ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGUYỄN XUÂN PHƢƠNG
TÁC ĐỘNG ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI
CỦA NHẬT BẢN ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
TÁC ĐỘNG ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI
CỦA NHẬT BẢN ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
VIỆT NAM
Chuyên ngành : Kinh tế thế giới & Quan hệ kinh tế quốc tế
Mã số : 60 31 07 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
2.2.2. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế 47
2.2.3. Phát triển nguồn nhân lực 51
2.2.4. Thúc đẩy chuyển giao công nghệ 53
2.2.5. Đóng góp vào ngân sách nhà nước và các cân đối vĩ mô 55
2.2.6. Tiếp cận và mở rộng thị trường và quan hệ đối ngoại 55
2.2.7. Một số tác động tiêu cực tới sự phát triển kinh tế Việt Nam 57 CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT HUY NHỮNG TÁC ĐỘNG TÍCH
CỰC VÀ HẠN CHẾ TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA NGUỒN VỐN ĐẦU
TƢ TRỰC TIẾP TỪ NHẬT BẢN VÀO VIỆT NAM 62
3.1. Chủ trƣơng của Nhà nƣớc đối với đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 62
3.2. Giải pháp phát huy những tác động tích cực của đầu tƣ trực tiếp
nƣớc ngoài từ Nhật Bản 66
3.2.1. Hoàn thiện hệ thống luật pháp và cải cách hành chính 67
3.2.2. Nâng cấp kết cấu hạ tầng, giao thông 70
3.2.3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 72
3.2.4. Sắp xếp hợp lý danh mục kêu gọi đầu tư 74
3.2.5. Phát triển ngành công nghiệp phụ trợ 76
3.3. Giải pháp hạn chế những tác động tiêu cực của đầu tƣ trực tiếp
nƣớc ngoài từ Nhật Bản 80
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
i
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
11
IMF
Quỹ tiền tệ quốc tế
12
JETRO
Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản
13
JICA
Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản
14
ODA
Hỗ trợ phát triển chính thức
15
OECD
Tổ chức hợp tác & phát triển kinh tế
16
SIDA
Tổ chức hợp tác phát triển quốc tế Thụy Điển
17
UNCTAD
Diễn đàn thương mại & phát triển Liên hiệp quốc
18
WB
Ngân hàng thế giới
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Số hiệu
iii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
STT
Số hiệu
Nội dung
Trang
1
Biểu đồ 2.1
Vốn FDI của Nhật Bản vào Việt Nam
23
2
Biểu đồ 2.2
GDP của Việt Nam
34
3
Biểu đồ 2.3
Cơ cấu kinh tế tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2000
- 2010 (%)
43 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thế giới đang ngày càng trở nên “phẳng” hơn, quá trình hội nhập và phụ
thuộc lẫn nhau của các quốc gia trên thế giới cũng ngày càng trở nên sâu sắc
trở thành địa chỉ đầu tư hấp dẫn không chỉ đối với Nhật Bản và các nước
trong khu vực mà còn đối với các nước khác trên toàn thế giới, hướng tới mục
tiêu phát triển kinh tế trong tương lai mà Chính phủ đã đề ra.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan tới đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, cụ thể là nghiên
cứu về nguồn vốn đầu tư trực tiếp của Nhật Bản, đã có rất nhiều những
nghiên cứu được thực hiện. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu đi theo
hướng phân tích thực trạng tình hình đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam bằng
phương pháp định tính hoặc định lượng, sau đó đưa ra một số giải pháp và
nhận định để thu hút đầu tư. Rất ít những nghiên cứu đi vào phân tích cụ thể
các tác động đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các yếu tố tạo nên sự phát
triển kinh tế của Việt Nam.
“Foreign Direct Investment, Trade, and Vietnam’s Interdependence in
the APEC Region” do Mai Fujita (Trung tâm nghiên cứu APEC) viết năm
1999. Bài nghiên cứu tập trung vào những lợi ích mà đầu tư trực tiếp nước
ngoài, đặc biệt là từ các nước trong APEC, trong đó có Nhật Bản, có thể đóng
góp cho nền kinh tế Việt Nam. Ngoài ra, tác giả cũng đưa ra ý kiến để Việt
Nam có thể thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hiệu quả
hơn, bao gồm cả nguồn vốn từ các nước APEC. Do phạm vi phân tích bao
gồm nhiều nước trong APEC nên những số liệu và lý luận riêng về FDI của
Nhật Bản chưa được phong phú.
3
Nghiên cứu của Nguyễn Phi Lan, Centre for Regulation and Market
Analysis University of South Australia mang tên “Foreign direct investment
and its linkage to growth in Vietnam: A provincial level analysis” năm 2006.
Câu hỏi mà nghiên cứu này đặt ra là mối quan hệ tác động hai chiều giữa FDI
và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Nghiên cứu phân tích dòng vốn FDI của
các nước đổ vào Việt Nam, đặc biệt là từ Nhật Bản và điều tra những ảnh
hưởng tới tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu khá chuyên sâu nhưng mới dừng ở
tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản vào Việt Nam, đồng thời phân tích thực
trạng đầu tư và đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường thu hút và nâng cao
hiệu quả nguồn vốn này. Đề tài là nguồn tham khảo đáng chú ý, nhưng trên
phạm vi thực trạng đầu tư, không có nhiều mối liên quan tới phát triển kinh tế.
“Đặc điểm chủ yếu của FDI Nhật Bản vào Việt Nam trong những năm
gần đây” (2001) là tài liệu giảng dạy được công nhận của TS.Vũ Văn Hà (Đại
học Quốc Gia Hà Nội). Tài liệu phân tích FDI theo ngành của Nhật Bản dành
cho Việt Nam tập trung cao vào lĩnh vực công nghiệp. Về hình thức đầu tư,
Nhật Bản đầu tư dưới 3 hình thức: liên doanh, 100% vốn nước ngoài và hợp
đồng hợp tác kinh doanh. Tài liệu cung cấp cái nhìn tổng quan về phân loại
các hình thức đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam, không đi sâu về
vấn đề các tác động tích cực và tiêu cực.
Luận án Tiến sĩ Kinh tế “Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam”
của nghiên cứu sinh Phan Văn Tâm, chuyên ngành Quản lý kinh tế, mã số
62.34.01.01 (năm 2011). Luận án nghiên cứu về đầu tư trực tiếp của Nhật Bản
vào Việt Nam trên khía cạnh các nhân tố tác động tới nguồn vốn đầu tư này.
Tác giả dùng phương pháp phân tích thực nghiệm để tìm ra những tác động
tích cực cũng như tác động tiêu cực của FDI Nhật Bản đối với nền kinh tế
Việt Nam nói chung, không đi sâu vào phạm vi liên quan tới phát triển kinh tế.
5
Trên đây là một số công trình nghiên cứu của các tác giả có liên quan tới
đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, bao gồm đầu tư của Nhật Bản. Có thể nói,
các công trình nghiên cứu này đều rất có giá trị, đặc biệt là về việc cung cấp
thực tiễn đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam cũng như đưa ra những
gợi ý chính sách.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn nhằm nghiên cứu phân tích những tác động của
đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Nhật Bản vào sự phát triển kinh tế Việt Nam từ
+ Phương pháp phân tích, thống kê và tổng hợp các số liệu, dữ liệu liên
quan tới tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, cơ cấu kinh tế
theo ngành, theo thành phần, chất lượng nguồn nhân lực, v.v…
+ Phương pháp so sánh: Phương pháp này dựa trên cơ sở đánh giá so
sánh những tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Nhật Bản giữa các
thời kỳ có sự thay đổi như thế nào đối với sự phát triển của nền kinh tế Việt
Nam.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Trên cơ sở thực hiện nhiệm vụ của đề tài, luận văn có những đóng góp:
+ Phân tích và làm sáng tỏ những lý luận về các yếu tố đo lường sự
phát triển kinh tế và tính tất yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như tác
động của nó tới sự phát triển của một nền kinh tế.
7
+ Đánh giá những tác động tích cực và mặt hạn chế của đầu tư trực tiếp
nước ngoài từ Nhật Bản đến sự phát triển kinh tế Việt Nam từ năm 2000 tới
nay.
+ Đưa ra một số gia
̉
i pha
́
p và gợi ý chính sách cho Việt Na m để phát
huy tính tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của nguồn vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài từ Nhật Bản.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được chia thành ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phát triển kinh tế và đầu tư trực tiếp nước
ngoài
Chương 2: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Nhật Bản tới sự phát
Thứ ba, những tiến bộ kinh tế - xã hội chủ yếu phải xuất phát từ động
lực nội tại. Đến lượt mình kết quả của những tiến bộ kinh tế đạt được lại làm
9
gia tăng không ngừng năng lực nội sinh của nền kinh tế (thể hiện ở những tiến
bộ về công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và nguồn vốn…).
Thứ tư, đạt được sự cải thiện sâu rộng chất lượng cuộc sống của mọi
thành viên trong xã hội là hàng đầu và là kết quả của sự phát triển. Đương
nhiên một kết quả như thế không chỉ là sự ra tăng thu nhập bình quân đầu
người, mà đằng sau nó còn cần khắc phục những sự phân phối bất bình đẳng,
nạn đói nghèo, thất nghiệp và những thụ hưởng khác về giáo dục, y tế, văn
hoá…
Cũng theo lý thuyết tăng trưởng và phát triển kinh tế của kinh tế học
phát triển: Phát triển kinh tế là khái niệm có nội dung phản ánh rộng hơn so
với khái niệm tăng trưởng kinh tế. Nếu như tăng trưởng kinh tế về cơ bản chỉ
là sự gia tăng thuần tuý về mặt lượng của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: GNP,
GNP/đầu người hay GDP, GDP/đầu người… thì phát triển kinh tế ngoài việc
bao hàm quá trình gia tăng đó, còn có một nội hàm phản ánh rộng lớn hơn,
sâu sắc hơn, đó là những biến đổi về mặt chất của nền kinh tế – xã hội, mà
trước hết là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa và kèm theo đó là việc không ngừng nâng cao mức sống toàn dân,
trình độ phát triển văn minh xã hội thể hiện ở hàng loạt tiêu chí như: thu nhập
thực tế, tuổi thọ trung bình, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh, trình độ dân trí, bảo vệ
môi trường, và khả năng áp dụng các thành tựu khoa học – kỹ thuật vào phát
triển kinh tế – xã hội…
Phát triển kinh tế theo chiều rộng là phát triển kinh tế bằng cách tăng số
lượng lao động, khai thác thêm các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tăng thêm
tài sản cố định và tài sản lưu động trên cơ sở kĩ thuật có trước. Trong điều
kiện một nước kinh tế chậm phát triển, những tiềm năng kinh tế chưa được
khai thác và sử dụng hết, nhất là nhiều người lao động chưa có việc làm thì
11
kinh tế, văn hoá, xã hội…Tuy nhiên như đã biết, trong khoảng hơn hai thập
niên vừa qua, do xu hứớng hội nhập, khu vực hoá, toàn cầu hoá phát triển
ngày càng mạnh mẽ hơn nên đã nảy sinh nhiều vấn đề dù là ở phạm vi từng
quốc gia, lãnh thổ riêng biệt, song lại có ảnh hưởng chung đến sự phát triển
của cả khu vực và toàn thế giới, trong đó có những vấn đề cực kỳ phức tạp,
nan giải đòi hỏi phải có sự chung sức của cả cộng đồng nhân loại, ví dụ như:
môi trường sống, thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, khủng bố… Từ đó đòi hỏi
sự phát triển của mỗi quốc gia, lãnh thổ và cả thế giới phải được nâng lên tầm
cao mới cả về chiều rộng và chiều sâu của sự hợp tác, phát triển. Thực tiễn đó
đã thúc đẩy sự ra đời một khái niệm mới về phát triển mang nội hàm phản ánh
tổng hợp hơn, toàn diện hơn tất cả các khái niệm về tăng trưởng kinh tế, phát
triển kinh tế…, đó là khái niệm phát triển bền vững.
1.1.2. Các yếu tố đo lƣờng sự phát triển của một nền kinh tế
Phát triển kinh tế bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự
hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, và bảo đảm công bằng xã hội. Nội
dung của phát triển kinh tế bao gồm:
Sự tăng lên của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc
dân (GNP) và tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người. Sự tăng trưởng
kinh tế hay gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế này phải diễn ra
trong một thời gian tương đối dài và ổn định. Đó là các chỉ tiêu phản ánh quy
mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm hay của một giai đoạn nhất định
như tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng bình quân đầu
người. Các chỉ tiêu này có thể tính cho cả nền kinh tế hay theo bình quân đầu
người.
Sự biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, thể hiện ở tỷ trọng các
ngành dịch vụ và công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân tăng lên, còn tỷ
12
nữa, khái niệm phát triển ngày nay được nhìn nhận một cách đầy đủ, toàn
diện hơn. Ngoài chỉ số về tăng trưởng kinh tế và một vài chỉ số khác, phát
triển còn bao hàm nhiều chỉ số quan trọng khác về những giá trị văn hoá và
nhân văn, như chỉ số hạnh phúc chẳng hạn. Có các chỉ tiêu phản ánh sự phát
triển con người như mức sống, dân trí, giáo dục, tuổi thọ bình quân và chăm
sóc sức khỏe, dân số, việc làm, phát triển con người
Đối với nước ta, phát triển kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội,
nâng cao dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ và cải
thiện môi trường; khuyến khích làm giàu hợp pháp, đi đôi với xoá đói, giảm
nghèo…Những nhiệm vụ ấy phải được thực hiện ngay trong từng bước đi của
quá trình phát triển.
Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế bao gồm:
Lực lượng sản xuất: trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, công nghệ
hiện đại, trình độ con người càng cao thúc đẩy phát triển kinh tế càng nhanh.
Quan hệ sản xuất: sẽ thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững khi quan
hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất,
ngược lại sẽ cản trở, kìm hãm sự phát triển kinh tế.
Kiến trúc thượng tầng: mỗi yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng có sự tác
động khác nhau đối với sự phát triển kinh tế. Như pháp luật tác động trực tiếp,
trong khi đó tư tưởng, đạo đức tác động gián tiếp. Ảnh hưởng sâu sắc nhất là
chính trị.
Giữa tăng trưởng và phát triển kinh tế có mối quan hệ: tăng trưởng chưa
phải là phát triển, song tăng trưởng là cơ sở nền tảng của phát triển. Không
thể nói phát triển kinh tế mà trong đó không có tăng trưởng kinh tế.
14
1.2. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài và tác động của đầu tƣ trực tiếp nƣớc
ngoài tới sự phát triển kinh tế
1.2.1. Khái niệm đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài được Tổ chức Thương mại Thế giới WTO
cổ phiếu thường hoặc có quyền biểu quyết. Điểm mấu chốt của đầu tư trực
tiếp là chủ định thực hiện quyền kiểm soát công ty”. Tuy nhiên không phải tất
cả các quốc gia nào cũng đều sử dụng mức 10% làm mốc xác định FDI.
Trong thực tế có những trường hợp tỷ lệ sở hữu tài sản trong doanh nghiệp
của chủ đầu tư nhỏ hơn 10% nhưng họ vẫn được quyền điều hành quản lý
doanh nghiệp, trong khi nhiều lúc tỷ lệ này lớn hơn 10% nhưng vẫn chỉ là
người đầu tư gián tiếp.
Các nước đang phát triển lại sử dụng khái niệm đầu tư nước ngoài chỉ
với nội dung là đầu tư trực tiếp, như việc đưa bất động sản, vốn, thiết bị vào
xây dựng, mở rộng sản xuất, kinh doanh. Điều này đã loại trừ hình thức đầu
tư gián tiếp. Đối với các nước này, đầu tư trực tiếp đem lại cho họ nguồn vốn,
kỹ thuật hiện đại thay thế kỹ thuật lạc hậu hiện có, nâng cao mức sống và tăng
thu nhập quốc dân. Với đầu tư gián tiếp, họ cũng tiếp nhận được vốn. Nhưng
một phần vì không có những kế hoạch sử dụng vốn có hiệu quả, bên cạnh đó
là khả năng quản lý kém và trình độ sản xuất kinh doanh lạc hậu nên khả năng
thành công, và thu được lợi nhuận từ nguồn vốn này không cao. Do đó, việc
tăng cường thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là phù hợp với
hoàn cảnh và điều kiện của các nước đang phát triển. Chính sách này đã và
đang là hình thức phổ biến trong chính sách “mở cửa nền kinh tế” của nhiều
nước, trong đó có Việt Nam.
16
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đưa ra khái niệm:
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt
Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kì tài sản nào được chính phủ Việt
Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí
nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định
của luật này”.
Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực
tiếp nước ngoài như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là loại hình
- FDI là sự gặp gỡ về nhu cầu của một bên là nhà đầu tư và bên kia là
nước tiếp nhận đầu tư.
Theo Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam, đầu tư trực tiếp nước ngoài
có các hình thức:
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là doanh nghiệp do chủ đầu tư
nước ngoài bỏ 100% vốn tại nước sở tại, và có quyền điều hành toàn bộ hoạt
động của doanh nghiệp theo quy định, pháp luật của nước sở tại.
- Doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp được thành lập do các chủ
đầu tư nước ngoài góp vốn chung với doanh nghiệp nước sở tại trên cơ sở hợp
đồng liên doanh. Các bên tham gia điều hành doanh nghiệp, chia lợi nhuận và
chịu rủi ro theo tỷ lệ góp vốn của mỗi bên vào vốn điều lệ. Phần góp vốn của
bên nước ngoài không được ít hơn 30% vốn pháp định.
- Hình thức hợp đồng, hợp tác kinh doanh: đây là một văn bản được kí
kết giữa một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư trong nước để tiến
hành một hay nhiều hoạt động kinh doanh ở nước chủ nhà trên cơ sở quy định
18
về trách nhiệm để thực hiện hợp đồng và xác định quyền lợi của mỗi bên,
nhưng không hình thành một pháp nhân mới.
- Các hình thức khác: ngoài các hình thức kể trên ở các nước và ở Việt
Nam, còn có các hình thức khác như hợp đồng xây dựng – kinh doanh –
chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (BTO),
hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT) nhằm khuyến khích thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài.
1.2.2. Tác động của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tới sự phát triển kinh tế
của nƣớc tiếp nhận đầu tƣ
FDI có rất nhiều tác động tới sự phát triển kinh tế của nước tiếp nhận
đầu tư. Có thể nói, đó không chỉ là những tác động về mặt ngoại giao, về mặt
kinh tế, mà nó có thể có tác động vô cùng to lớn cả về mặt xã hội, con người,
môi trường. Những tác động ấy có thể mang tính tích cực, nhưng cũng không