uản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt Nam - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN
CHÍNH TRỊ
_________________________ NGUYÊ
̃
N THI
̣
HUYÊ
̀
N
NGUYÊ
̃
N THI
̣
HUYÊ
̀
N QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số : 60 31 01 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGÔ VĂN LƢƠNG
HÀ NỘI - 2011

3


XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 6
1.1. Xuất khẩu lao động: bản chất, đặc điểm và các hình thức 6
1.1.1. Bản chất, đặc điểm của hoạt động xuất khẩu lao động 6
1.1.2. Các hình thức xuất khẩu lao động 17
1.2. Quản lý nhà nước về hoạt động xuất khẩu lao động 20
1.2.1. Sự cần thiết của quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động 20
1.2.2. Quản lý nhà nước về hoạt động xuất khẩu lao động 26
1.3. Thực tiễn quản lý nhà nước hoạt động xuất khẩu lao động ở một số
nước 35
1.3.1. Thực tiễn quản lý nhà nước hoạt động xuất khẩu lao động của Nhà
nước Hàn Quốc 35
1.3.2. Thực tiễn quản lý nhà nước hoạt động xuất khẩu lao động của nhà
nước Philipines 38
1.3.3. Thực tiễn quản lý nhà nước hoạt động xuất khẩu lao động của nhà
nước Thái Lan 41
1.3.4. Một số vấn đề rút ra từ thực tiễn quản lý nhà nước hoạt động xuất
khẩu lao động của Chính phủ các nước, hàm ý đối với Việt Nam 45
Chƣơng 2. QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO
ĐỘNG Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ
ĐẶT RA 47
2.1. Thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động và quản lý nhà nước lĩnh vực
này ở Việt Nam từ 1986 - 2009 47
2.1.1. Thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt Nam từ 1986-2009 47
2.1.2. Thực trạng quản lý nhà nước hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt
Nam từ 1986 - 2009 54
2.2. Một số vấn đề đặt ra đối với quản lý nhà nước hoạt động xuất khẩu lao
động ở Việt Nam 64

5
2.2.1. Định hướng xuất khẩu lao động 64

XHCN: Xã hội chủ nghĩa
XKLĐ: Xuất khẩu lao động 7
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện chủ trương “Đẩy mạnh xuất khẩu lao động; xây dựng và
thực hiện đồng bộ, chặt chẽ cơ chế, chính sách về đào tạo nguồn lao động,
đưa lao động ra nước ngoài, bảo vệ quyền lợi và tăng uy tín của người lao
động Việt Nam ở nước ngoài” trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
2001 - 2010 của Đảng, những năm qua, xuất khẩu lao động được xem là một
hoạt động kinh tế - xã hội quan trọng nhằm góp phần phát triển nguồn nhân
lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao tay nghề cho người lao động,
tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước và tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế
giữa nước ta với các nước. Đi đôi với việc xây dựng, củng cố và mở rộng thị
trường xuất khẩu lao động, việc tăng cường quản lý Nhà nước đối với hoạt
động này có ý nghĩa hết sức quan trọng. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi từ cơ
chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế,
việc thực hiện chức năng quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực xuất khẩu lao
động đã bộc lộ nhiều lúng túng, hạn chế và yếu kém mà biểu hiện rõ nhất là các
cơ quan quản lý Nhà nước từ Trung ương tới địa phương chưa có sự phối hợp
đồng bộ trong việc đầu tư mở rộng thị trường, đào tạo lao động xuất khẩu, cụ
thể hoá chủ trương, chính sách và chỉ đạo để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao
động; thiếu sự kết hợp hài hoà giữa sự quản lý vĩ mô của Nhà nước và sự chủ
động, tự chịu trách nhiệm của tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước
ngoài. Những yếu kém nói trên nếu không được khắc phục triệt để và kịp thời
sẽ tác động xấu đến tình hình hoạt động xuất khẩu lao động của nước ta, nhất là
trong môi trường cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt.

số bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí, trong đó có thể kể đến: Nguyễn
Lương Phương (2002): Hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia - những
giải pháp trong tình hình mới - Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới - số

9
1(75); Nguyễn Thị Hằng: Đẩy mạnh xuất khẩu lao động khu vực nông thôn,
góp phần xoá đói giảm nghèo - Tạp chí Cộng sản số 4 - 5 (2003); Phạm Thị
Khanh (2004): Phát triển thị trường xuất khẩu lao động của Việt Nam trong
điều kiện hội nhập quốc tế - Tạp chí Nghiên cứu kinh tế - số 314.
Các công trình nghiên cứu nói trên đã tiếp cận vấp đề xuất khẩu lao
động ở nhiều góc độ khác nhau, trong đó tập trung vào việc phân tích và đánh
giá tình hình hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam trong quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế. Ở hầu hết các công trình, các tác giả trong khi phân tích,
đánh gía thực trạng, đều có bàn đến vai trò quản lý của Nhà nước các cấp
nhưng mới chỉ dừng lại ở mức độ xem vai trò của Nhà nước như một giải
pháp trong hệ thống các giải pháp, chưa tập trung đi sâu phân tích cơ sở lý
luận và thực tiễn về quản lý Nhà nước hoạt động xuất khẩu lao động. Do đó,
các công trình nghiên cứu chưa có điều kiện tập trung giải quyết các vấn đề
đặt ra đối với quản lý của Nhà nước nhằm tạo điều kiện thúc đẩy mạnh mẽ
hơn nữa hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt Nam. Do đó, nghiên cứu quản
lý của Nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay có thể được xem là một vấn đề mới,
có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích
Trên cơ sở hệ thống hoá một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò
quản lý của Nhà nước đối với hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung, xuất
khẩu lao động nói riêng, luận văn có mục đích phân tích, đánh giá thực trạng
quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động ở nước ta trong thời
gian qua và kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý của

số kết quả của các công trình nghiên cứu trước đây để giải quyết các nhiệm vụ
đặt ra.

11
6. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định
chính sách kinh tế - xã hội, nhất là những người trực tiếp hoạt động trong lĩnh
vực xuất khẩu lao động, các nhà nghiên cứu và các độc giả quan tâm.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết:
Chƣơng 1: Lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động.
Chƣơng 2: Quản lý Nhà nước hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt
Nam: thực trạng và một số vấn đề đặt ra.
Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà
nước hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt Nam giai đoạn 2010 - 2015.
quan hệ đối ngoại. Mặt khác, đây lại là lĩnh vực còn tồn tại nhiều quan điểm

13
và nhận thức khác nhau cả trong nhận thức lẫn trong thực tiễn. Do đó, việc
làm rõ bản chất, đặc điểm và các hình thức XKLĐ để từ đó thống nhất trong
lý luận cũng như trong việc hoạch định chính sách là rất cần thiết.
* Một số khái niệm liên quan đến thuật ngữ XKLĐ:
Theo cách hiểu rộng nhất, XKLĐ gồm XKLĐ tại chỗ (các doanh
nghiệp trong nước nhận nguyên liệu, công nghệ thiết bị nước ngoài và sản
xuất sản phẩm theo đơn hàng của bạn; các liên doanh, các công ty, tổ chức
nước ngoài đóng trên lãnh thổ sử dụng lao động nước sở tại) và XKLĐ ra
nước ngoài. Liên quan đến sự di chuyển lao động trong quan hệ kinh tế quốc
tế đã có một số quan niệm, thuật ngữ được sử dụng như: hợp tác quốc tế về
lao động, đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài và xuất
khẩu lao động.
Hợp tác quốc tế về lao động là thuật ngữ được sử dụng vào những năm
1980 ở một số nước XHCN thuộc phạm vi khối SEV, trong đó có Việt Nam.
Thuật ngữ này phản ánh hoạt động cung ứng và tiếp nhận người lao động giữa
Việt Nam với một số nước XHCN, Châu Phi và Trung Đông theo các hiệp
định của Chính phủ. Theo thỏa thuận của các hiệp định đã được ký kết, người
lao động được đưa sang nước khác làm việc và được vào làm việc trong các
cơ sở của người nước ngoài; đồng thời, người lao động nước ngoài được tiếp
nhận vào Việt Nam làm việc. Tuy nhiên, trong thực tế, hợp tác quốc tế về sử
dụng lao động chủ yếu là Việt Nam cung cấp lao động đáp ứng nhu cầu lao
động thiếu hụt ở các nước trong khối thông qua một “kênh” duy nhất là nhà
nước tuyển chọn và trực tiếp đưa lao động ra nước ngoài nhằm mục đích nâng
cao trình độ tay nghề và hợp tác hữu nghị, chưa chú trọng đến mục đích kinh
tế. Hợp tác quốc tế về lao động ở thời kỳ này là sản phẩm của cơ chế kế hoạch
hóa tập trung, phù hợp với điều kiện lịch sử lúc bấy giờ, không phản ánh quan
hệ trao đổi, mua bán hàng hóa sức lao động nhằm thực hiện lợi ích kinh tế

việc ở nước ngoài và tạo cơ sở pháp lý cho việc sử lý các vi phạm cần thiết

15
phải ban hành Luật đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Tại kỳ họp
thứ 9, ngày 05 tháng 6 năm 2006, Quốc hội Khóa XI đã cho ý kiến vào dự án
Luật “Đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài”. Theo Luật này, “người
lao động đi làm việc ở nước ngoài” gồm:
- Người lao động có nghề, lao động phổ thông đi làm việc ở nước ngoài.
- Chuyên gia, người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật đi làm việc ở
nước ngoài theo các Hiệp định, thỏa thuận giữa nước ta với nước ngoài;
- Người đi làm việc ở nước ngoài với danh nghĩa “tu nghiệp sinh” hoặc
thực tập nâng cao trình độ tay nghề, chuyên môn.
Xuất khẩu lao động là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến, có tính
chất thông dụng để chỉ hoạt động chuyển dịch lao động từ quốc gia này sang
quốc gia khác, kể cả XKLĐ tại chỗ. Tham gia vào quá trình này gồm hai bên:
bên nhập khẩu lao động và bên xuất khẩu lao động. Xuất khẩu lao động còn
gọi là xuất khẩu vô hình, là một hình thức cung cấp cho nước ngoài một số
lượng lao động phục vụ nhất định để đạt được thu nhập ngoại tệ, kỹ thuật,
kinh tế bao gồm nhiều hình thức: công trình giao thông, xây lắp kiến trúc, sự
nghiệp công cộng, thương nghiệp, y học, Là một loại xuất khẩu phi hàng
hóa (so sánh với xuất khẩu hàng hóa), nếu xét ở góc độ kinh tế, XKLĐ có
những đặc điểm: đầu tư ít, hiệu quả nhanh, giá thành thấp và lợi nhuận cao.
Ngoài ra, do tính mềm dẻo cao, lĩnh vực phát triển rộng và năng lực thích
nghi nhanh, XKLĐ được xem là một trong những lĩnh vực kinh tế - xã hội
quan trọng góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu
nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, tăng nguồn thu ngoại
tệ cho đất nước và tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế giữa các nước, XKLĐ
ngày nay được các nước xếp vào nhóm ngành dịch vụ thu ngoại tệ cùng với
các ngành như du lịch, xây dựng, y tế, giao dục, bảo hiểm, vận tải, bưu chính
viễn thông, dịch vụ ngân hàng,

17
Như vậy, có thể khẳng định rằng , thực chất của XKLĐ là hoạt động xuất
khẩu hàng hóa sức lao động - một loại hàng hóa đặc biệt - bản chất của hoạt
động này là việc bán hàng hóa sức lao động trong nước cho nước ngoài sử dụng.
Theo đó, người lao động thông qua các tổ chức môi giới, hay các tổ chức, doanh
nghiệp XKLĐ của nhà nước hoặc tư nhân mà bán sức lao động của bản thân, đi
làm thuê cho chủ sử dụng lao động ở nước ngoài.
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể đi tới một quan niệm tương
đối toàn diện về XKLĐ như sau:
Xuất khẩu lao động là một hình thức của phân công lao động quốc tế
thuộc lĩnh vực hợp tác kinh tế quốc tế; là một loại xuất khẩu dịch vụ phi vật
thể - hàng hóa sức lao động trên thị trường lao động quốc tế, ở đó người bán
sức lao động và người sử dụng sức lao động ở nước ngoài phải thông qua sự
môi giới của các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ XKLĐ.
1.1.1.2. Đặc điểm của hoạt động xuất khẩu lao động
Do sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt nên hoạt động XKLĐ có
những đặc điểm riêng biệt, khác với hoạt động xuất khẩu hàng hóa thông
thường. Có thể khái quát một số đặc điểm của hoạt động XKLĐ như sau:
- Xuất khẩu lao động là một hoạt động đặc thù của kinh tế đối ngoại.
Trong quan niệm hiện nay, kinh tế đối ngoại gồm nhiều hình thức như: ngoại
thương; đầu tư quốc tế; hợp tác sản xuất (nhận gia công, xây dựng xí nghiệp
chung, khu chế xuất, khu công nghệ và kỹ thuật cao); hợp tác khoa học - công
nghệ; hợp tác tín dụng quốc tế và các hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ (du lịch,
XKLĐ, xây dựng, y tế, bảo hiểm, giao dục, cung ứng dịch vụ vận tải, ngân
hàng, bưu chính viễn thông, ). Trong các hình thức kinh tế đối ngoại, ngoại
thương, đầu tư quốc tế và dịch vụ thu ngoại tệ là những hình thức chủ yếu và
có hiệu quả nhất. Tính chất đặc thù của hoạt động XKLĐ trước hết được thể
hiện ở chỗ là hoạt động kinh tế nhưng mang tính chất xã hội sâu sắc.

18

Tính không thể chia tách của hoạt động XKLĐ thể hiện ở chỗ: cũng
như các hoạt động dịch vụ khác, XKLĐ có đặc điểm là quá trình tạo giá trị và
giá trị sử dụng thống nhất với quá trình tiêu dùng, thụ hưởng giá trị và giá trị
sử dụng của sức lao động. Ngoài ra, hoạt động XKLĐ còn có sự khác biệt với
các hoạt động dịch vụ khác ở chỗ, hoạt động XKLĐ không chấm dứt khi đã
hoàn thành thủ tục đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài mà nó là một
quá trình gồm nhiều khâu, nhiều công đoạn liên hoàn, gắn kết chặt chẽ với
nhau. Nó bắt đầu từ khâu chuẩn bị các điều kiện cho người lao động, đưa
người lao động đi XKLĐ, giúp người lao động thích nghi với công việc ở
nước ngoài cho đến khi người lao động về nước tái hòa nhập cộng đồng. Quá
trình này đòi hỏi các bên liên quan đến hoạt động XKLĐ, phải thường xuyên
quan tâm thực hiện những quy định trong hợp đồng, đôi khi cả những tình
huống phát sinh không có trong hợp đồng, nhưng có liên quan đến quyền lợi
của các bên.
Tính không xác định của hoạt động XKLĐ được thể hiện ở chỗ: cũng
như mọi hoạt động dịch vụ khác, hoạt động XKLĐ có đặc điểm là không hiện
hữu dưới dạng vật thể, khó lượng hóa khi quyết định trao đổi, mua bán, sử
dụng. Tính không xác định trong hoạt động XKLĐ được quy định bởi chất
lượng hàng hóa sức lao động. Chất lượng của hàng hóa sức lao động được
phản ánh và phụ thuộc vào thể chất và tinh thần hay sự dẻo dai, bền bỉ, độ
thành thạo và năng lực sáng tạo trong lao động của người lao động; vào điều
kiện làm việc, nghỉ ngơi và các điều kiện khác cho người lao động. Các yếu tố
tinh thần và lịch sử này ở mỗi người, mỗi địa phương, khu vực luôn có sự
khác nhau và luôn thay đổi đã tạo ra tính không xác định trong hoạt động
XKLĐ.
- Hoạt động XKLĐ xuất phát từ mục đích của các chủ thể tham gia:
tiền công của người lao động, lợi nhuận của doanh nghiệp và lợi ích của nhà
nước. Người lao động tham gia vào hoạt động XKLĐ với tư các vừa là người

20

về một cách hiệu quả nhất nhằm thu được tối đa giá trị tăng thêm do sức lao
động đã mua được tạo ra. Sau khi hết hạn hợp đồng, chủ sử dụng lao động hết
quyền sử dụng hàng hóa sức lao động và phải trả người lao động về nước
XKLĐ.
- Hoạt động XKLĐ trong thời đại ngày nay mang tính chất đa phương,
đa dạng và phong phú. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, đặc biệt là do tác
động của phân công lao động quốc tế và quá trình quốc tế hóa dưới tác động
của sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, sự đa phương trong
quan hệ hợp tác lao động, đa dạng về thị trường và phong phú về chủng loại
hoàng hóa sức lao động đã và đang diễn ra ở tất cả các nước, các khu vực trên
thế giới. Ngày nay, cùng với sự tăng cường xu thế quốc tế hóa đời sống kinh
tế, quy mô XKLĐ ngày càng mở rộng theo hướng nước nghèo XKLĐ sang
nước giàu; nước đang phát triển XKLĐ sang nước phát triển; nước đông dân
cư XKLĐ sang nước thưa thớt dân cư; có những nước chuyên xuất, có những
nước lại chuyên nhập, lại có những nước lại vừa xuất vừa nhập lao động. Đối
với những nước chuyên XKLĐ, mục đích chính là nhằm góp phần giải quyết
công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập quốc dân, tạo thế cân bằng cho cán cân
thanh toán, cải thiện đời sống cho một bộ phân nhân dân lao động. Những
nước chuyên nhập khẩu lao động thường là những nước nhiều vốn, tài nguyên
chưa được khai thác tốt, thiếu tuyệt đối nhân lực (lao động hiện có không đủ
do dân số “già” đi), hoặc thiếu tương đối (trên thị trường lao động cú quá ít
người tìm việc). Những nước vừa xuất vừa nhập lao động xem hoạt động này
là lĩnh vực kinh doanh để tìm kiếm lợi nhuận thông qua chênh lệch giá cả sức
lao động. Mấy năm gần đây, do tính chất cạnh tranh trên thị trường lao động
quốc tế hết sức gay gắt nên tình hình xuất khẩu lao động diễn ra rất phức tạp.
Trừ những thị trường truyền thống như Tây Âu, Bắc Âu, Bắc Mỹ vẫn cần
khối lượng lớn lao động nước ngoài, các nước trong khối OECD cũng phát
triển mạnh với các hình thức chủ yếu:

22

đãi hơn đối với lao động đến từ các nước tương đồng về văn hóa. Vì văn hóa
là con người, con người là văn hóa. Trong mỗi người lao động đều có tố chất
văn hóa, có thể học vấn cao, nhưng vẫn lấp lánh vẻ đẹp, mang đậm hồn cốt
nền văn hóa mà họ được nuôi dưỡng từ thưở ấu thơ. Đó là lẽ sống, là lối sống,
là đạo lý, là tình nghĩa, là lòng trắc ẩn, là sự ứng xử, tóm lại là toàn bộ cuộc
sống tinh thần của người lao động. Đi XKLĐ là đi làm thuê, xét về công việc
thì vị thế của người lao động là phục tùng, người bị quản lý, bị sai bảo nhưng
về văn hóa, người lao động hoàn toàn bình đẳng với người sử dụng lao động.
Người lao động muốn sống và làm việc ở nước nhập khẩu lao động buộc phải
thích nghi, hòa nhập với phong tục tập quán, truyền thống văn hóa, pháp luật,
thói quen sinh hoạt và tác phong làm việc, của nước sở tại. Quá trình thực
hiện hợp đồng lao động giữa chủ sử dụng lao động và người lao động là quá
trình tiếp xúc, giao lưu giữa hai nền văn hóa. Trong quá trình đó, nền văn hóa
nào ưu việt sẽ phát huy tính trội của nó, cảm hóa, chinh phục, lan tỏa giữa
những đối tác. XKLĐ là nhịp cầu giao lưu văn hóa và hợp tác hữu nghị giữa
các nước.
1.1.2. Các hình thức xuất khẩu lao động
Có nhiều cách thức phân loại các hình thức XKLĐ. Theo cách phân
loại truyền thống, có XKLĐ tại chỗ (các doanh nghiệp trong nước nhận
nguyên liệu, công nghệ, thiết bị nước ngoài và sản xuất sản phẩm theo đơn
đặt hàng của doanh nghiệp nước ngoài; các liên doanh sử dụng lao động trong
nước) và XKLĐ ra nước ngoài. Căn cứ vào các dạng và loại hình lao động
làm việc ở nước ngoài, có dạng cá nhân người lao động tự ký kết hợp đồng;
lao động đi làm việc theo doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu, đầu tư ra nước
ngoài; lao động đi làm việc dưới hình thức tu nghiệp, thực tập nâng cao tay
nghề và lao động được các tổ chức, các đơn vị sự nghiệp cử đi theo các chỉ
tiêu nhà nước phân bổ. Theo cách thức tổ chức thực hiện, XKLĐ có một số
hình thức chủ yếu sau đây:

24

phát triển nhanh. Nhà nước cần khuyến khích các doanh nghiệp nhận thầu,
đầu tư ra nước ngoài có sử dụng nhiều lao động Việt Nam; đồng thời đưa ra
những quy định nhằm bảo vệ quyền lợi cho người lao động, tạo điều kiện cho
công tác quản lý của nhà nước đối với XKLĐ.
1.1.2.3. Tu nghiệp, thực tập nâng cao tay nghề ở nước ngoài
Đây là chương trình nhằm đào tạo nguồn nhân lực. Đối tượng được
tuyển chọn là những lao động đang làm việc cho các nhà máy, xí nghiệp có nhu
cầu nâng cao tay nghề ở nước ngoài, sau đó sẽ trở lại làm việc tại nhà máy, xí
nghiệp trước sau khi đi. Để quản lý và bảo vệ quyền lợi cho người lao động,
các nước quy định cụ thể đối với doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp có vốn
nước ngoài) đưa người lao động đi nước ngoài dưới hình thức tu nghiệp, thực
tập nâng cao tay nghề mà thực chất người lao động có làm việc và nhận thù lao
dưới bất kỳ hình thức nào từ cơ sở tiếp nhận. Mặt khác, nhà nước định hướng
cho các doanh nghiệp tham gia chương trình này bằng các hình thức thường
xuyên trao đổi thông tin với các phía các tổ chức sở hữu quan cũng như các tổ
chức nghiệp đoàn, các công ty phái cử và tiếp nhận; hỗ trợ các doanh nghiệp
tìm kiếm, khai thác hợp đồng, giúp các doanh nghiệp thẩm định tư cách pháp
nhân và khả năng tiếp nhận của các nghiệp đoàn tiếp nhận cũng như năng lực
của các công ty phái cử.
1.1.2.4. Theo các hiệp định được ký kết
Theo quy định hiện hành, tổ chức sự nghiệp của các bộ, ngành được đưa
chuyên gia, người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao và người lao động đi
làm việc ở nước ngoài để thực hiện Hiệp định mà chính phủ đã ký kết. Căn cứ
vào các Hiệp định đã ký, nhà nước phân bổ chỉ tiêu cho các bộ, ngành, địa
phương tiến hành tuyển chọn và đưa người lao động đi làm việc ở các nước.
Người lao động làm việc ở nước ngoài được bố trí xen ghép với người lao động
của các nước khác, chịu sự quản lý thống nhất từ trên xuống dưới. Hiện nay,
lao động Việt Nam được đưa đi làm việc ở nước ngoài theo Hiệp định chủ yếu

Trích đoạn Sự cần thiết của quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động Thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt Nam từ 1986-2009 Thực trạng quản lý nhà nước hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt Tạo lập môi trường cho xuất khẩu lao động Tổ chức điều hành xuất khẩu lao động
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status