Xuất khẩu dịch vụ tài chính ngân hàng (Kinh nghiệm quốc tế và những gợi ý đối với Việt Nam) - Pdf 25

MỤC LỤC
DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT I
DANH MỤC BẢNG II
DANH MỤC BIỂU ĐỒ III
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 8
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU DỊCH VỤ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG . 8
1.1. Khái quát về xuất khẩu dịch vụ 8
1.1.1. Khái niệm dịch vụ và xuất khẩu dịch vụ 8
1.1.2. Phân loại dịch vụ 10
1.1.3. Các phương thức xuất khẩu dịch vụ 11
1.2. Lý thuyết về xuất khẩu dịch vụ 12
1.2.1. Lý thuyết lợi thế so sánh 13
1.2.2. Lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia 15
1.3. Khái quát về xuất khẩu dịch vụ tài chính - ngân hàng 20
1.3.1. Khái niệm dịch vụ tài chính - ngân hàng 20
1.3.2. Khái niệm về xuất khẩu dịch vụ tài chính - ngân hàng 20
1.3.3. Vai trò của dịch vụ tài chính - ngân hàng trong nền kinh tế chuyển đổi
và hội nhập 21
1.4. Xu hướng hội nhập của hệ thống tài chính - ngân hàng trong bối cảnh
toàn cầu hoá 22
1.4.1. Xu hướng hội nhập của hệ thống tài chính - ngân hàng thế giới 22
1.4.2. Hội nhập kinh tế quốc tế và tác động tới khu vực tài chính - ngân hàng
Việt Nam 26
CHƯƠNG 2 32
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG XUẤT KHẨU DỊCH VỤ TÀI CHÍNH -
NGÂN HÀNG 32
2.1. Kinh nghiệm xuất khẩu dịch vụ tài chính - ngân hàng của Mỹ 32
2.1.1. Thực trạng xuất khẩu dịch vụ tài chính - ngân hàng của Mỹ 32
2.1.2. Chính sách và biện pháp thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ tài chính - ngân
hàng của Mỹ 39

NGÂN HÀNG CỦA VIỆT NAM 91
4.1. Định hướng chiến lược xuất khẩu dịch vụ tài chính - ngân hàng của Việt
Nam đến năm 2020 91
4.1.1. Quan điểm, định hướng phát triển ngành tài chính - ngân hàng của Việt
Nam đến năm 2020 91
4.1.2. Quan điểm định hướng xuất khẩu dịch vụ tài chính - ngân hàng của Việt
Nam đến năm 2020 95
4.2. Một số gợi ý về chính sách nhằm đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ tài chính -
ngân hàng của Việt Nam 97
4.2.1. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành tài chính - ngân
hàng 97
4.2.2. Thúc đẩy cạnh tranh nội địa mạnh mẽ 99
4.2.3. Hiện đại hóa, tiêu chuẩn hóa, hệ thống hóa chất lượng dịch vụ tài chính
- ngân hàng 101
4.2.4. Phát triển các ngành công nghiệp liên quan và ngành công nghiệp bổ
trợ 101
4.2.5. Thu hút vốn đầu tư nước ngoài phát triển ngành tài chính - ngân hàng102
4.2.6. Một số gợi ý với các doanh nghiệp xuất khẩu dịch vụ tài chính - ngân
hàng 103
KẾT LUẬN 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

I
DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
AFTA
Hiệp định Khu vực Thương mại Tự do ASEAN
APEC
Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương
ASEAN
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

WTO
Tổ chức Thương mại Quốc tế
WB
Ngân hàng thế giới

II
DANH MỤC BẢNG
Stt
Bảng
Trang
1
Bảng 2.1. Xuất khẩu dịch vụ tài chính ngân hàng của Mỹ
chia theo quốc gia, giai đoạn 2000 – 2009
39
2
Bảng 2.2. Xuất khẩu dịch vụ tài chính ngân hàng của Trung
Quốc chia theo quốc gia, giai đoạn 2000 - 2009
52
3
Bảng 2.3. Xuất khẩu dịch vụ tài chính - ngân hàng Singapore
2000 – 2009 xét theo quốc gia
66

III
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Stt
Biểu đồ
Trang
1
Biểu đồ 2.1. Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ tài chính ngân hàng

9
Biểu đồ 2.9. Xuất khẩu dịch vụ tài chính ngân hàng của Trung
Quốc 2000-2009 xét theo phương thức
50
10
Biểu đồ 2.10. Thị trường xuất khẩu dịch vụ tài chính - ngân
hàng của Trung Quốc 2000 – 2009 xét theo khu vực
51
11
Biểu đồ 2.11. Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ tài chính - ngân
hàng của Singapore 2000 – 2009
59
12
Biểu đồ 2.12. Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ tài chính - ngân
hàng trong cơ cấu xuất khẩu dịch vụ của Trung Quốc 2000-
2009
60
IV
13
Biểu đồ 2.13. Cán cân xuất khẩu dịch vụ tài chính ngân hàng
của Singapore 2000-2009
61
14
Biểu đồ 2.14. Phương thức xuất khẩu dịch vụ tài chính - ngân
hàng của Singapore 2000 – 2009
64
15
Biểu đồ 2.15. Thị trường xuất khẩu dịch vụ tài chính - ngân
hàng của Singapore 2000 – 2009 xét theo khu vực
65

động kinh tế, chi phối tới hoạt động của toàn xã hội. Dịch vụ tài chính – ngân hàng
được so sánh như hệ thống “mạch máu” đi nuôi dưỡng toàn “cơ thể” xã hội. Sự phát
triển của dịch vụ tài chính – ngân hàng cũng kéo theo sự lớn mạnh không ngừng của
thương mại dịch vụ tài chính - ngân hàng cả về quy mô và tốc độ. Xuất khẩu dịch
vụ tài chính - ngân hàng đã trở thành một lĩnh vực kinh tế quan trọng của nhiều
quốc gia, đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm với tốc độ
nhanh chóng hơn bất kỳ lĩnh vực nào khác.
So với các nước trong khu vực và thế giới, ngành dịch vụ tài chính - ngân
hàng của Việt Nam vẫn trong giai đoạn đầu của sự phát triển. Mặc dù đã có sự tăng
trưởng với tốc độ rất lớn trong mấy năm gần đây, đặc biệt trong 2 năm 2007 và
2009, nhưng dịch vụ tài chính - ngân hàng Việt Nam quy mô còn nhỏ, chất lượng
chưa cao, thiếu nhân sự cấp cao, khả năng quản lý rủi ro và quản trị doanh nghiệp
còn yếu. Về mặt vĩ mô, Việt Nam vẫn thiếu những chính sách hoàn chỉnh và đồng
bộ về dịch vụ tài chính - ngân hàng cũng như về thương mại dịch vụ tài chính -
ngân hàng. Tỷ trọng xuất khẩu dịch vụ nói chung của Việt Nam còn rất khiêm tốn,
do đó xuất khẩu dịch vụ tài chính - ngân hàng còn rất mới mẻ với nền kinh tế Việt
Nam.
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đã và đang hội nhập sâu rộng vào nền
kinh tế khu vực và thế giới, ngành dịch vụ tài chính - ngân hàng của Việt Nam cần
có những bước tiến đột phá, tự nâng cao nội lực thông qua tăng cường chất lượng
dịch vụ, đội ngũ nhân sự, kỹ năng quản lý doanh nghiệp và quản trị rủi ro. Bên
cạnh đó, một yêu cầu cũng rất cấp thiết đó là một chính sách thương mại dịch vụ tài
chính - ngân hàng hoàn chỉnh để ngành dịch vụ tài chính - ngân hàng có thể nắm
bắt vận hội mới, vươn lên hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới. Chỉ
khi khu vực dịch vụ tài chính - ngân hàng phát triển bền vững thì mới có thể nâng
cao chất lượng dịch vụ, tăng nhanh tỷ trọng xuất khẩu dịch vụ tài chính - ngân hàng
2
trong tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ nói riêng và kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam nói chung.
Mặc dù có tầm quan trọng đặc biệt đối với nền kinh tế nhưng việc nghiên cứu,

xuất toàn cầu.
(2) Đề cập tới ngành tài chính - ngân hàng, các tác giả Joe Peek và Eric
S.Rosengren đã có bài viết: Những dấu hiệu toàn cầu hóa lĩnh vực ngân hàng: Trải
nghiệm của các nước châu Mỹ latinh (10/2000), với nội dung chính là: các nước
châu Mỹ latinh đã trải qua những đợt suy thoái kinh tế trầm trọng và liên tục kể từ
năm 1970 có liên quan trực tiếp tới khủng hoảng của hệ thống ngân hàng tại các
nước này. Các tác giả đưa ra nhận xét rằng cần những chính sách để khuyến khích
mặt lợi và hạn chế những tác động tiêu cực của sự thâm nhập thị trường nội địa của
các ngân hàng nước ngoài.
(3) Tác giả Fredic S.Mishkin đã có bài viết: Sự bất ổn tài chính toàn cầu: Hệ
thống, Sự kiện và các vấn đề (1999) trong đó định nghĩa rõ về khái niệm bất ổn tài
chính và tác động tiêu cực của nó tới nền kinh tế. Tác giả phân tích cụ thể trường
hợp của Mexico và các nước Đông Á. Tác giả đưa ra các giải pháp nhằm ngăn chặn
nguy cơ bất ổn và tăng cường sức mạnh của hệ thống tài chính toàn cầu.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu nước ngoài về ngành dịch vụ và xuất
khẩu dịch vụ rất đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, cũng cần phải nhấn mạnh rằng,
những công trình nghiên cứu kể trên chỉ tập trung nghiên cứu về phát triển dịch vụ
nói chung mà không đi sâu nghiên cứu về dịch vụ tài chính - ngân hàng, cũng như
hoạt động xuất khẩu dịch vụ này. Những kinh nghiệm quốc tế cụ thể và những gợi ý
đối với Việt Nam trong việc xuất khẩu dịch vụ tài chính - ngân hàng còn thiếu vắng
trong các công trình nghiên cứu kể trên. Đề tài này đã cố gắng nghiên cứu để bổ
sung sự thiếu vắng đó.
Ở Việt Nam, các ngành dịch vụ mới chỉ thực sự được chú ý tới từ đầu những
năm 1990. Do đó thương mại dịch vụ chưa phát triển nhất là dịch vụ tài chính -
ngân hàng và kinh nghiệm về xuất khẩu dịch vụ tài chính - ngân hàng càng thiếu.
4
Thứ nhất, một số công trình nghiên cứu về dịch vụ nói chung và xuất khẩu
dịch vụ:
(1) Báo cáo “Chiến lược tổng thể phát triển ngành dịch vụ tới năm 2020
(CSSSD) và tầm nhìn tới năm 2025” do nhiều tác giả thuộc dự án Mutrap III thực

sâu sắc; Qúa nhiều quy định hạn chế hoạt động của ngân hàng nước ngoài; Chất
lượng cho vay còn thiếu minh bạch; Thiếu vốn trầm trọng; Số lượng nhiều nhưng
quy mô nhỏ, sản phẩm ít; Không có thông tin về nợ xấu.
Tổ chức xếp hạng tín dụng FitchRatings đã có bản báo cáo: Impact of Fiscal
Measures on Vietnamese Banks’ Outlook - Tác động của các biện pháp tài khóa đối
với triển vọng của các ngân hàng Việt Nam (10/6/2009), với nội dung chính đề cập
tới tác động đợt phát hành 230 triệu USD trái phiếu của Chính phủ Việt Nam vào
tháng 3/2009 tới các ngân hàng thương mại trong đó Ngân hàng Nhà nước (NHNN)
Việt Nam yêu cầu các ngân hàng thương mai phải đầu tư vào đợt phát hành này.
Bản báo cáo: Banks & Financial Services - Dịch vụ tài chính và ngân hàng,
của Tổ chức Jaccar Equity Research Viet Nam (18/7/2009), đã đề cập tới nội dụng:
Đưa ra một bức tranh tổng thể về hệ thống các ngân hàng Việt Nam thông qua việc
so sánh giữa ngân hàng cổ phần và ngân hàng nhà nước, phân loại các ngân hàng từ
đó đưa ra các vị thế thị trường của các ngân hàng qua các năm 2007, 2008 và 2009.
Qua đó cũng cho biết sức mạnh nội tại của mỗi ngân hàng và chiến lược phát triển.
Tựu chung lại, các công trình nghiên cứu trong nước kể trên mặc dù đề cập
đến nhiều khía cạnh của phát triển ngành và xuất khẩu dịch vụ ở Việt Nam nhưng
vẫn chưa đưa ra được những kinh nghiệm quốc tế phổ cập và đặc thù về xuất khẩu
dịch vụ tài chính - ngân hàng và áp dụng với Việt Nam, đặc biệt kinh nghiệm của
các nước phát triển và các tập đoàn tài chính - ngân hàng hàng đầu trên thế giới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu: Phân tích, đánh giá xuất khẩu dịch vụ tài chính - ngân
hàng của một số nước điển hình trên thế giới, trong đó có Mỹ (nước có nền kinh tế
phát triển và hệ thống tài chính - ngân hàng tiên tiến nhất thế giới), Singapore (nước
cùng khối ASEAN với Việt Nam được coi là một trong những con hổ châu Á),
6
Trung Quốc (nước có cùng hệ thống chính trị và cùng là nước đang phát triển với
Việt Nam) từ đó rút ra kinh nghiệm và đề xuất những gợi ý có tính chất tham khảo
cho việc xuất khẩu dịch vụ tài chính - ngân hàng của Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung của hoạt

6. Những đóng góp mới của luận văn
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động xuất khẩu dịch vụ tài chính -
ngân hàng trong nền kinh tế.
- Đánh giá, rút ra một số bài học kinh nghiệm hoạt động xuất khẩu dịch vụ tài
chính - ngân hàng của một số quốc gia tiêu biểu.
- Đánh giá hiện trạng hoạt động xuất khẩu dịch vụ tài chính - ngân hàng ở
Việt Nam.
- Đưa ra những gợi ý từ những bài học kinh nghiệm quốc tế đối với hoạt động
xuất khẩu dịch vụ tài chính - ngân hàng của Việt Nam.
7. Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 4 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về xuất khẩu dịch vụ tài chính - ngân hàng.
- Chương 2: Kinh nghiệm quốc tế trong xuất khẩu dịch vụ tài chính - ngân
hàng.
- Chương 3: Xuất khẩu dịch vụ tài chính - ngân hàng trong bối cảnh Việt Nam
gia nhập WTO.
- Chương 4: Một số biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ tài chính - ngân
hàng của Việt Nam.
8
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU DỊCH VỤ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
1.1. Khái quát về xuất khẩu dịch vụ
1.1.1. Khái niệm dịch vụ và xuất khẩu dịch vụ
1.1.1.1. Khái niệm về dịch vụ
Theo Bùi Nguyên Hùng, 2004, thì “dịch vụ là một quá trình gồm các hoạt
động hậu đài và phía trước, nơi mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tương tác
với nhau. Mục đích của việc tương tác này là nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong
muốn của khách hàng theo cách khách hàng mong đợi, cũng tạo ra giá trị cho khách
hàng”.
Theo Fitzsimmon, 2001, “dịch vụ là một hoặc một loạt các hoạt động ít nhiều

1.1.1.3. Đặc điểm của xuất khẩu dịch vụ
Dịch vụ có một số đặc điểm giúp chúng ta phân biệt với các loại hàng hóa hữu
hình khác. Đó là: Tính vô hình; Tính không đồng nhất; Tính không thể tách rời;
Tính không thể tồn trữ.
Gắn với những đặc điểm của dịch vụ, xuất khẩu dịch vụ cũng có những đặc
thù riêng:
- Do sản phẩm dịch vụ là vô hình, khi xuất khẩu dịch vụ, giá trị sản phẩm dịch
vụ mặc dù không tồn tại nhưng có thể tăng hoặc giảm theo đánh giá của khách
hàng. Hình thái vật chất để tạo nên sản phẩm dịch vụ không giống như lưu thông
hàng hóa và thường vòng quay vốn nhanh, lãi thu nhanh chóng. Hoạt động xuất
khẩu dịch vụ chủ yếu thực hiện bằng trí tuệ, kỹ thuật, trong giá thành sản phẩm hầu
như không có chi phí nguyên liệu đầu vào, nên dù kim ngạch xuất khẩu dịch vụ
thấp hơn hàng hóa, nhưng so sánh hiệu quả kinh tế, xã hội chưa chắc đã thua, thậm
chí còn cao hơn.
- Xuất khẩu dịch vụ có thể diễn ra mà các doanh nghiệp không ý thức được
việc mình đang thực hiện việc xuất khẩu. Các doanh nghiệp thường không quan tâm
tới việc có phải mình đang thực hiện hoạt động xuất khẩu dịch vụ hay không. Điều
họ quan tâm là lợi nhuận. Do đó, nếu không có sự chủ động từ các cơ quan quản lý
10
nhà nước trong việc tạo ra những động lực khuyến khích xuất khẩu dịch vụ thì sẽ rất
khó để các doanh nghiệp nhận thức đầy đủ và có những chiến lược thích hợp.
- Xuất khẩu dịch vụ không phải là lĩnh vực chỉ dành riêng cho các doanh
nghiệp lớn. Các doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực sản xuất hàng hóa thường gặp khó
khăn trong việc tìm kiếm thông tin thị trường nước ngoài, việc đáp ứng độ lớn của
đơn đặt hàng, những rủi ro trong xuất khẩu, sự kém cạnh tranh trong giá cả, chất
lượng, công nghệ. Tuy nhiên, thị trường xuất khẩu dịch vụ mở rộng hơn cho các
doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khi xuất khẩu dịch vụ theo phương thức 2, tức là cung
cấp dịch vụ ngay trên thị trường nước mình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ hạn
chế được những bất lợi gặp phải khi xuất khẩu hàng hóa.
- Xuất khẩu dịch vụ chỉ xuất hiện khi khách hàng đồng ý và trước khi dịch vụ

người tiêu dùng đi tới lãnh thổ của một quốc gia thành viên khác để dùng dịch vụ.
Phương thức này được thực hiện nhiều trong lĩnh vực du lịch, chữa bệnh, du học
nước ngoài, dùng ngân hàng nước ngoài thanh toán. Một nước nhờ nước khác cung
cấp dịch vụ cho mình các dịch vụ cần thiết, sau đó thanh toán việc cung cấp dịch vụ
qua ngân hàng của cả hai nước.
- Phương thức 3: Thiết lập hiện diện thương mại tại nước cung cấp dịch vụ.
Phương thức này là trường hợp nhà cung cấp dịch vụ của một quốc gia thành viên
thiết lập văn phòng trên lãnh thổ của một nước thành viên khác. Các ngành dịch vụ
như máy tính, viễn thông, xây dựng và tài chính ngân hàng thường thực hiện
phương thức này.
Nếu nhìn vào bản cam kết dịch vụ, phương thức hiện diện thương mại thường
tập trung những hạn chế, bảo lưu về mở cửa thị trường và đãi ngộ quốc gia. Nguyên
nhân vì Phương thức này cho phép thiết lập những cơ sở kinh doanh của nước ngoài
ngay trên nước sở tại, từ đó tạo ra sự cạnh tranh trực tiếp đối với các ngành dịch vụ
trong nước. Đối với nước xuất khẩu dịch vụ, Phương thức 3 là cách tốt nhất để đảm
bảo thâm nhập thị trường một cách hiệu quả và vững chắc.
- Phương thức 4: Hiện diện thể nhân. Phương thức này là trường hợp di
chuyển tạm thời của con người, cho phép nước cung cấp dịch vụ đưa chuyên gia
12
sang cung cấp dịch vụ trực tiếp tại nước sử dụng dịch vụ. Phương thức này thường
được thực hiện trong các dịch vụ tài chính, đầu tư, giáo dục.
1.2. Lý thuyết về xuất khẩu dịch vụ
Trước đây, tầm quan trọng của lĩnh vực dịch vụ đối với nền kinh tế hầu như bị
lãng quên, khu vực dịch vụ không có những con số nổi bật trong các báo cáo phát
triển và tăng trưởng kinh tế. Khu vực dịch vụ chỉ được xem xét trong các tài liệu
thương mại. Các cuốn sách kinh tế quốc tế truyền thống thì hướng tới giả định rằng
dịch vụ hầu như không thể trao đổi, buôn bán. Mãi đến thập kỷ 80 của thế kỷ XX,
khi Mỹ đề xuất các chính sách ảnh hưởng tới xuất khẩu dịch vụ trong đàm phán luật
đa phương, một vài nghiên cứu về một số khía cạnh của dịch vụ như Baumol
(1967), Fuchs (1968), Hill (1977) mới hình thành. Sau hội nghị Bộ trưởng GATT

lợi thế so sánh của David Ricardo có thể áp dụng cho lĩnh vực dịch vụ nếu gắn với
các yếu tố đầu tư và di chuyển của thể nhân.
Dịch vụ cũng giống như hàng hoá được sản xuất bởi sự phối hợp các đầu vào
của hàng hóa và dịch vụ để tạo ra sản phẩm có giá trị có thể bán và trao đổi trên thị
trường. Có thể nói rằng sản xuất, bán hàng, trao đổi và tiêu dùng dịch vụ tuân theo
mô hình hành vi của nền kinh tế như là sản xuất, bán hàng, trao đổi và tiêu dùng
hàng hóa.
Brian Hindley và Smith (1984) đã trả lời câu hỏi có hay không sự di chuyển
của con người hoặc vốn kết hợp với xuất khẩu dịch vụ có thể làm mất hiệu lực một
trong những giả định cơ bản của học thuyết lợi thế so sánh của Ricardo, sự xuất
khẩu đó dựa trên sự tồn tại khác nhau trong phân phối nguồn lực giữa hai quốc gia
tham gia xuất khẩu với nhau. Có hai lý do được ông đưa ra cho câu trả lời trên: Thứ
nhất, ông đã chỉ ra rằng miễn là sự phân phối nguồn lực khác nhau tồn tại giữa hai
quốc gia, đó là nguyên nhân tồn tại của xuất khẩu. Theo đó, xuất khẩu không chỉ
phụ thuộc vào sự khác biệt trong phân phối nguồn lực hiện tại mà còn phụ thuộc
vào việc mở rộng các khác biệt tại bất kỳ thời điểm nào trong tương lai. Thứ hai,
việc di chuyển các nhân tố quốc tế mà không bị ngăn cản sẽ dẫn tới việc điều chỉnh
14
giống nhau sản phẩm đầu ra và giá cả, thương mại quốc tế không bị ngăn cản. Do
đó, học thuyết lợi thế so sánh có thể bao gồm cả xuất khẩu dịch vụ và sự di chuyển
của các nhân tố quốc tế.
Hindley cũng đã thiết lập được một sự khác biệt tương phản giữa sự dịch
chuyển thường xuyên của các yếu tố sản xuất từ một nước này sang một nước khác
và sự chuyển dịch tạm thời của con người hoặc tiền tệ từ một nước này sang nước
khác vì mục đích xuất khẩu dịch vụ. Ví dụ, sự di chuyển tạm thời của các công nhân
trong lĩnh vực dịch vụ có thể coi như là xuất khẩu dịch vụ nếu việc định cư ở nước
ngoài là tạm thời, ngược lại việc định cư ở nước ngoài diễn ra trong một thời gian
dài hoặc cư trú thường xuyên thì sẽ được coi là sự di chuyển nhân tố quốc tế.
Mối quan hệ mật thiết giữa xuất khẩu dịch vụ và đầu tư nước ngoài trong
nhiều lĩnh vực dịch vụ cũng được đề cập. Những dịch vụ được cung cấp trực tiếp

công nghiệp bổ trợ; Điều kiện yếu tố sản xuất.
Các điều kiện về yếu tố sản xuất là vị thế của quốc gia về các yếu tố sản xuất
đầu vào như lao động được đào tạo hay cơ sở hạ tầng cần thiết cho cạnh tranh trong
một ngành công nghiệp nhất định. Các yếu tố sản xuất chẳng qua chỉ là các yếu tố
đầu vào cần thiết để cạnh tranh trong bất cứ ngành sản xuất nào, như lao động, đất
canh tác, nguồn tài nguyên thiên nhiên, vốn và cơ sở hạ tầng. Số lượng các yếu tố
sản xuất có trong một thời gian nhất định không quan trọng bằng tốc độ mà chúng
được tạo ra, nâng cấp và trở thành chuyên môn hóa hơn đối với các ngành công
nghiệp cụ thể. Có lẽ điều ngạc nhiên hơn là sự dồi dào của các yếu tố sản xuất có
thể hủy hoại thay vì thúc đẩy lợi thế cạnh tranh. Những bất lợi về các yếu tố sản
xuất, thông qua ảnh hưởng đến chiến lược và đổi mới, thường đóng góp vào thành
công lâu dài trong cạnh tranh.
Vai trò của các điều kiện về yếu tố sản xuất trong cạnh tranh dịch vụ phụ thuộc
vào hình thức của cạnh tranh quốc tế trong ngành dịch vụ cụ thể. Trong những dịch
vụ mà người mua được thu hút đến một quốc gia, các điều kiện về yếu tố sản xuất
thường đóng vai trò quan trọng đối với thành công. Ví dụ, du lịch phụ thuộc rất lớn
vào khí hậu và địa lý, và các dịch vụ giáo dục và sức khỏe phụ thuộc vào sự đào tạo
16
và kỹ năng của đội ngũ nhân viên bản địa. Các dịch vụ được phân phối chủ yếu bởi
những phương tiện và đội ngũ nhân viên trong nước rõ ràng cũng nhạy cảm với
những điều kiện yếu tố sản xuất nội địa. Tuy nhiên, trong những dịch vụ được phân
phối thông qua một mạng lưới cơ sở ở nước ngoài, những nhân tố quyết định của lợi
thế cạnh tranh quốc gia, bên cạnh những điều kiện yếu tố sản xuất, thường mang
tính chất quyết định. Trong dạng cạnh tranh dịch vụ này, hầu hết đội ngũ nhân viên
được thuê sống tại các quốc gia nơi mà dịch vụ được phân phối tới. Sự thành công ở
đây phụ thuộc nhiều hơn vào kỹ thuật, công nghệ và những đặc trưng dịch vụ đã
được phát triển tại chính quốc. Những điều kiện về cầu và những ngành hỗ trợ có
liên quan tỏ ra là những nhân tố quyết định trong nhiều ngành dịch vụ như thế này.
Trong các điều kiện về yếu tố sản xuất, vị trí địa lý đóng một vai trò quan
trọng trong một số ngành dịch vụ. Thế mạnh của Singapore trong ngành sửa chữa

nổi bật. Một quốc gia sẽ có lợi thế nếu cầu trong nước của nó hướng tới sự đa dạng
dịch vụ hoặc các phương thức tiếp cận dịch vụ mà các nước khác cũng có nhu cầu.
Một quốc gia nhỏ có thể cạnh tranh trong những phân đoạn chúng có một thị phần
quan trọng trong cầu trong nước trong khi phân đoạn đó lại có thị phần nhỏ về cầu ở
các nước khác, ngay cả khi có quy mô tuyệt đối lớn hơn. Các doanh nghiệp tại các
quốc gia nhỏ hơn thường áp dụng chiến lược toàn cầu trọng điểm, trong đó họ tập
trung vào một phân đoạn trên toàn bộ thị trường thế giới.
Những ngành liên quan và bổ trợ: Sự hiện diện lợi thế cạnh tranh quốc gia
trong các ngành nghề kinh doanh có liên quan và bổ trợ làm nảy sinh ra những
ngành dịch vụ khác, giống như ở trong các ngành sản xuất. Sự hiện diện của những
ngành cạnh tranh quốc tế trong một quốc gia có ba lợi ích cho những lợi thế quốc
gia đối với các ngành dịch vụ có liên quan: nó tạo ra những người mua khó tính ở
trong nước, tạo ra một cơ sở cầu ở nước ngoài, và kéo theo những ngành dịch vụ có
liên quan. Ví dụ như Marriot, một đối thủ cạnh tranh quốc tế hàng đầu trong kinh
doanh khách sạn cũng chiếm được vị trí dẫn đầu quốc tế trong hoạt động phục vụ
hàng không, các hoạt động kinh doanh liên quan đến thực phẩm và các ngành liên
quan đến tiếp đón khách.
18
Chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh nội địa: Cạnh tranh nội địa mạnh mẽ và
không bị hạn chế tạo ra một môi trường phong phú để phát triển các doanh nghiệp
dịch vụ có đẳng cấp thế giới. Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp kế toán của Mỹ
trong “Big Eight”, giữa rất nhiều ngân hàng Thụy Sỹ và nhiều doanh nghiệp bảo
hiểm của Anh cho ta nhiều ví dụ thú vị. Cạnh tranh trong hầu hết các ngành dịch vụ
liên quan tới sự tinh tế trong chi tiết, không ngừng cải tiến dịch vụ mới, và nhu cầu
khả năng đáp ứng cao cho người mua. Sự tồn tại của một nhóm những đối thủ trong
nước là một điều kiện thiết yếu để thành công trong loại môi trường kinh doanh
này. Ngược lại, việc thiếu hụt sự cạnh tranh có hiệu quả trong nước đồng nghĩa là
ngành dịch vụ của một quốc gia sẽ khó có thể thành công ở nước ngoài. Ví dụ,
trong ngành chứng khoán, bốn “đại gia” của Nhật Bản (Nomura, Daiwa, Nikko,
Yaimachi) có những vị trí được bảo vệ trên thị trường trong nước vì những quy định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status