên quan hệ
họ hàng, bạn bè…Chính vì vậy, việc đẩy mạnh doanh nghiệp tư nhân được
coi là phương tiện hiệu quả trong việc huy động vốn, sử dụng các khoản tiền
đang phân tán, nằm im trong dân cư thành các khoản vốn đầu tư riêng. Các
doanh nghiệp tư nhân được phân tán ở hầu hết các địa phương nên chúng có
khả năng sử dụng các tiềm năng về nguyên vật liệu, lao động và kinh nghiệm
sản xuất các ngành nghề truyền thống của địa phương.
Thứ tư, DNTN đã đóng góp vào nguồn thu ngân sách nhà nước.

quan đăng ký kinh doanh và vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của
doanh nghiệp), có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp, bán doanh nghiệp, tạm
ngừng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.
- Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân
Một tổ chức được công nhận là pháp nhân là khi có đủ các điều kiện
sau: thứ nhất, được thành lập hợp pháp; thứ hai, có cơ cấu tổ chức rõ ràng; thứ
ba, có tài sản độc lập với cá nhân tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài
sản đó; thứ tư, nhân danh mình khi tham gia quan hệ pháp luật một cách độc
lập.
Có thể thấy DNTN không thỏa mãn điều kiện thứ ba, tài sản của DNTN
không tách bạch rõ ràng với tài sản của chủ doanh nghiệp. Tài sản mà chủ
doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động kinh doanh của DNTN không phải làm
thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp. Tiêu chuẩn đầu tiên để xét
tính độc lập về tài sản của một doanh nghiệp là tài sản của doanh nghiệp đó
phải độc lập trong quan hệ với tài sản của chủ doanh nghiệp. Doanh nghiệp tư
nhân không thỏa mãn tiêu chuẩn quan trọng này, vì thế nó không hội đủ điều
kiện cơ bản để có được tư cách pháp nhân.

7


- Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn về các
khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp.
Khác với các loại hình Công ty là sự góp vốn của nhiều chủ sở hữu,
Doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp mà vốn đầu tư thuộc sở hữu
duy nhất một người là chủ doanh nghiệp tư nhân. Loại hình doanh nghiệp này
rất phù hợp với ai muốn độc lập tự chủ trong kinh doanh, tự quyết định và tự
chịu trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh của bản thân và doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán
nào.

nghiệp tư nhân
Thứ nhất, các DNTN để sản xuất kinh doanh có hiệu quả, các doanh
nhân phải giải quyết hàng loạt các vấn đề, trong đó có những vấn đề mà từng
doanh nhân riêng biệt không đủ khả năng giải quyết. Nhà nước bằng hoạt
động của mình, giúp các doanh nhân giải quyết các vấn đề sản xuất kinh
doanh tầm vĩ mô, tìm ra những nhu cầu của họ để đáp ứng.
Thứ hai, trong quá trình sản suất kinh doanh làm nảy sinh mối quan hệ
giữa các DNTN với nhau. Các doanh nghiệp đều có lợi ích riêng của mình và
họ luôn tìm mọi cách để tối đa hóa lợi ích đó, đôi khi để đạt được mục đích
của mình họ đã vi phạm đến lợi ích của người khác. Từ đó tất yếu nảy sinh ra
hiện tượng: lợi ích của cá nhân hay bộ phận này tăng lên làm thiệt hại đến lợi
ích của cá nhân khác xét trên phạm vi tổng thể nền kinh tế quốc dân. Biểu
hiện về mặt xã hội của xu hướng này là các hoạt động kinh tế chồng chéo, cản
trở nhau, sự phân bổ không hợp lý, các vấn đề chính trị xã hội phát sinh…
Bởi vậy cần có Nhà nước đứng ra làm trung gian giải quyết, cân bằng mối
quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau.

9


Thứ ba, Nền kinh tế hàng hóa vận động theo cơ chế thị trường không
thể tách rời môi trường chính trị - xã hội. Nếu môi trường chính trị không ổn
định, thường xuyên có các xung đột giữa các tầng lớp, giai cấp trong xã hội,
các quan hệ buôn bán trên thị trường không lành mạnh, mang tính chất lừa
đảo thì cơ chế thị trường sẽ không phát huy tác dụng. Từ đó dẫn đến các sai
lệch và những khuyết tật của cơ chế thị trường khó có thể khắc phục được,
làm cho xã hội chậm phát triển. Bởi vậy, đòi hỏi phải có vai trò quản lý của
Nhà nước, một tổ chức hay một doanh nghiệp dù có lớn đến đâu cũng không
thể thay thế được vai trò quản lý của Nhà nước.
Thứ tư, trong hoạt động thực tế của DNTN có nhiều vấn đề nảy sinh

do cơ quan quản lý lĩnh vực, chuyên ngành đó chịu trách nhiệm xử lý. Chấm
dứt tình trạng chồng chéo trong quản lý nhà nước đổi với doanh nghiệp của
các cơ quan Nhà nước, đảm bảo khi doanh nghiệp vi phạm pháp luật thì luôn
có một cơ quan Nhà nước có trách nhiệm xử lý. Mỗi sở, ban ngành thành phố
có chức năng, nhiệm vụ hướng dẫn DNTN thực hiện các quy định pháp luật
trong các lĩnh vực đó; xây dựng quy phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý
nhà nước của mình để doanh nghiệp vừa thuận lợi trong hoạt động sản xuất
kinh doanh, vừa đảm bảo trật tự an toàn xã hội và không xâm phạm lợi ích
của bên thứ ba; kỉểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật của doanh
nghiệp thuộc lĩnh vực mình quản lý.
Bốn là, quản lý nhà nước đối với DNTN không tách rời với các hoạt
động giám sát doanh nghiệp của các chủ thể khác, Nhà nước khuyến khích
mọi thành phần kinh tế trong xã hội, chủ sở hữu doanh nghiệp cùng tham gia
quản lý, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nhà nước
chỉ quản lý bằng pháp luật, chỉ làm những việc thuộc chức năng quản lý hành
chính nhà nước.

11


1.2.4 Phương hướng can thiệp của Nhà nước vào quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân
1.2.4.1. Xét theo mục đích can thiệp
Có 3 hướng lớn sau đây:
- Can thiệp để ngăn chặn, hạn chế các tác hại xuất phát từ hoạt động
của các doanh nhân và doanh nghiệp.
- Can thiệp để giúp đỡ các doanh nhân và doanh nghiệp sao cho họ có
thể thành đạt trong sản xuất kinh doanh, nhờ đó mà quốc gia cũng hùng mạnh
theo, theo tinh thần “dân giàu, nước mạnh”.
- Can thiệp để bảo vệ lợi ích của công dân, của cộng đồng.

- Can thiệp vào việc thực hiện các kế hoạch sản xuất kinh doanh của
họ, cụ thể là:
+ Trong việc sử dụng tài nguyên và công sản vào các quá trình kinh tế,
Nhà nước cần phải ngăn chặn các hành vi trộm cắp tài nguyên; các hành vi
khai thác một cách lãng phí các nguồn tài nguyên, các hành vi sử dụng tài
nguyên vào các hoạt động sản xuất kinh doanh không đem lại hiệu quả cao;
các hành vi lạm dụng, phá hoại, trốn phí khi sử dụng các công sản, nhằm bảo
toàn chúng.
+ Trong việc gây ô nhiễm môi trường, Nhà nước phải quan tâm đến các
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có liên quan đến việc làm ô
nhiễm môi trường. Chẳng hạn, việc lựa chọn nguyên liệu đưa vào sản xuất
sao cho ít gây ô nhiễm; việc áp dụng các phương pháp tiêu huỷ chất thải; việc
bố trí địa thế doanh nghiệp sao cho ít ảnh hưởng đến dân cư và các loại sản
xuất xung quanh…
+ Trong phân bố địa điểm sản xuất chung của doanh nghiệp cũng như
phân bố các bộ phận trong nội bộ doanh nghiệp. Trên thực tế, một số địa điểm
được các doanh nghiệp lựa chọn đem lại lợi thế cho doanh nghiệp, nhưng lại
gây ra bất lợi chung cho xã hội. Trên giác độ từng doanh nghiệp, việc bố trí
nơi làm việc có thể gây ra ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ người lao động.
13


- Nhà nước quản lý vấn đề thống nhất hoá sản phẩm, tiêu chuẩn hoá sản
phẩm và bản quyền kiểu dáng sản phẩm, vấn đề này có ý nghĩa trên nhiều
mặt. Đối với người tiêu dùng, đây là cơ sở để bảo vệ quyền lợi cho người tiêu
dùng. Đối với người sáng chế, đây là cơ sở để chống mọi hành vi ăn cắp bản
quyền sở hữu trí tuệ. Đối với xã hội nói chung, đây là biện pháp để đảm bảo
cho quá trình chuyên môn hoá được duy trì và phát triển.
- Nhà nước định hướng sự lựa chọn đối tác quan hệ của các doanh
nhân, đặc biệt là các quan hệ với người nước ngoài để ngăn ngừa được các tác

doanh nghiệp. Đây là hệ thống văn bản pháp lý có phạm vi và đối tượng điều
chỉnh rất rộng, có tác dụng tạo ra một môi trường kinh doanh chung cho mọi
hình thức doanh nghiệp, bao gồm:
- Các quy định về chế độ tài chính, kế toán đối với doanh nghiệp như:
Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Kế toán
và Thống kê. . .
- Các quy định về phá sản, cạnh tranh, đấu thầu, bảo hộ nhãn hiệu, các
thị trường đầu vào như: Luật Phá sản, Luật Cạnh tranh, Luật Thương mại,
Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Đấu thầu, Luật Đất đai…
- Các quy định về điều kiện kinh doanh (điều kiện có giấy phép hoặc
không cần giấy phép): đây là hệ thống các quy định liên tục được ban hành
mới, hoặc sửa đổi, bổ sung và nằm trong hầu hết các văn bản pháp luật có liên
quan đến hoạt động kinh doanh. Đến nay, chỉ tính riêng hệ thống quy định về
ngành, nghề kinh doanh phải có giấy phép bao gồm khoảng hơn 40 Luật,
Pháp lệnh và khoảng nhiều Nghị định hướng dẫn thi hành.
- Các quy định về thanh tra, kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính đối
với doanh nghiệp như: Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính, Luật Thanh tra
và các Nghị định hướng dẫn thi hành theo từng lĩnh vực cụ thể. . .

15


Luật Doanh nghiệp và các luật khác liên quan cùng với các văn bản
hướng dẫn thi hành đã góp phần quan trọng trong việc thiết lập một khung
pháp lý mới trong quản lý nhà nước đối với doanh nghiêp tư nhân. Có thể
thấy rằng, hệ thống văn bản pháp luật về quản lý nhà nước đối với doanh
nghiệp đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh và đồng bộ, nhất là giai đoạn
từ năm 2006 đến nay. Việc nhà nước có trách nhiệm không ngừng hoàn thiện
các quy phạm pháp luật kinh doanh sao cho cởi mở, minh bạch và có thể dự
báo sẽ vừa có tác dụng định hướng và quản lý thống nhất doanh nghiệp, vừa

với doanh nghiệp tư nhân trong phạm vi ngành, lĩnh vực thuộc chức năng,
nhiệm vụ của mình, ban hành các văn bản hướng dẫn quy phạm pháp luật
theo thẩm quyền.
- UBND cấp tỉnh, thành phố thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối
với doanh nghiệp ở địa phương, tổ chức thực hiện quản lý nhà nước đối với
doanh nghiệp tư nhân theo ngành, lĩnh vực trên địa bàn theo thẩm quyền.
- UBND cấp huyện, cấp xã tổ chức thực hiện quản lý nhà nước đối
với doanh nghiệp tư nhân sau đăng ký thành lập trên địa bàn theo thẩm
quyền phân cấp hành chính và từng lĩnh vực cụ thể có liên quan. Như vậy,
trong lĩnh vực quản lý hành chính, UBND các cấp là cơ quan thực hiện
chức năng quản lý nhà nước có quan hệ trực tiếp hàng ngày đối với mọi
loại hình doanh nghiệp.

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status