HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
HC VIN CHNH TR KHU VC I
PHAN VIT HNG
MộT Số GIảI PHáP ĐẩY MạNH PHáT TRIểN CÔNG NGHIệP,
TIểU THủ CÔNG NGHIệP TRÊN ĐịA BàN TỉNH VĩNH PHúC
TRONG GIAI ĐOạN HIệN NAY
LUN VN CAO CP Lí LUN CHNH TR - HNH CHNH
H NI, NM 2014
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CN-TTCN Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
KHCN Khoa học công nghệ
UBND Ủy ban nhân dân
GDP Tổng sản phẩm trong nước
WTO Tổ chức thương mại thế giới
2
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua việc phát triển CN-TTCN giữ vị trí quan trọng
và là nấc thang phát triển trong tiến trình CNH, HĐH đất nước. Phát triển
CN-TTCN sẽ góp phần quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế và quan trọng hơn cả là giải quyết việc làm, cải thiện thu nhập
và nâng cao đời sống cho người lao động.
Mục tiêu phát triển CN-TTCN là đẩy mạnh phát triển kinh tế của địa
phương, mặt khác góp phần thu hút đầu tư về vốn, khoa học công nghệ làm
tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội, giải quyết vấn đề việc làm, cải thiện đời
sống cho người lao động, đô thị hóa các vùng nông thôn, nâng cao dân trí.
Việc hình thành và phát triển các khu CN-TTCN sẽ góp phần tích cực trong
vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái nâng cao hiệu quả sử dụng đất, hiệu quả
đầu tư, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có môi trường sản xuất thuận lợi
nghiên cứu Luận văn cao cấp lý luận chính trị.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận chung về CN-TTCN với phát
triển kinh tế -xã hội.
- Phân tích thực trạng phát triển CN-TTCN ở tỉnh Vĩnh Phúc trong giai
đoạn 2005-2012.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh phát triển CN-
TTCN ở tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài
Tập trung nghiên cứu một số vấn đề chủ yếu liên quan tới việc phát
4
triển CN - TTCN và làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong
giai đoạn từ năm 2005-2012.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học: Phương pháp
lô gic – lịch sử, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phân tích và
tổng hợp, phương pháp nghiên cứu tài liệu và phân tích lý thuyết. Các phương
pháp trên được đặt trên nền tảng của phương pháp duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin.
Quan điểm, chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và
tình hình thực tế của địa phương.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn chia thành ba chương:
Chương 1: Một số lý luận về phát triển công nghiệp – tiểu thủ công
nghiệp trong nền kinh tế quốc dân.
Chương 2: Thực trạng phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên
địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp ở tỉnh Vĩnh phúc đến năm 2020.
5
vật chất bao gồm hệ thống các ngành chuyên môn hóa hẹp, mỗi ngành chuyên
môn hóa hẹp lại bao gồm nhiều đơn vị kinh doanh thuộc nhiều loại hình khác
nhau. Trên giác độ kỹ thuật công nghệ và hình thức tổ chức sản xuất, công
nghiệp còn được cụ thể hóa bằng các khái niệm khác nhau như: công nghiệp
và tiểu thủ công nghiệp; công nghiệp lớn; công nghiệp vừa và nhỏ; công
nghiệp nông thôn; công nghiệp quốc doanh và dân doanh.
1.1.1.2. Tiểu thủ công nghiệp
Tiểu thủ công nghiệp là những ngành nghề sản xuất mang tính chất thủ
công truyền thống, kỹ thuật sản xuất ở trình độ còn thô sơ, quy mô sản xuất
thường ở mức vừa và nhỏ. Ngày nay, với sự mở rộng quy mô sản xuất, kỹ
năng lao động, công nghệ sản xuất được cải tiến nhờ áp dụng KHCN mới đã
sản xuất ra sản phẩm nhiều hơn, năng xuất lao động cao hơn.
Sản phẩm của TTCN là những hàng hóa mang tính truyền thống vừa có
giá trị sử dụng vừa có giá trị thẩm mỹ cao… và thường chiếm ưu thế trên thị
trường trong nước cũng như quốc tế.
1.1.2. Đặc điểm của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.1.2.1. Đặc điểm của công nghiệp
Công nghiệp có nhiều đặc điểm khác biệt hoàn toàn với các ngành sản
xuất khác và được thể hiện như sau:
- Quá trình sản xuất công nghiệp:
Quá trình sản xuất công nghiệp có thể chia ra làm nhiều công đoạn
khác nhau, mỗi công đoạn có thể do một bộ phận trong dây chuyền sản xuất
hoặc do một bộ phận độc lập thực hiện. Sau đó chúng sẽ được kết nối, lắp ráp
7
lại với nhau thành một sản phẩm hoàn chỉnh theo thiết kế kỹ thuật.
Đặc điểm này cho phép các nhà quản lý, kinh doanh công nghiệp có thể
lựa chọn mức độ chuyên môn hóa sản xuất công nghiệp mang lại hiệu quả
kinh tế - xã hội cao nhất mà không nhất thiết phải thực hiện sản xuất hoàn
chỉnh một sản phẩm. Chẳng hạn, đối với quốc gia có công nghệ cao, nhiều
các ngành công nghiệp sử dụng nhiều vốn, ít lao động (như công nghiệp
luyện kim, dầu mỏ, hóa chất, xi măng…).
+ Căn cứ vào trình độ công nghệ sản xuất có thể chia ra các ngành công
nghiệp có trình độ công nghệ thấp (như công nghiệp dệt, may, sản xuất giày,
chế biến nông, lâm, thủy sản…); các ngành công nghiệp có trình độ công
nghệ trung bình (công nghiệp ô tô, cơ khí); các ngành công nghiệp có trình độ
công nghệ cao (công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, tự động hóa, vật liệu
mới, năng lượng mới, vũ trụ…).
Tuy nhiên, theo Giáo sư Kenichi Ohno (Nhật Bản) thì việc phân loại
công nghiệp theo trình độ công nghệ dựa vào các sản phẩm trong bối cảnh
phân công lao động quốc tế sâu rộng như hiện nay là không rõ ràng. Chẳng
hạn, quan niệm máy tính, máy kỹ thuật số… là các sản phẩm công nghệ cao,
còn các sản phẩm dệt may, sản xuất giấy, thực phẩm là các ngành công nghiệp
có công nghệ thấp là không đúng. Bởi vì, nếu chỉ hoạt động lắp ráp đơn thuần
trong lĩnh vực máy tính thì cũng không khác gì hoạt động gia công may mặc
xét về công nghệ sản xuất. Do đó, việc phân loại công nghệ nên căn cứ vào
công đoạn của sản xuất chứ không phải gắn với toàn bộ sản phẩm.
+ Căn cứ vào vị trí của ngành công nghiệp tham gia vào quá trình chế
biến nguyên liệu sơ cấp thành các bán thành phẩm trung gian và sản phẩm
cuối cùng, có thể phân chia thành các ngành công nghiệp sản xuất nguyên
9
liệu, hàng hóa trung gian và các ngành công nghiệp sản xuất các sản phẩm
cuối cùng, hay còn gọi là các ngành công nghiệp thượng nguồn, trung nguồn
và hạ nguồn:
* Ngành công nghiệp thượng nguồn khai thác và sản xuất các loại
nguyên liệu ban đầu cho công nghiệp chế biến như công nghiệp khai khoáng.
* Ngành công nghiệp sản xuất các sản phẩm trung gian như các ngành
sản xuất xi măng, luyện kim, vải…
* Ngành công nghiệp hạ nguồn sản xuất các sản phẩm cuối cùng như
may mặc, chế biến thực phẩm…
ngoài. Tuy nhiên, phải chú ý tới nguy cơ quốc gia có thể trở thành “bãi rác
công nghiệp” nếu nhập khẩu, chuyển giao công nghệ, thiết bị cũ kỹ, lạc hậu…
Đồng thời phải có chiến lược đầu tư nghiên cứu, ứng dụng công nghệ dựa trên
các nguồn năng lượng có khả năng sản sinh vô hạn và công nghệ thân thiện
với môi trường (công nghệ sử dụng “nhiên liệu sạch” như: năng lượng mặt
trời, sức gió, thủy triều, địa nhiệt…; hay công nghệ tiêu tốn ít, tiết kiệm tài
nguyên thiên hữu hạn (công nghệ sản xuất vật liệu mới thay thế vật liệu
truyền thống: nhựa, ván gỗ, thủy tinh, đá ốp lát nhân tạo…).
- Sản xuất công nghiệp có khả năng tập trung với mật độ rất cao trong
một không gian hạn chế. Vì vậy tính chủ động trong sản xuất công nghiệp
cũng rất cao, ít bị ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên.
Nhận thức đặc điểm này đòi hỏi trong chính sách phát triển công
nghiệp của Đảng và Nhà nước phải quan tâm xây dựng các khu, cụm công
nghiệp tập trung với các điều kiện kết cấu hạ tầng kỹ thuật thuận lợi cho sản
xuất công nghiệp. Chính đặc điểm này là cơ sở quan trọng để quản lý, cải tạo
môi trường làm việc, bảo đảm sức khỏe cho người lao động.
11
1.1.2.2. Đặc điểm của tiểu thủ công nghiệp
Tiểu thủ công nghiệp được hình thành gắn liền với ngành nghề truyền
thống, điều kiện tự nhiên của từng vùng, từng địa phương và có tính chất đặc
thù trong quá trình sản xuất. Trước tiên, sự ra đời của các ngành nghề TTCN
là do nhu cầu giải quyết lao động dư thừa ở nông thôn, lao động nhàn rỗi
giữa các mùa vụ và đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con người. Người thợ thủ
công làm nghề TTCN thường là những người nông dân, kết hợp giữa làm
nghề phụ với làm nông nghiệp. Do đó, ngành nghề TTCN thường được tồn
tại ở các vùng miền nông thôn và gắn bó chặt chẽ với người lao động nông
nghiệp mang sắc thái địa phương.
Công nghệ sản xuất của TTCN là thô sơ, quá trình sản xuất chủ yếu là
thủ công, phụ thuộc vào tay nghề của người thợ thủ công. Công cụ lao động
đa số là công cụ thủ công, công nghệ sản xuất mang tính đơn chiếc, đặc biệt là
do lượng phế thải nhiều không tận dụng được và do công nghệ sản xuất còn
thô sơ, lạc hậu.
Từ các đặc điểm trên đây, cho thấy trong chính sách phát triển TTCN
cần phải:
+ Khuyến khích hỗ trợ phát triển TTCN để tận dụng, khai thác tốt các
nguồn lực tại chỗ của các địa phương như nguyên vật liệu, lao động.
+ Phát triển các ngành nghề truyền thống, sản phẩm độc đáo mang sắc
thái riêng, đồng thời đa dạng hóa ngành nghề để đáp ứng nhu cầu của thị trường.
+ Cần phải có sự quản lý, hỗ trợ, giám sát của Nhà nước để TTCN phát
triển bền vững và hiệu quả.
13
1.1.3. Vai trò của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong nền
kinh tế quốc dân
1.1.3.1. Vai trò của công nghiệp
Công nghiệp có vai trò chủ đạo trong quá trình phát triển nền kinh tế do
công nghiệp có khả năng tạo ra động lực và định hướng sự phát triển của các
ngành kinh tế khác lên sản xuất lớn. Vai trò chủ đạo của công nghiệp đối với
các ngành kinh tế quốc dân là tất yếu khách quan, được xác định do những
đặc điểm mang tính bản chất của sản xuất công nghiệp, được Đảng và Nhà
nước ta đặc biệt quan tâm, có nhiều chính sách ưu tiên phát triển tầm vĩ mô,
nhất là trong thời kỳ mở cửa hội nhập quốc tế, trong tình hình nước ta hội
nhập sâu vào các tổ chức kinh tế thế giới, các hiệp định thương mại như: Tổ
chức Thương mại thế giới (WTO), AFTA, Công nghiệp là trọng điểm của
nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu hàng hóa đóng góp nguồn thu
ngân sách cho nhà nước, mở mang các ngành nghề mới, tạo nhiều việc làm,
cải thiện nâng cao thu nhập và mức sống cho người lao động ở địa phương.
Tăng trưởng và phát triển với tốc độ cao và mục tiêu đối với bất cứ
quốc gia nào trên thế giới, trong đó công nghiệp đóng góp một phần to lớn.
Đối với nước ta, công nghiệp càng có vai trò quan trọng trong quá trình
CNH, HĐH đất nước:
trọng trong quá trình CNH, HĐH đất nước. Công nghiệp vừa tạo ra thị trường
vừa tạo ra những điều kiện cần thiết thúc đẩy nông nghiệp phát triển.
Phát triển công nghiệp sẽ mở rộng thêm thị trường tiêu thụ sản phẩm
của nông nghiệp, nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm nông nghiệp, mở ra
những khả năng tiêu thụ những sản phẩm nông nghiệp đã được chế biến cả
trong nước và xuất khẩu. Công nghiệp cung cấp các yếu tố đầu vào cần thiết
15
và kéo theo là nâng cao trình độ công nghệ của sản xuất công nghiệp, nhờ đó
nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành và tăng chất lượng sản phẩm nông
nghiệp, làm tăng năng lực cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp.
Mặt khác, phát triển công nghiệp nhất là công nghiệp sử dụng nhiều lao
động sẽ có tác dụng thu hút lao động dư thừa trong nông nghiệp. Qua đó giúp
cho việc tổ chức, phân công lại lao động ở nông thôn.
Công nghiệp thúc đẩy gia tăng tỷ lệ sản phẩm xuất khẩu chế biến và đa
dạng hóa mặt hàng xuất khẩu.
Khi nền kinh tế ở trình độ thấp thì sản phẩm chủ yếu xuất khẩu là nông
lâm, thủy sản và các loại tài nguyên khoáng sản dưới dạng sản phẩm thô. Việc
xuất khẩu các mặt hàng này thường bị bất lợi về giá cả và chịu nhiều rủi ro.
Vì vậy, để gia tăng và nâng cao hiệu quả xuất khẩu cần phải đa dạng hóa mặt
hàng xuất khẩu, đặc biệt là các sản phẩm từ các ngành công nghiệp chế biến
và tăng hàm lượng chất xám hàng hóa, sản phẩm. Cần phát triển các ngành có
lợi thế cạnh tranh theo hướng chuyển dần từ các ngành có giá trị tăng gia thấp
sang các ngành có giá trị gia tăng cao, trong đó vai trò của công nghiệp là một
yếu tố quyết định. Quá trình phát triển công nghiệp của nước ta trong những
năm qua cho thấy, vai trò của công nghiệp đã có đóng góp nhất định vào
thang cơ cấu xuất khẩu theo hướng gia tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến.
Năm 2000, xuất khẩu hàng công nghiệp chỉ chiếm 67,3% tổng kim ngạch
xuất khẩu, thì năm 2009 đã tăng lên chiếm tới 70%, năm 2012 khoảng 74%.
- Phát triển công nghiệp thúc đẩy quá trình đô thị hóa.
Công nghiệp hóa và đô thị hóa là hai quá trình có mối liên hệ chặt chẽ,
cũng được thể hiện rất rõ ở nước ta trong những năm qua: Năm 2000, tỷ lệ lao
động trong công nghiệp là 13,1%, năm 2005, tỷ lệ lao động công nghiệp là
17
18,2%; đến năm 2011 là 22,4% nguồn lao động xã hội.
- Công nghiệp đóng góp vào tích lũy của nền kinh tế và nâng cao đời
sống nhân dân.
Công nghiệp là ngành có năng suất lao động và giá trị gia tăng cao, nên
việc tăng trưởng nhanh và hiệu quả trong công nghiệp sẽ có tác dụng tăng thu
nhập của nhân dân, tạo điều kiện gia tăng thuế, làm tăng nguồn thu cho ngân
sách Nhà nước, tích lũy vốn cho các doanh nghiệp, đáp ứng cho nhu cầu đầu
tư của nền kinh tế.
Quá trình phát triển công nghiệp trong điều kiện thị trường cạnh tranh
đồng thời là quá trình tích lũy năng lực khoa học và công nghệ của đất nước.
Quá trình phát triển công nghiệp đòi hỏi nâng cao chất lượng nguồn lao động
bao gồm: đội ngũ công nhân, đội ngũ chuyên gia KHCN, đội ngũ các nhà
lãnh đạo, quản lý kinh doanh công nghiệp. Nhờ đó công nghiệp tích lũy cho
nền kinh tế bao gồm: vốn tài chính, vốn con người, trình độ KHCN,…
1.1.3.2. Vai trò của tiểu thủ công nghiệp
- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Việc phát triển các ngành nghề TTCN có tầm quan trọng đối với quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH,
HĐH. Làm cho tỷ trọng của khu vực nông nghiệp ngày càng thu hẹp, tỷ trọng
của các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên.
Phát triển các ngành nghề TTCN sẽ là cầu nối giữa công nghiệp hiện
đại với nông nghiệp phi tập trung, làm cơ sở và tiền đề cho phát triển công
nghiệp, là bước trung gian chuyển từ nông thôn thuần nông, nhỏ lẻ, phân tán
lên công nghiệp lớn, hiện đại và đô thị hóa.
- Sử dụng hợp lý nguồn lao động nông thôn
Việc phát triển các ngành nghề TTCN cũng sẽ làm tích cực trong vấn đề
giải quyết việc làm, phân công lao động trong nông nghiệp, nông thôn; sử dụng
HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức, Nghị quyết Đại hội X của Đảng khẳng
định: Khuyến khích phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế tác,
công nghiệp phần mềm và công nghiệp hỗ trợ có lợi thế cạnh tranh, tạo nhiều
sản phẩm xuất khẩu và thu hút nhiều lao động… Phát huy sức mạnh tổng hợp
của các thành phần kinh tế, đa dạng hóa hình thức sở hữu và quy mô để phát
triển công nghiệp và xây dựng với cơ cấu ngành, nghề phù hợp. Nâng cao chất
lượng, sức cạnh tranh, hàm lượng khoa học công nghệ và tỷ trọng giá trị tăng
thêm, giá trị nội địa trong sản phẩm công nghiệp. Phát triển công nghiệp và xây
dựng gắn với phát triển dịch vụ, phát triển đô thị và bảo vệ môi trường…
Tập trung nguồn lực phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các ngành
công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, tạo ra sản phẩm xuất khẩu và thu hút nhiều
lao động như: Chế biến nông, lâm, thủy sản, may mặc, dày dép, đồ nhựa, đồ
gia dụng, cơ khí đóng tàu, thiết bị điện, thiết bị xây dựng, máy công nghiệp,
phương tiện giao thông, sản xuất và lắp ráp cơ – điện tử, công nghiệp hỗ trợ,
công nghiệp công nghệ thông tin, sản xuất phần mềm…
Khuyến khích, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia phát
triển mạnh các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu
sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng theo hướng hiện đại; ưu tiên thu hút đầu
tư của các tập đoàn kinh tế và các công ty xuyên quốc gia.
Khẩn trương thu hút vốn trong và ngoài nước đầu tư thực hiện một số
dự án quan trọng về khai thác dầu khí, lọc dầu và hóa dầu, luyện kim, cơ khí
chế tạo, hóa chất cơ bản, phân bón, vật liệu xây dựng, giảm bớt sự phụ thuộc
vào bên ngoài… có chính sách hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô. Thu hút
những chuyên gia giỏi, cao cấp của nước ngoài và trong cộng đồng người Việt
Nam ở nước ngoài.
Bên cạnh đó, việc ưu tiên phát triển các loại hình doanh nghiệp cũng
20
góp phần đẩy mạnh quá trình phát triển công nghiệp như Nghị quyết Đại hội
X của Đảng đã xác định: Mọi công dân có quyền tham gia các hoạt động đầu
tư, kinh doanh với quyền sử hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh được pháp
TTCN truyền thống phát triển.
Hỗ trợ về vốn, tài chính của nhà nước thông qua các dự án cấp vốn, ưu
tiên lãi suất cho vay của ngân hàng và các tổ chức tín dụng đối với những
người sản xuất, kinh doanh.
Tăng cường cơ hội mở rộng, tìm kiếm thị trường cho sản phẩm TTCN
nhất là các sản phẩm TTCN truyền thống, độc đáo có giá trị và tính thẩm mỹ
cao thông qua triển lãm, kỹ kết hợp đồng thương mại với thị trường ngoài
nước. Định hướng chiến lược cho các mặt hàng TTCN xuất khẩu có thế
mạnh, tạo điều kiện về vốn cho doanh nghiệp trong nước đổi mới công nghệ,
mẫu mã, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm hàng hóa, nâng cao sức
cạnh tranh trên thị trường.
Coi việc phát triển TTCN như là một biện pháp thực hiện CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn; một giải pháp phát triển kinh tế - xã hội nhằm tạo ra
nhiều việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân nông thôn.
Ban hành chính sách ưu đãi, khuyến khích như: chính sách miễn, giảm
tiền thuê đất, hỗ trợ xây dựng hạ tầng, chính sách tín dụng, hỗ trợ đào tạo lao
động… cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất các mặt hàng
TTCN truyền thống, độc đáo nhằm vừa mục đích phát triển kinh tế, vừa mục
đích giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Tiếp tục sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, coi
trọng việc phát triển TTCN gắn với quá trình phát triển kinh tế, Nghị quyết
Đại hội X của Đảng khẳng định: Hết sức coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp,
22
nông thôn. Đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông
thôn theo hướng sản xuất lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường;
thực hiện cơ khí hóa, hiện đại hóa, thủy lợi hóa nhằm nâng cao năng suất chất
lượng và sức cạnh tranh, phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng địa phương.
Tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và
các dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp. Tổ chức lại
sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp, tạo điều kiện để phát triển
1.238,62 km
2
, dân số 1.020,597 nghìn người, mật độ dân số trung bình 824
người/km
2
.
Tỉnh lỵ của Vĩnh Phúc là Thành phố Vĩnh Yên, cách trung tâm thủ đô
Hà Nội 50km và cách sân bay quốc tế Nội Bài 25km.
Vĩnh Phúc có nhiều đầu mối giao thông quan trọng qua tỉnh như: Quốc lộ
số 2, đường xuyên Á Hà Nội – Lào Cai – Côn Minh (Trung Quốc), đường sắt Hà
Nội - Lào Cai; liền kề cảng hàng không quốc tế Nội Bài, qua quốc lộ số 5 thông
với cảng Hải Phòng và quốc lộ 18 thông với cảng nước sâu Cái Lân, nằm trên
tuyến hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, hành lang
đường 18 và trong tương lai là đường vành đai IV, V của thành phố Hà Nội.
2.1.1.2. Địa hình, địa chất và thủy văn
Ngoài vị trí thuận lợi tỉnh Vĩnh Phúc còn có địa hình đất đai tiềm năng
bền vững cho sự phát triển. Với tổng diện tích tự nhiên là 1.238,62 km
2
bao
gồm đủ cả 3 vùng sinh thái là vùng núi, vùng trung du và vùng đồng bằng:
24
Vùng núi: gồm huyện Lập Thạch, Sông Lô và Tam Đảo với tổng diện
tích là 559,29 km
2
dân số của ba huyện là 280.589 người, mật độ trung bình
501 người/km
2
.
Vùng trung du: gồm các huyện Tam Dương, Bình Xuyên, thị xã Phúc
Yên, thành phố Vĩnh Yên với tổng diện tích là 427,64km
nhiều loại. Không kể vùng núi cao Tam Đảo, Vĩnh Phúc chủ yếu là bán sơn
25