Xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

TRẦN XUÂN KHÁ
XUẤT KHẨU MẶT HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ
CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƢỜNG HOA KỲ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI Hà Nội – 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

TRẦN XUÂN KHÁ


1.2.1 Tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao đời sống nhân
dân 23
1.2.2 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả, thúc đẩy sản xuất
phát triển 24
1.2.3 Mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn góp phần thúc đẩy nhanh quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc 25
1.2.4 Mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại, duy trì các ngành
nghề truyền thống, tăng cƣờng giao lƣu văn hoá giữa các dân tộc 27
1.3 Kinh nghiệm thực tiễn xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Trung
Quốc và Thái Lan 27
1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 28
1.3.2 Kinh nghiệm của Thái Lan 29

CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU MẶT HÀNG THỦ CÔNG MỸ
NGHỆ CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƢỜNG HOA KỲ 31
2.1 Tình hình xuất khẩu mặt hàng TCMN của Việt Nam sang thị trƣờng Hoa
Kỳ 31
2.1.1 Thực trạng về kim ngạch xuất khẩu 31
2.2.2 Thực trạng về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu 34
2.2 Nhân tố ảnh hƣởng đến xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt
Nam sang thị trƣờng Hoa Kỳ 40
2.2.1 Các nhân tố từ thị trƣờng Hoa Kỳ 40
2.2.2 Các nhân tố nội tại ngành hàng thủ công mỹ nghệ 49
2.2.3 Các nhân tố thuộc nội tại các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu 60
2.3 Nhận xét, đánh giá hoạt động sản xuất và xuất khẩu mặt hàng TCMN sang
thị trƣờng Hoa Kỳ 64
2.3.1 Những khó khăn 64
2.3.2 Những hạn chế 67
CHƢƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU MẶT HÀNG
THỦ CÔNG MỸ NGHỆ SANG THỊ TRƢỜNG HOA KỲ 72

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

STT
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
1
BTA
Hiệp định thƣơng mại song phƣơng Việt Nam – Hoa Kỳ
2
TCMN
Thủ công mỹ nghệ
3
TPP
Hiệp định Đối tác Kinh tế chiến lƣợc xuyên Thái Bình
Dƣơng
4
WTO
Tổ chức Thƣơng mại Thế giới


iii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

STT
Số hiệu hình
TÊN BẢNG
Trang
1
Hình 1.1
Quy trình sản xuất và xuất khẩu hàng TCMN
18

1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nƣớc, Đảng và Nhà
nƣớc ta đã xác định xuất khẩu là bƣớc đột phá trong chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế xã hội. Trong những
năm qua, xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ (TCMN) đã mang lại lợi ích to
lớn không chỉ về mặt kinh tế mà còn cả về văn hóa, xã hội góp phần làm thay
đổi diện mạo của nông thôn Việt Nam. Sản phẩm thủ công mỹ nghệ là sự kết
tinh của lao động vật chất và tinh thần, nó đƣợc tạo nên bởi bàn tay tài hoa và
óc sáng tạo của ngƣời thợ thủ công với những giá trị văn hóa dân tộc có trong
các sản phẩm, hàng thủ công mỹ nghệ không còn là hàng hóa đơn thuần mà
trở thành sản phẩm văn hóa với tính nghệ thuật cao, một số đƣợc coi là biểu
tƣợng của truyền thống văn hóa dân tộc. Xuất khẩu hàng TCMN vừa đạt hiệu
quả kinh tế cao, vừa tận dụng đƣợc các nguồn lực sẵn có, tạo việc làm và thu
nhập ổn định cho một số lƣợng lao động lớn ở nông thôn và góp phần giữ gìn,
phát huy các giá trị văn hóa xã hội, bảo tồn các làng nghề truyền thống. Trong

nghiên cứu các chính sách ảnh hƣởng và biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu mặt
hàng thủ công mỹ nghệ từ Việt Nam sang Hoa Kỳ.
Nghiên cứu của Trung tâm hợp tác nghiên cứu Việt Nam và Hiệp hội
làng nghề Việt Nam, năm 2005: " Đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ truyền thống và việc xây dựng các làng nghề Việt Nam ". Đề tài này
nghiên cứu sâu về xây dựng và phát triển các làng nghề và các biện pháp đẩy
mạnh xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ nhƣng chƣa tìm hiểu và nghiên

3
cứu sâu về thị trƣờng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Hoa Kỳ, mặt khác
nghiên cứu này đã cũ không còn phù hợp với tình hình hiện tại.
Đề tài nghiên cứu của Cục xúc tiến thƣơng mại và Trung tâm thƣơng mai
quốc tế (ITC), năm 2006: "Chiến lược xuất khẩu quốc gia ngành thủ công mỹ
nghệ Việt Nam". Nghiên cứu này nhằm mục đích cung cấp những giải pháp
thực tế phục vụ công tác phát triển Ngành thủ công của Việt Nam một nghiên
cứu tổng thể về toàn bộ ngành thủ công mỹ nghệ và tập trung vào đánh giá
những yếu tố có tầm quan trọng nhất quyết định sự thành bại của tăng trƣởng
xuất khẩu, đề ra những khuyến nghị nhằm khai thác hiệu quả nhất tiềm năng
của Việt Nam, góp phần giải quyết công ăn việc làm và giảm đói nghèo.
Ngoài ra còn rất nhiều tác giả, các tổ chức và cá nhân trong và ngoài
nƣớc với các đề tài và bài viết nghiên cứu về làng nghề, phát triển làng nghề
thủ công mỹ nghệ, thực trạng, các giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu
hàng thủ công mỹ nghệ của một số doanh nghiệp xuất khẩu. Chƣa có đề tài,
bài viết, nghiên cứu nào chuyên sâu về hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ từ Việt Nam sang thị trƣờng Hoa Kỳ .
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn nhằm mục đích làm rõ thực trạng hoạt động sản xuất và xuất
khẩu hàng thủ công mỹ nghệ sang thị trƣờng Hoa Kỳ trong thời gian qua, để
đƣa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu sang thị trƣờng Hoa Kỳ trong
thời gian tới. Để đạt đƣợc mục đích nghiên cứu trên thì luận văn đặt ra những

5
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Luận văn làm rõ và phân tích vai trò của hoạt động xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ đối với nền kinh tế quốc dân.
- Đánh giá thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân của thực trạng hoạt động
xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ sang thị trƣờng Hoa Kỳ trong thời gian
vừa qua.
- Đề xuất giải pháp từ phía Nhà nƣớc và các doanh nghiệp: Khắc phục
những điểm yếu, đồng thời khuyến khích, phát huy các điểm mạnh của các cơ
sở sản xuất và doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, nhằm tăng
kim ngạch xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam sang thị
trƣờng Hoa Kỳ trong những năm tới.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn có kết
cấu thành ba chƣơng nhƣ sau:
Chƣơng 1: Đặc điểm và vai trò của xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ
đối với nền kinh tế quốc dân
Chƣơng 2: Thực trạng xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam
sang thị trƣờng Hoa Kỳ
Chƣơng 3: Các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ
sang thị trƣờng Hoa Kỳ

6
CHƢƠNG 1
ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÕ CỦA XUẤT KHẨU MẶT HÀNG THỦ
CÔNG MỸ NGHỆ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN
1.1 Đặc điểm của xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ
1.1.1 Đặc điểm của hàng thủ công mỹ nghệ
1.1.1.1 Đặc điểm chung
Hàng thủ công mỹ nghệ là mặt hàng có nhiều ƣu điểm và tính năng nổi

đó. Hàng thủ công mỹ nghệ không những là tác phẩm phục vụ cho đời sống
tinh thần hay nhu cầu thƣởng thức của xã hội mà còn là những sản phẩm vật
chất đáp ứng nhu cầu trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Chính vì vậy
mà ngày nay, hàng TCMN không chỉ có nhu cầu cao ở trong nƣớc mà các thị
trƣờng nƣớc ngoài cũng rất chú ý tới những sản phẩm này và liên tục phát
triển theo xu hƣớng hội nhập, giao lƣu văn hoá giữa các nƣớc trên thế giới.
Các đặc điểm chính của hàng thủ công mỹ nghệ:
Tính đa dạng: Thủ công mỹ nghệ là hàng hoá đƣợc sản xuất ra từ
những nguyên liệu rẻ tiền và sẵn có ở thiên nhiên. Đó là các loại nguyên liệu
có nguồn gốc từ thực vật nhƣ: vỏ cây, thân gỗ, thân sợi, các loại lá… hay các
loại nguyên liệu xuất phát từ các loại động vật nhƣ: da, ngà, sừng… Ngoài ra,
còn có các nguyên liệu lấy từ đất, đá, hay các kim loại, các phế liệu của các
ngành sản xuất khác… Sự phong phú của nguyên liệu cũng thể hiện đƣợc tính
đa dạng của sản phẩm TCMN và tạo nên những sản phẩm độc đáo. Tính đa
dạng của sản phẩm thủ công mỹ nghệ còn thể hiện ở khía cạnh văn hoá, mỗi
sản phẩm mang những nét riêng về phong tục tập quán của từng địa phƣơng

8
nơi làm ra những sản phẩm đó, làm tăng giá trị cho sản phẩm và tạo cho
khách hàng sự thích thú thấy sản phẩm. Tuy nhiên, mỗi sản phẩm hàng thủ
công mỹ nghệ của Việt Nam đều mang đậm bản sắc văn hoá Việt Nam, trong
đó chứa đựng những giá trị văn hoá tinh thần, quan niệm nhân văn, tín
ngƣỡng, tôn giáo của dân tộc. [20, tr.2]
Tính đơn chiếc: Hàng thủ công mỹ nghệ đƣợc sản xuất phân tán ở
khắp mọi nơi trong các làng nghề hay địa phƣơng, có quy mô và số lƣợng sản
xuất nhỏ. Sản phẩm TCMN chủ yếu đƣợc tạo ra từ bàn tay khéo léo và tài hoa
của các nghệ nhân, những ngƣời thợ thủ công, những lao động ở nông thôn,…
Cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội thì cho dù khoa học kỹ thuật
có phát triển và cho ra đời rất nhiều các sản phẩm máy móc hỗ trợ cho việc
sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ nhƣng cũng không thể thay thế đƣợc con

chứng cho đời sống sinh hoạt, cảnh quan thiên nhiên và phong tục tập quán
của dân tộc ta trong từng thời kì lịch sử.
Tính chất thủ công: Công nghệ để sản xuất ra những sản phẩm thủ
công mỹ nghệ này chính là sự kết giao giữa các phƣơng pháp thủ công tinh xảo
và sự sáng tạo nghệ thuật, tạo nên sự khác biệt giữa sản phẩm thủ công mỹ
nghệ và các sản phẩm công nghiệp hiện đại đƣợc tạo ra hàng loạt nhờ những
máy móc hiện đại ngày nay. Tuy nhiên đây cũng là đặc điểm làm cho hàng thủ
công mỹ nghệ ngày càng đƣợc sự ƣa chuộng hơn của ngƣời tiêu dùng.
1.1.1.2 Đặc điểm riêng của một số mặt hàng thủ công mỹ nghệ
Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ đƣợc sản xuất từ rất nhiều loại nguyên
liệu khác nhau và mỗi sản phẩm đƣợc tạo ra bằng các quy trình hoàn toàn
khác nhau, có đặc điểm riêng khác nhau. Dù thế nào các sản phẩm thủ công

10
mỹ nghệ đều có một nét chung là kết quả của lao động nghệ thuật với tay
nghề điêu luyện, trí tuệ sáng tạo độc đáo của các tay thợ tài ba.
Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam vô cùng phong phú và đa
dạng. Có thể kể đến, đó là: hàng gốm sứ, hàng đúc đồng, hàng mây tre đan,
hàng thêu ren, hàng thổ cẩm, hàng gỗ, hàng sơn mài, hàng kim hoàn, hàng
rèn, hàng đá và một số hàng nổi tiếng nhƣ nón, tranh dân gian, giấy gió ở các
làng nghề truyền thống Dƣới bàn tay khéo léo và khối óc tài hoa của những
ngƣời thợ thủ công, từ các nguyên liệu thô sơ, họ đã tạo ra những sản phẩm
không những có giá trị kinh tế mà có cả giá trị về nghệ thuật. Các mặt hàng
thủ công mỹ nghệ đƣợc sản xuất ra đã có sức thu hút lớn không chỉ với ngƣời
tiêu dùng Việt Nam mà còn đƣợc ngƣời tiêu dùng nhiều nƣớc ƣa chuộng.
Nhiều sản phẩm, mặt hàng đã đƣợc xuất khẩu ra thị trƣờng ngoài nƣớc. Dƣới
đây là một số mặt hàng thủ công mỹ nghệ có tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu
tƣơng đối lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nƣớc.
Hàng gốm sứ
Gốm sứ là loại hàng phổ biến trong cuộc sống của mọi tầng lớp dân cƣ.

Võ Lăng (Hà Tây), Lý Nhân (Hà Nam), La Xuyên (Nam Định), làng Sinh,
Kim Bồng (Quảng Nam), Nhạn Tháp (Bình Định), Phú Lộc (Ninh Bình), Bảo
Hà (Hải Phòng), Mỹ Xuyên (Huế) [41]. Trong các cơ sở nổi tiếng trên, Đồng
Kỵ là cơ sở sản xuất gỗ mỹ nghệ lớn nhất ở nƣớc ta.
Mặt hàng của đồ gỗ rất phong phú, nghề mộc là nghề phổ biến trong dân
gian. Các thợ sau khi học đƣợc nghề có tách nhóm để làm ăn ở nơi khác vì
mọi nơi đều cần đồ gỗ. Tại những nơi mới đó, ngƣời thợ vừa học, vừa làm và

12
lại có cơ hội tách nhóm. Không giống các nghề khác, nghề này đƣợc nhân
rộng rất nhanh. Quá trình lao động cần cù say mê đó đã tạo nên các lớp thợ
giỏi, sáng tạo và từ đó nhiều mẫu mã hàng mới xuất hiện. Quá trình phát triển
của nghề này gắn liền với sự ra đời của nghề điêu khắc, khảm trai. Nhiều mẫu
mã của sản phẩm đồ gỗ đƣợc lấy từ Trung Quốc, đặc biệt là các hàng gắn với
điển tích nhƣ tùng cúc trúc mai, long ly quy phƣợng, ngai thờ, các loại tƣợng,
tủ chè, sập gụ Từ các đƣờng lèo, các hoạ tiết khác thƣờng đƣợc nảy sinh
trong sáng tạo của các nghệ nhân Vì vậy, trình độ sáng tạo nhanh đƣợc nhân
lên ở các tay thợ cả, các nghệ nhân. Khi kết hợp với nghệ thuật khảm trai, ốc,
giá trị của sản phẩm đƣợc tăng lên gấp bội. Khảm trai, ốc làm nổi bật các
đƣờng nét của các tác phẩm, đặc biệt là các tác phẩm mang điển tích. Thị
trƣờng về sản phẩm gỗ mỹ nghệ lại rất rộng và triển vọng ở nƣớc ngoài. Ngày
nay nhiều khâu nặng nhọc nhƣ pha cắt gỗ, bào đƣợc cơ giới hoá làm cho
năng suất lao động nâng cao và phần quan trọng còn lại dành cho các khâu
tinh chế với tài năng sáng tạo của các nghệ nhân. Trong điều kiện khan hiếm
về nguyên liệu, ở một số sản phẩm sẽ tăng khi đƣợc đầu tƣ thoả đáng về chất
xám. Từ đó, cần có kiến thức toàn diện ở nhiều lĩnh vực cho việc tạo nên một
sản phẩm hoàn thiện hơn (tạo dáng, hoạ tiết )
Hàng thêu ren
Thêu ren là một nghề thủ công truyền thống đặc biệt ở nƣớc ta mà mọi sản
phẩm của nó đều là những tác phẩm nghệ thuật do bàn tay khéo léo của thợ thủ

Bình). Sản phẩm đƣợc bán ở các chợ và nhiều ngƣời nƣớc ngoài có mặt tại
các điểm du lịch thƣờng say sƣa ngắm nhìn và mua sắm loại sản phẩm này.
Kim khí mỹ nghệ

14
Các vật phẩm dùng để trang trí và sản phẩm quà tặng làm từ kim loại
nhƣ tƣợng nhỏ, đồ trang sức, chuông, chiêng và khung tranh. Trong số những
sản phẩm này, các vật dụng nhƣ đồ mạ bạc, đồ đồng chế tác và đồ đúc bằng
đồng thiếc đƣợc xuất khẩu. Gần đây, sản phẩm chế tác đồng đã tăng mạnh về
kim ngạch xuất khẩu, đặc biệt do sự kết hợp giữa sản phẩm đồng chế tác với
các nguyên liệu tự nhiên khác nhƣ mây, bèo tây và các nguyên liệu khác. Trên
cơ sở kết hợp nguyên liệu này, có thể tạo ra nhiều loại sản phẩm đa dạng
trong thời điểm hiện nay. Các sản phẩm đƣợc tạo ra rất đa dạng gồm: Nhẫn,
vòng tay, dây chuyền, hoa tai,… Riêng ở Việt Nam các hàng hoá đƣợc làm từ
vàng bắt nguồn từ làng Định Công (Hà Nội), nghề bạc bắt nguồn từ làng
Đồng Sâm (Thái Bình).
Giấy thủ công
Việt Nam đã có 500 năm lịch sử làm giấy thủ công. Giấy thủ công ở
Việt Nam nổi tiếng là một sản phẩm làm từ cây Dó. Thân cây đƣợc cắt xén,
ngâm nƣớc, bóc vỏ. Phần vỏ cây mềm và dẻo, đƣợc tách ra, rửa sạch, nghiền
nhỏ rồi kéo dài. Hòa phần vỏ cây đã đƣợc nghiền nhỏ vào dung dịch lỏng,
trộn thêm rễ của cây dâm bụt đã lên men để thành một chất hồ nhão. Chất hồ
này đƣợc trải đều trên chiếc sàng tre lớn, làm thành tờ giấy. Những tờ giấy
ƣớt đƣợc xếp chồng lên nhau rồi sau đó mang ra phơi khô trên những tấm gỗ
đặt dƣới ánh nắng mặt trời hoặc để trong nhà sấy khô bằng máy sấy [32].
Hoạt động sản xuất giấy thủ công gần nhƣ đã biến mất ở Việt Nam trong các
năm gần đây mặc dù nó có lịch sử phát triển hàng nghìn năm. Nguyên liệu
đƣợc sử dụng để sản xuất giấy này rất phổ biến, từ gỗ (Dó, dƣớng) tới các sợi
của chuối, dứa hay rơm, bên cạnh đó, có rất nhiều các nghệ nhân có tay nghề
cao trong sản xuất giấy. Tiềm năng của ngành này cần đƣợc nghiên cứu một

16
gửi các thƣ giao dịch thƣơng mại hỏi hàng, báo giá, hoàn giá, đặt hàng,…hoặc
các bên mua bán trực tiếp gặp nhau đàm phán giao dịch. Sau khi hợp đồng
đƣợc kí kết, hai bên tổ chức thực hiện hợp đồng đã kí kết.
Ƣu điểm của việc xuất khẩu này là doanh nghiệp có thể chủ động nắm
bắt đƣợc nhu cầu của thị trƣờng về số lƣợng, chất lƣợng, giá cả để thoả mãn
tối đa nhu cầu của thị trƣờng và kích thích đƣợc nhu cầu. Một ƣu điểm nữa là
lợi nhuận thu đƣợc của doanh nghiệp từ phƣơng thức xuất khẩu này cao hơn
so với phƣơng thức khác vì doanh nghiệp không bị chia sẻ lợi nhuận cho
trung gian. Là ngƣời bán hàng trực tiếp, doanh nghiệp cũng tự khẳng định
mình trên thị trƣờng quốc tế về sản phẩm, chủng loại hàng hoá,… từ đó có thể
tăng uy tín cho mình, khẳng định thƣơng hiệu của sản phẩm.
Tuy nhiên, phƣơng thức xuất khẩu trực tiếp cũng có những hạn chế nhất
định. Đây là một hình thức xuất khẩu có độ rủi ro lớn, dẫn đến hàng hoá có
thể không tiêu thụ đƣợc do các nguyên nhân khách quan từ phía khách hàng.
Hình thức này đòi hỏi doanh nghiệp phải có một nguồn vốn lớn để thu mua
sản phẩm để sản xuất, đòi hỏi doanh nghiệp cần am hiểu sâu sắc về thị trƣờng
quốc tế. Doanh nghiệp có thể bị ứ đọng vốn, hàng hoá của doanh nghiệp có
thể bị lƣu kho nhiều ngày, giảm sút về chất lƣợng, đặc biệt đối với hàng
TCMN đƣợc làm chủ yếu từ các nguyên liệu thiên nhiên, nhƣ: mây, cói,
tre,… thì phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết.
1.1.2.2 Phƣơng thức xuất khẩu gián tiếp
Xuất khẩu gián tiếp là hình thức doanh nghiệp sẽ bán sản phẩm thủ công
mỹ nghệ của mình cho một ngƣời, một tổ chức trung gian nào đó, và ngƣời
trung gian này sẽ bán sản phẩm cho những khách hàng ở thị trƣờng nƣớc
ngoài. Phƣơng thức này thƣờng đƣợc các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh
nghiệp mới tham gia vào thị trƣờng quốc tế áp dụng. [14]

17
Ƣu điểm của phƣơng thức này là các doanh nghiệp xuất khẩu không phải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status