ĐẠI HỌC Q U Ố C GIA HÀ NỘI
TRƯ Ờ N G ĐẠI HỌ C NGOẠI N G Ữ
"V
r p /1 \ ,
ỉ e n ã ẽ t à i
VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI NHẬT
THỂ HIỆN QUA THÁI ĐỘ, c ử CHỈ - HÀNH ĐỘNG
VÀ NGÔN NGỮ
Mã số QN 02-05
Chủ nhiêm đề tà i: G iảng viên :Phạm Văn N h a
Năm 2002
Mục lục
Nội dung
Trang
M ở đẩu
1
Phần /
5
Văn hóa ứng xử của người Nhật thể hiện qua thái độ, cử chỉ
Ị
hành động và ngôn ngữ.
I Văn hóa chào hỏi
7
1. ỉ. Văn hóa chào hỏi của người Việt
7
1.2 Văn hóa chào hỏi của người Nhật 8
I I Văn hóa giao tiếp
11
5. ỉ Văn hóa ứng xử với công việc cua người Việt
25
5.2 Văn hóa ứng xử với công việc cua người Nhật
27
5.2. a Tỉnh kê hoạch cao của người Nhật
28
5.2.b Tính nghiêm túc của người Nhật
29
5.3 Tỉnh cộng đông của người Nhật
30
5.4 Ỷ thức cháp hành luật pháp của người Nhật
31
5.5Tính chân thành của người Nhật
31
1
5.6Tính khiêm tôn
32
1 5. 7Tính điêm tĩnh 33
5.9 Tỉnh trầm
35
5.10 Lòng vị tha 36
5.11 Tỉnh hóm hỉnh
36
5.12 Tính hướng thượng ham học hỏi
37
5.13Lòng Nhăn ái
39
1
VI Văn hóa ứng x ử điện thoại
40
52
3. ỉ Khi gặp nhau ỉân đáu
52
3.2 Với ngircri cùng công ty
53
3.3 Với người khác công ty
54
3.4 Khi chưa kịp giới thiệu
55
3.5 Khi không mang danh thiếp
56
IV Ngôn từ dùng để giới thiệu người khác
57
4. ỉ Giới thiệu ngitời ngoài công ty’ với công t\' mình
57
4.2 Gới thiệu người công ty mình với công tykhác
58
4.3Khi giới thiệu người cùng phòng với người trong côn% ty
59
V Câu thăm hỏi xã giao sau nhiêu ngày gặp lại
5.1 Cảu chào thông thường sau nhiêu ngày gặp lại
5.2 Câu thăm hỏi sau cảu chào
VI Lời chúc đầu năm cuối năm
6.1 Cáu chúc đâu năm
6.2 Câu chúc cuôi năm
6.3 Những lời thoại ngăn sau khi chào
6.3 a Chủ đê thời tiêt
6.3 b Chủ để thương mại
VII Khen
7.1 Khen khi làm tốt công việc
9.4.b Khi người cản gặp có mặt nhưng chưa thê nghe ngav
83
9.4.C Cáu quy định nói với người bên kia chờ
84
9.4 d Yêu cá bên kia cho chỉ thị tiêp 84
9.4. e Hẹn gọi lại 85
9.4 .f Nhờ nhắn lại 86
9.4.g Khi có mặt nhimg không muôn nghe 87
9.4. h Khi đâu dây bên kia nói nhanh không nghe được
88
9.4. i Nhận tin nhăn
89
9.4.j Truyên đạt lại tin nhăn
90
9.4. k Điện thoại khán
91
9.4.1 Nhãn nhưng không thây điện lại
91
9.5 Nhâm sô
92
9.5. a Khi bị người khác gọi nhầm
92
9.5. b Xác nhận lại xen địa chỉ cần liên lạc đủng chưa
92
9.5. c Xin lôi khi gọi nhâm sô
93
9.6 Khi không nghe rõ tên và nội dung đàm thoại
93
9.6a Xác nhận lại tên người đàm thoại
94
Ỉ0.3.e Khi bị khước từ
103
10.4 Thúc giục
104
Ị 0.4. a Giục khéo
104
4
I0.4.b Giục thăng 105
Kết luận 106
Tài liệu tham khảo 108
0
Vãn hóa ứng x ử
Mở đầu
Văn hoá ứng xử đã đuợc hình thành từ neàn đời xưa, đến nav khôns
ngừng được củng cố và hoàn thiện. Trong văn hoá ứng xừ, có văn hoá ứnơ xử
với môi trường tự nhiên, văn hoá ứng xử trong môi trường xã hội. Đối với mồi
loại môi trường đều có hai cách ứng xử. Đó là tận dụng và đổi phó. Đổi với
môi trường tự nhiên, con người đã biêt tận dụng những ban phát của thiên
nhiên để sinh tồn như ăn, uống, ở, đi lạ i, giừ gìn sức khoẻ; tận dụng nó để tạo
ra các vật dụng hàng ngày làm cho cuộc sống con người càng thêm phong phú
hơn, tiện lợi hơn , dễ chịu hơn.v.v ; đồng thời phải đối phó với thiên tai như
bão, lũ, động đất, khô hạn.v.v Đối với môi trường xã hội là sự ứng xử giữa
con người với con người trong đời sống hàng ngày, sự ứng xử giữa các dân
tộc có nền văn hoá khác nhau, giữa các tôn giáo, giữa các quốc gia trên thế
giới.
Từ ngàn đời xưa, trên thế giới đã hình thành các vùng văn hoá khác biệt.
Và nổi bật về sự khác biệt đó là nên văn hoá phương Tây và nền văn hoá
phương Đông. Nguồn gốc sâu xa của sự khác biệt đó là do khác biệt về điều
kiện tự nhiên như thô nhưỡng, khí hậu,sông suối v.v và điều kiện xã hội như
lịch sử, tôn giáo.v.v. . Ngay trong một quốc gia cũng hình thành các vùng
thế giới, Nhật Bản cũng chịu tác động không nhò của nền văn hoá Âu - Mỹ ,
Nhưng Nhật bản vẫn giữ được các vẻ đẹp truyền thống ,văn hoá đẳc sắc cua
riêns mình.
Trong văn hoá, có văn hoá ứng xử, trong văn hoá ứng xử có văn hoá
giao tiếp bao gồm những phép tắc , những điều cần tránh, những điều nên làm
trong giao tiếp, cư xử đối với mọi người. Thứ văn hoá giao tiếp đời thườna
này nhiều khi lại cần thiết hơn cả văn hoá uyên bác. cao siêu, trìu tượng. Nấu
chi là những giao dịch thường ngày, không phải là những công việc chuyên
môn thì đâu có cần tới những tri thức khoa học cao siêu; nhưna chi một cử chi
không đẹp măt, một lời nói không vừa tai có thể bị xem là neười thiếu văn hoá.
Sự lịch lãm biêu lộ nhân cách đôi khi mang lại sự thành công hơn thône thái.
Nó anh hương không nho tói sự thành bại trong công việc.
Vãn hỏa ứng xứ
Trong văn hoá giao tiếp được thê hiện qua hai yèu tò cơ bán là cư chi
hành động và lời nói. Trong các môn học tại trường từ mẫu giáo ,vỡ lòng, qua
trung học đên đại học, chúng ta hãy thử xem những môn học nào dạy cho
thanh thiếu niên cách đối nhân xử thế?
Các môn học tự nhiên như : toán, lý, hoá, sinh, sừ, địa dạy cho họ
hiêu thê gới tự nhiên, các môn học này giúp họ hiêu và biết cách xử lý các
vấn đề chuyên môn khoa học? còn trong cuộc sống đời thường thì sao?
Môn văn và môn tiếng Việt thì dạy cho họ cách nói năng. Nhưng mới
chi là dạy nói và viêt sao cho đúng, cho văn vẻ chứ đâu có dạy cho họ cách
đối đáp trong các hoàn cảnh, tình huổng mà thường ngày họ sặp. c ổ nhân xưa
có câu: lời nói chẳng mất tiền mua, liệu lời raà nói cho vừa lòng nhau.
Ở phổ thông có môn đạo đức dạy cho đứa trẻ bôn phận đối với cha mẹ ,
anh em. bè bạn, thày cô. Còn môn giáo dục công dân . mục tiêu của môn học
này đúng như cái tên của nó, là giáo dục đê làm công dân chứ chưa phải là bài
học đối nhân xử thế.
Nhà trường không dạy , trách nhiệm này phó mặc cho gia đình và xã
hội. Trước kia, gia đinh làm công việc này khi họ còn là những đứa con trong
đi từ bộ phận đến tổng thể . Ngoài ra để giúp người đọc hiểu và dễ nắm băt
vấn đề, tác giả còn dùng phương pháp đối chiếu so sánh. Các phương pháp
này bổ xung cho nhau, hồ trợ lẫn nhau nhằm điều chỉnh những mâu thuẫn sai
sót khi gặp phải.
Nội dune nghiên cứu gôm hai phân là nshệ thuật ứng xử thông qua thái
độ, cử chỉ hành động và nghệ thuật ứnạ xử thông qua n2Ôn neừ tức là lời ăn
tiếng nói. Nói thê nào cho hay, nói thê nào cho đúns , nói thế nào thu phục
được lòng người?
4
Văn hóa ứng xù
Phần I
VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI NHẬT
THẺ HIỆN QUA THÁI ĐỘ, c ử CHỈ HÀNH ĐỘNG
Trong đời sống hàng ngày, người ta thường đánh giá con người bằng
hai từ nhân cách. Nhân cách được thể hiện qua phong cách và lời nói. Nhân
cách được nhắc tới ở mọi nơi, mọi lúc, mọi người không kê già, trẻ, trai, gái.
Khi giao tiếp, người ta thường chú trọng tới nhân cách. Trên đời, được người
đời kính trọng, khâm phục hay coi thường , khinh rẻ cũng bởi hai từ nhân
cách. Từ những chuyện thông thường giao tiếp trong cuộc sông hàng ngày nơi
học đường , nơi công cộng , trong gia đình đên các chuyện quan trọng như
giao tiếp làm ăn tại công ty, công sở người ta cũng chú trọng hai từ nhân cách.
Vậy nhân cách là gì? Nhân cách là cách ứng xử của con người trong gia
đình cũng như trong môi trường xã hội. Nhân cách là một hình thế xử lý cao
đẹp hoàn toàn chứng tỏ cho mọi người thấy răng mình là một con người có
giáo dục , có văn hoá. Nhân cách còn thể hiện qua hình thức xã giao tốt đẹp,
lịch sự nhất của một con người. Vậy thì Người Nhật chú trọng tới nhân cách
như thế nào? văn hoá ứng xử của người Nhật ra sao ? nó được thể hiện qua
các yếu tố nào? có gì giông và khác biệt với người Việt?
Con người khi mới sinh ra đã được tạo hoá ban cho một thê xác. Trong
thê xác có chứa đựng khối óc biêu thị cho linh hồn, tính thôna minh cùa mồi
ngày nay xử thế lại càng khó hon. Vậy ứng xử trên đời như thế nào cho phai?
Và đặc biệt ứng xử với người Nhật như thê nào cho đúns ? Đê trả lời cho các
câu hỏi nêu trên chúns ta lân lượt xét các yêu tô 2Ĩao tiêp sau đây.
6
Văn hóa ứng xú
I .Văn hoá chào hỏi
1.1 Văn hóa chào hoi cua người Việt.
Từ ngàn đời xưa, người Việt cũng đã rất coi trọng lời chào. Không biêt
tự bao giờ, người xưa đã có câu “Lời chào cao hom mâm co". Khi ớ nhà, sáng
ngứ dạy trông thấy nhau là chào; ra đường gặp naười quen cũng chào; ở
trường gặp thầy, gặp bạn cũng chào; ở công ty, cơ quan gặp đổng nghiệp cũng
chào. Thông thường, người dưới chào người trên trước. Người ít tuôi chào
người nhiêu tuôi trước. Chào là để gửi gắm tình cảm , đê tăng thêm tình thân
hữu. Lời chào thường gắn liền với nụ cười rạng rỡ. Chào xong ta cảm thấy
tinh thần thoải mái. Không được người khác chào, hoặc chào mà không được
đáp lại ta cảm thấy bực dọc, khó chịu .
Chào đã trở thành một nhu cầu tất yếu trong cuộc sổng hàng ngày. Tuỳ
theo mức độ thân - sơ mà phát ra câu chào phù hợp. Đối với người chưa
quen biết, khi đón khách cũng chào, khi tiễn khách cũng chào. Trong gia
đình: sáng dậy, khi ra khỏi nhà, khi về nhà thông thường con cháu phải chào
ông bà, cha me. Đó là đạo lý, đó là phong cách giao tiêp cua người Việt Nam
ta. Ai làm tốt được điều này được coi là con người có văn hoá ứng xử ; công
việc sẽ suôn sẻ hơn, thuận lợi hơn. Người nào có vẻ mặt lầm lỷ, ít chào hỏi thì
người đó bị coi là thiếu văn hoá ứng xử, ít được người khác ưa chuộng, cuộc
sổng cũng khó khăn hơn, công việc cũng kém phần thuận lợi hơn.
về cử chỉ, khi chào hỏi, tuỷ thuộc vào môi quan hệ mà có cừ chi khác
nhau. Chăns hạn khi gặp bạn bè thân quen thì cười T- gật đầu. Gặp cấp trên
hoặc người hon tuổi thì hơi cúi đầu + chào. Khi 2ặp bạn bè cùng lứa , hoặc ít
tuồi hơn thì vồ vai; nếu là cùne giới tính thì quàng vai bá cô . Lâu ngày gặp
lại thì bắt tay. Đổi với khách mới gặp lần đầu cũns bat ta \. Thôns qua cái bắt
8
Văn hóa úng x ứ
Khi chào, người Nhật cùng tươi cười, vui ve. Mặc dù trong công việc
người Nhật rất nghiêm túc. ở nhà, buổi sáng khi ngu dậy, họ cùng chào nhau
rất rôm rả. Khi ra khỏi nhà hoặc khi đi làm về lời chào không bao giờ thiếu.
Con chào cha, vợ chào chồng ríu rít như chim, nghe rất nahộ.
Cũng giống như người Việt, người Nhật quan niệm rằng chào hoi là đê
gửi gắm tình cảm, làm cho mọi người gần gũi nhau hơn, thân thiện nhau hơn,
quan hệ giữa người và người trở lên tốt đẹp hơn. Tác giả xin nêu ra một ví dụ
minh họa: Chuyện kể rằng có hai vợ chồng ôns bà già Nhật mới dọn tới một
nơi ở mới. Con cái ớ xa, người thân không có, người quen thì chưa. Điêu làm
bà vợ bất an nhất là ông chồng trước kia làm giám đốc một công ty, từ xưa tới
nay, mấy chục năm trời, ông toàn được cấp dưới chào trước, ô n g ta chưa từng
chào ai trước bao giờ. Nay về hưu, về nơi ớ mới , nếu cứ giữ thái độ đó thì
không được, mọi người sẽ xa lánh, khi trái gió trở trời, tai bay họa gió biết
trông cậy vào ai. Bởi vậy đây là nguyên nhân gây bât hòa trong quan hệ vợ
chồng giữa ông và bà vốn đầm ấm suốt bao năm trời. Bà thường rầy la ông là
gặp hàng xóm lána giêng không chào hỏi. Một hôm ra đường gặp hàng xóm,
ông lấy hết sức can dảm chào í ò ỉ ỉ X. õ — ế l ^ ằ. 't~(o ha yo go zai ma su ) và
được hàns xóm tươi cười chào lại ío ! ỉ ó I V ' ha yo go zai ma
su ) . Sau đó ông mới nhận ra rằna nếu mình chào họ trước thì họ cũng cởi
mơ, vui ve chứ đâu phải như từ trước tới giò' mình nahĩ rărì£ họ xa lánh mình.
Cúi đẩu chào nhau là tập quán truyền thống của người Nhật. Cúi đầu
chào là biêu thị sự kính trọng, biểu thị sự khiêm tốn; mong muốn quan hệ
giữa hai naười đầm âm, công việc được diễn ra suôn se. Thông thường Người
Nhật cúi sập người khoảng trên 90 độ tùy thuộc vào mối quan hệ thân sơ. Độ
cúi càng sâu càng biêu thị sự tôn kính càng lớn. Nêu chào không cúi đầu.
hoặc cúi không sâu bị coi là nRang bướng, cứne đâu ,cứn2 cổ. Thôna thường,
chù nhà chu độns cúi đâu chào khách trước, đôns thời khách chào đáp lề.
Người ít tuôi chu động cúi chào người hơn tuôi . cáp đưới chu độne cúi chào
Văn hóa ứng xử
II Văn hoá giao tiếp.
2. ỉ phong cách tiêp khách của người Việt ( khách hàng)
Từ xưa tới nay, dưới con mắt cua người nước ngoài, người Việt Nam
vẫn đượcxoi là hiếu khách, v ồn vã, cởi mở là đặc tính nôi bật cua người Việt
nam. Nhưne nói như vậy không phải là không có thiếu sót. Văn hoá nông
nghiệp ảnh hưởng không nhỏ tới phong cách giao tiếp của người Việt.
Việc tiếp đón khách hàng của các công ty thiếu chu đáo. ví dụ : giám
đốc vin vào lý do bận rộn, ít khi xuất hiện khi đi đón khách, tiếp khách. Khi
tiếp khách thì không đúng giờ hẹn, không chuân bị chu đáo cho nên thiếu
thông tin, thiếu tài liệu. Khi tiếp khách nơi công sở, mở tiệc tùng, chiêu đãi
khách, người Việt hay có thói quen ngồi bắt chân chữ ngũ , vừa rung đùi vừa
nói chuyện gây cho khách cảm giác quan liêu, thiếu nghiêm túc. Phong thái
ngồi khá thoải mái, hay ngả người về phía sau hoặc tựa lưng vào ghế làm cho
khách cảm thây chủ mệt mỏi muôn nhanh kết thúc cuộc trao đổi; trang phục
không chỉnh chu, nghiêm túc. Có người khi nói chuyện hay nhìn đi nơi khác,
hỏi nhưng không nghe câu trả lời v.v điều đó làm giảm lòng tin của khách.
Từ khi đất nước đổi mới, văn hoá danh thiếp mới tràn vào Việt nam cho
nên nhiều người chưa hiểu rõ vai trò và V nghĩa của tấm danh thiếp. Ví dụ khi
tiêp khách, nhiều người không có danh thiếp hoặc quên không mang danh
thiếp. Ngược lại có người quá lạm dụng danh thiếp; phát không hạn chế,
không đúng đối tượng, coi danh thiếp như một tấm quảng cáo để khoe về thân
thê và địa vị của minh .
Khi giới thiệu về mình hoặc về cône ty của mình thường thiếu khiêm
tôn, hay nói quá vê thành tích cá nhân hoặc thành tích của côns ty mình làm
giam lòng tin của đôi tác; gây hoài nahi cho đối tác; làm lộ bí mật của công ty.
11
Van hóa ứn$ x ứ
Lý do là vì nhiều người xuất thân từ nông thôn hoặc ít được giao tièp
quốc tế, cho nên chưa có kinh nshiệm , không hiêu được thói phép lịch sự tôi
2.2. c tiép khách
Khi tiếp khách, người Nhật thường có mặt tại nơi tiếp khách trước giờ
hẹn từ lOđến 15 phút. Họ không bao giờ đến sát giờ hẹn, hoặc đến trễ giờ hẹn.
Họ kiểm tra kỹ các yếu tố cần thiết như phòng tiếp khách, việc chuân bị của
thư ký, tài ỉiệu, dữ liệu chuẩn bị cho buổi làm việc sao cho đạt được kêt quả
cao nhât.
Khi khách đến, Chu nhà thường ra cửa hoặc xuống tận chân cầu thang
đón khách, đặc biệt không bao giờ có chuyện trễ giờ, khách đến mà không có
người đón. Thấy khách, người chủ cúi chào trịnh trọng rôi tiên hành trao danh
thiếp, giới thiệu sơ qua về mình.
Neười Nhật quan niệm về danh thiếp như sau:
Đổi với những người có liên quan tới công việc đối ngoại đặc biệt là làm
thương mại phải có danh thiếp. Khi tiếp khách, hoặc đi liên hệ công tác phải
mang theo danh thiếp. Khi tiếp khách, đối tác là nsười mới gặp lần đâu, nhất
thiết phải trao danh thiếp. Khi trao danh thiếp cần tuân thú theo các nguyên tẳc
T Khi trao danh thiếp phải hướne mặt có in các thône tin như tên tuôi.
chức >ụ, cơ quan, sổ điện thoại, địa chi w lên trên; hướng phần đầu
cua danh thiếp vê phía đối phươne để sao cho khi nhận họ có thê đọc
13
Văn hóa ứng x ứ
được dễ dàng . Phải trao băn2 hai tay, không được đưa một tay thiêu
lịch sự, thiếu tôn trọne khách .
£) Khi nhận danh thiếp từ phía đối tác cũng phải nhận băng hai tay. Khi
nhận không được bỏ ngav vào ví. Phải xem ngay, xác nhận các thông
tin trên danh thiếp tối thiều là tên và chức vụ. Khi danh thiếp in băng
chừ Nhật, không phiên âm la tinh thì cần xác nhận lại tên và cố gãng
nhớ tên không được nhầm lẫn. Trước mặt đôi tác không được viêt bât
cử cái gì vào danh thiêp của khách.
(3) Khi ngồi vào vị trí tiếp khách phải xếp danh thiếp lên bàn, phía trước
mặt theo thứ tự chồ ngồi cua khách cho dễ nhớ. Trường họp đông người,
khách khi nói chuyện là mất lịch sự bị đôi phương xa lánh; gây ấn tượng
không hay.
2.2.d tiền khách
Việc mời, đón khách quan trọne thế nào ihì viêc tiến khách cũng phái
chu đáo không kém . Không có chuyện đầu voi đuôi chuột. Khi tiễn khách
người chu tiếp khách thường tiễn khách ra tận xe; đứng chờ cho khách lên xe;
củi đầu chào khách; chờ cho tới khi xe đi khuất mới được về cho dù khách là
loại người như thê nào, đên với mục đích gì. Làm như vậy sẽ gây được cảm
tình của khách, công việc sẽ suôn sẻ và thuận lợi.
Những người đã từng đi công tác Nhật Bản, nhìn chung đều rất ngỡ
ngàng trước sự đón tiếp tận tình, chu đáo và trọns thị của neười N h ậ t. Đâv là
một điêm tốt cùa người Nhật chúng ta cần học tập.
2.2.e Các cảu hoi mà người Nhật hav hoi trong khi giao tiếp.
Vàn hóa ứng x ứ
Khác với người Âu, trong khi giao tiếp, dù gặp lân đâu, người Nhật
cũng vẫn thường hỏi các câu hỏi có tính cá nhân như bao nhiẻu tuồi? xảy dựnă
gia đình chưa? có mấy con? con trai hay con gái? lương tháng bao nhiêu.\ .V
Đối với người Nhật, các câu hòi này không có gì đặc biết, cũng được coi là
những câu xã giao thông thường. Thông qua các câu hòi này người nói muôn
nắm bất các thông tin về người nghe, biết được hoàn cảnh của người nghe, tìm
ra các nét tương đồng, tạo cho người nghe sự đông cảm vê mặt tâm lý. tạo
cảm giác gần gũi thân thiện. Người Nhật ứng xử rất tế nhị, đối với các câu hởi
khó trả lời, không bao giờ tò chối thẳng thừng mà trả lời tế nhị như: vừa cười
vừa nói : bí mật, hoặc trả lời : ông thừ đoán xem, hoặc trả lời những câu chung
chung như gần đúng.v.v
Người Nhật cũng hay đưa khách về thăm nhà riêng để tăng độ thân mật
và gây thiện cảm. Cũng như người Việt, ngoài công việc chung thì tình cảm
riêng tư cũng rất quan trọng và ảnh hưởng không nhỏ tới công việc chung. Vai
trò và môi quan hệ cá nhân cũng gây tác động không nhỏ tới thành côna của
công ty. Bởi vậy người Nhật không coi nhẹ yếu tổ này.
gọi điện trách cứ bộ phận trực phòng. Người khách tức giận phản ảnh về công
ty nơi họ nhờ đặt phòng. Công ty đặt phòng yêu cầu giám đốc khách sạn phải
trực tiêp xin lỗi khách. Nhưng giám đốc khách sạn đó cũng không xuất đầu lộ
diện đê xin lỗi khách. Ket cục, phía đối tác nước ngoài cấm công ty đối tác
Việt Nam không được đặt phòng cho khách của họ ở khách sạn đó nữa. Phần
thiệt đã thuộc về khách sạn. Hoặc côns ty Vinaphone gây nghẽn mạch, làm
nhỡ hàng ngàn cú điện thoại liên lạc của khách hàne mà cũns ỉchông hề có lời
xin lỗi. Mãi mây ngày sau, báo chí phê phán, đòi xin lỗi thì giám đốc
Vinaphone mới chịu đưa ra lời xin lỗi khách hàng. Hàng khòna Việt nam huỷ
bò chuyến bay cũng không hề có lời xin lỗi ; Côn2 ty đườna săt Việt Nam gây
tai nạn làm chêt hơn trăm con người nhưne khôns có lời xin lồi các sia đình
í -1 v ỹ ltt. 1 1 o '31 ;0
17 Tr<. ^ ; .C ];•] /!líj
Văn hóa ứng xử
nạn nhân mà chỉ gửi lời chia buồn tới các gia đình nạn nhân và hứa giúp họ
khắc phục hậu quả. Tất cà đều cho đó là chuyện đương nhiên, không việc gì
phải xin lỗi. Đây mới là một vài ví dụ trong hàng ngàn ví dụ mà người Việt
Nam ta thường đùn đẩy trách nhiệm cho nhau, đổ tại khách quan mà không
chịu nhận trách nhiệm về mình. Nghĩa là còn rất tiết kiệm hai từ cảm ơn và xin
Không chỉ thế, người Việt Nam thường có thói quen biện hộ. Khi vâp
phải sai lầm hoặc gây lỗi, thường không xin lỗi mà tìm mọi lý do chông chè.
biện hộ cho sai sót của mình; vì thế này, vì thế khác. Họ tìm cách đô lỗi cho
khách quan. Điều này, trong quan hệ hợp tác quốc tế là hoàn toàn không được.
Cảm ơn và xin lỗi là một nét văn hoá đẹp mà ai cũng phải cổ gang vận
dụng cho phù hợp với từng hoàn cảnh, từng điều kiện. Xử dụng đúng chỗ,
đúng lúc làm cho quan hệ con người tốt đẹp hơn , công việc thuận lợi hơn,
cuộc sống thêm vui hơn, hạnh phúc hon.
3.2 Văn hoá cảm ơn và xin lôi của người Nhật Ban.
Người Nhật xử dụng hai từ cảm ơn và xin lỗi này như thế nào? có điêu
gì khác với người Việt Nam không?
Người Nhật không chì cảm ơn bằng miệng, bằna điện thoại mà còn phải
viết thư cảm ơn kể cả những việc lẽ ra mình phải cảm ơn họ. Ví dụ: đoàn của
Đại học Quốc gia Hà Nội và đoàn của ĐHNN được mới sang dự lễ kỷ niệm 60
năm ngày thành lập học viện KUMAMOTO. Toàn bộ kinh phí họ chịu. Khi
vê , họ tặng quà cho mồi thành viên. Đích thân ông hiệu trưởng tiễn đoàn ra
tận sân bay. Thế nhưng, vài ngày sau lại nhận được thư cam ơn gửi cho từng
thành viên trong đoàn do hiệu trưởng ký nội dune cảm ơn đã sang dự lễ kỷ
niệm của họ mà phía ta mới chỉ cảm ơn miệng trước khi về. Đâv là một trong
hàng ngàn trường hợp coi trọne văn hoá cảm ơn của ngươi Nhật bản.
15