Hoạt động huy động vốn của công ty cổ phần xây dựng và thương mại 299Chính sách và giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn - Pdf 25

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
- CÁC PHÒNG BAN CỦA CÔNG TY: 28
+ PHÒNG TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH 28
+ PHÒNG TÀI CHÍNH KẾ TOÁN 28
+ PHÒNG KINH TẾ KỸ THUẬT 28
+PHÒNG QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ 28
Lớp TCDNA-K10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
- CÁC PHÒNG BAN CỦA CÔNG TY: 28
+ PHÒNG TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH 28
+ PHÒNG TÀI CHÍNH KẾ TOÁN 28
+ PHÒNG KINH TẾ KỸ THUẬT 28
+PHÒNG QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ 28
Lớp TCDNA-K10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Viết đủ
1. NHTM Ngân hàng thương mại
2. NHCT Ngân hàng công thương
3. NH NN&PTNT Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
4. CPH Cổ phần hóa
5. DNNN Doanh nghiệp nhà nước
6. TNHH Trách nhiệm hữu hạn
7. SXKD Sản xuất kinh doanh
8. TSCĐ Tài sản cố định
9. KH Khấu hao
10. VCSH Vốn chủ sở hữu
11. TCT Tổng công ty
Lớp TCDNA-K10

quả huy động vốn trong doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng hoạt động huy động vốn của công ty cổ phần
xây dựng và thương mại 299.
Chương 3: Chính sách và giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn
tại công ty.
Đề tài này được hoàn thảnh bởi sự gợi ý của các thày cô giáo trong khoa,
cùng với sự giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi của các cô chú phòng kế toán
của công ty nơi tôi thực tập. Tuy nhiên, trong khuân khổ của chuyên đề tốt
nghiệp với thời gian hạn hẹp và nhiều mặt hạn chế nên những vấn đề nghiên
cứu trong khuân khổ này không thể trách khỏi những thiếu sót. Rất mong
nhận được sự góp ý, nhận xét của các thầy cô giáo và các bạn về vấn đề này.
Lớp TCDNA-K10
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ
SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 Nguồn vốn của doanh nghiệp
Để tiến hành và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh thì đều cần có
vốn. Vậy vốn là gì? Tại sao nó lại có vai trò quan trọng như thế đối với bất kỳ
doanh nghiệp nào. Với tầm quan trọng như vậy, việc tìm hiểu và nghiên cứu
cần phải bắt đầu từ việc làm rõ khái niệm cơ bản vốn và vai trò của vốn đối
với doanh nghiệp.
1.1.1. Khái niệm về vốn
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vốn được hiểu và quan niệm là toàn
bộ những giá trị ứng ra ban đầu vào các quá trình tiếp theo của doanh nghiệp.
Khái niệm này không những chỉ ra vốn không chỉ là một yếu tố đầu vào
quan trọng đối với các doanh nghiệp sản xuất mà còn đề cập tới sự tham gia
của vốn trong doanh nghiệp, trong cả quá trình sản xuất kinh doanh liên tục

1.1.2. Phân loại vốn
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp đều có một
phương thức và hình thức kinh doanh khác nhau. Nhưng mục tiêu của họ vẫn
là tạo ra được lợi nhuận tối đa cho chủ sở hữu, điều đó chỉ đạt được khi nguồn
vốn của doanh nghiêp luôn dồi dào được quản lý và sử dụng một cách hợp lý.
Vốn được phân ra và sử dụng tuỳ thuộc vào mục đích và loại hình
doanh nghiệp.
1.1.2.1. Phân loại vốn theo nguồn hình thành
a. Vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư góp vốn
liên doanh, liên kết và thông qua đó doanh nghiệp không phải cam kết thanh
toán. Do vậy vốn chủ sở hữu không phải là một khoản nợ.
* Vốn pháp định:
Vốn pháp định là số vốn tối thiểu mà doanh nghiệp phải có khi muốn
Lớp TCDNA-K10
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hình thành doanh nghiệp và số vốn này được nhà nước quy định tuỳ thuộc
vào từng loại hình kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp Nhà
Nước, số vốn này được ngân sách nhà nước cấp.
*Vốn tự bổ xung:
Thực chất loại vốn này là số lợi nhuận chưa phân phối (lợi nhuận lưu
trữ) và các khoản trích hàng năm của doanh nghiệp như các quỹ xí nghiệp
(Quỹ phúc lợi, quỹ đầu tư phát triển . . . )
*Vốn chủ sở hữu khác:
Đây là loại vốn mà số lượng của nó luôn có sự thay đổi bởi vì do đánh
giá lại tài sản, do chênh lệch tỷ giá ngoại tệ, do được ngân sách cấp kinh phí,
do các đơn vị thành viên nộp kinh phí quản lý và vốn chuyên dùng cơ bản.
b. Vốn huy động của doanh nghiệp
Ngoài các hình thức vốn chủ sở hữu thì doanh nghiệp còn một loại vốn

cũng có nghĩa là uy tín của công ty sẽ được thị trường chấp nhận. Doanh
nghiệp cũng có thể tiếp nhận máy móc và thiết bị nếu như trong hợp đồng liên
doanh chấp nhận việc góp vốn bằng hình thức này.
* Vốn tín dụng thương mại:
Tín dụng thương mại là khoản mua chịu từ người cung cấp hoặc ứng
trước của khách hàng mà doanh nghiệp tạm thời chiếm dụng. Tín dụng
thương mại luôn gắn với một lượng hàng hoá cụ thể, gắn với một hệ thống
thanh toán cụ thể nên nó chịu tác động của hệ thống thanh toán, cuả chính
sách tín dụng khác hàng mà doanh nghiệp được hưởng. Đây là một phương
thức tài trợ tiện lợi, linh hoạt trong kinh doanh và nó còn tạo khả năng mở
rộng cơ hội hợp tác làm ăn của doanh nghiệp trong tương lai. Tuy nhiên
khoản tín dụng thương mại thường có thời hạn ngắn nhưng nếu doanh nghiệp
biết quản lý một cách có hiệu quả thì nó sẽ góp phần rất lớn vào nhu cầu vốn
lưu động của doanh nghiệp.
* Vốn tín dụng thuê mua:
Trong hoạt động kinh doanh, tín dụng thuê mua là một phương thức giúp
Lớp TCDNA-K10
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cho các doanh nghiệp thiếu vốn vẫn có được tài sản cần thiết sử dụng vào
hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Đây là phương thức tài trợ thông
qua hợp đồng thuê giữa người cho thuê và doanh nghiệp. Người thuê sử dụng
tài sản và phải trả tiền thuê cho người thuê theo thời hạn mà hai bên đã thoả
thuận, người cho thuê là người sở hữu tài sản.
Tín dụng thuê mua có hai phương thức giao dịch chủ yếu là thuê vận
hành và thuê tài chính:
* Thuê vận hành:
Phương thức thuê vận hành(thuê hoạt động) là phương thức thuê ngắn
hạn tài sản. Hình thức này có các đặc trưng sau:
- Thời hạn thuê ngắn so với toàn bộ thời gian tồn tại hữu ích của tài sản,

1.1.2.2: Phân loại vốn theo hình thức chu chuyển:
a.Vốn cố định:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, sự vận động của nguồn vốn cố định
được gắn liền với hình thái biểu hiện vật chất của nó là tài sản cố định. Vì
vậy, việc nghiên cứu về nguồn vốn cố định trước hết phải dựa trên cơ sở tìm
hiểu về tài sản cố định.
* Tài sản cố định:
Căn cứ vào tính chất và tác dụng trong khi tham gia vào quá trình sản
xuất, tư liệu sản xuất được chia thành hai bộ phận là đối tượng lao động và tư
liệu lao động. Đặc điểm cơ bản của tư liệu lao động là chúng có thể tham gia
một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào chu kỳ sản xuất. Trong quá trình đó,
mặc dù tư liệu lao động sản xuất có thể bị hao mòn nhưng chúng vẫn giữ
nguyên hình thái vất chất ban đầu. Tư liệu sản xuất chỉ có thể được đem ra
thay thế hay sửa chữa lớn, thay thế khi mà chúng bị hư hỏng hoàn toàn hoặc
chúng không còn mang lại giá trị kinh tế cho doanh nghiệp.
Tài sản cố định phải là những vật phẩm thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp, trong một quan hệ sản xuất nhất định. Bản thân tính sử dụng lâu dài
và chi phí cao vẫn chưa có thể là căn cứ duy nhất để xác định tài sản cố định
Lớp TCDNA-K10
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nếu nó không gắn liền với một quyền sở hữu thuộc về một doanh nghiệp, một
cơ quan, hợp tác xã
Theo quy định hiện hành thì những tư liệu lao động nào đảm bảo đáp
ứng đủ hai điều kiện sau thì sẽ được coi là tài sản cố định:
- Giá trị của chúng >= 10.000.000 đồng
- Thời gian sử dụng >= 1 năm
Để tăng cường hiệu quả trong công tác quản lý tài sản cố định cũng như
vốn cố định và nâng cao hiệu quả sử dụng chúng thì cần có các phương án
tuyển chọn và phân loại chúng:

- Tài sản cố định chưa cần dùng
- Tài sản cố định không cần dùng chờ thanh lý
Cách phân loại này phần nào giúp cho doanh nghiệp có thể hiểu và kiểm
soát dễ dàng các tài sản cuả mình.
b. Vốn lưu động.
* Tài sản lưu động:
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh vốn lưu động và cố định luôn song
hành trong cả quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên tài
sản lưu động nằm rải rác trong các khâu thuộc quá trình sản xuất kinh doanh.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì tài sản lưu động thường
chiếm một tỷ lệ khá cao thường chiếm khoảng 50% - 60% tổng tài sản của
doanh nghiệp.
Tài sản lưu động khi tham gia quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
thường là không giữ được giá trị hình thái vật chất ban đầu. Là bộ chủ thể
tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh và thông qua quá trình sản xuất tạo
thành thực thể của sản phẩm, bộ phận khác cùng tham gia trong quá trình này
bị biến đổi hay hao phí theo thực thể được hình thành. Đối tượng lao động chỉ
tham gia vào một quá trình, chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do
Lớp TCDNA-K10
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đó toàn bộ giá trị của chúng được chuyển một lần vào sản phẩm và được thực
hiện khi sản phẩm trở hành hàng hoá.
Đối tượng lao động trong các doanh nghiệp được chia thanh hai phần:
- Bộ phận hàng dự trữ: Đây là loại hàng dự trữ đảm bảo cho quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh nghiệp không bị gián đoạn.
- Bộ phận vật tư đang trong quá trình chuyển đến cho quá trình chế biến; bán
thành phẩm, sản phẩm dở dang, vật tư, nguyên vật liệu khác chúng tạo thành các
tài sản lưu động nằm trong các khâu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Bên cạnh tài sản cố định nằm trong khâu sản xuất kinh doanh của doanh

sẽ mang lại cho doanh nghiệp nhiều điều kiện trên thị trường. Một doanh
nghiệp được đánh giá là quản lý vốn lưu động tốt, có hiệu quả khi mà doang
nghiệp biết phân phối vốn một cách hợp lý cho các quyết định đầu tư của
mình và qua đó thì nó sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp.
Căn cứ vào hình thái biểu hiện vốn lưu động bao gồm:
- Vốn vật tư hàng hoá: là các khoản vốn có hình thái biểu hiện bằng hiện
vật cụ thể như nguyên vật liệu, sản phảm dở dang, bán thành phẩm, thành
phẩm
- Vốn bằng tiền: Bao gồm các khoản tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ, tiền
gửi ngân hàng, các khoản thanh toán, các khoản đầu tư ngắn hạn.
Các doanh nghiệp dù hoạt động theo mô hình nào, to hay nhỏ thì một
nhu cầu không thể thiếu được đối với các doanh nghiệp đó là vốn. Nó là tiền
đề cho quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp.
Khi các doanh nghiệp đảm bảo nhu cầu về vốn thì doanh nghiệp đó có
khả năng chủ động trong các hình thức kinh doanh, thay đổi công nghệ, mua
sắm trang thiết bị hiện đại phục vụ cho kinh doanh, điều này khá quan trọng
vì nó sẽ giúp doanh nghiệp hạ được giá thành sản phẩm, thu được lợi nhuận
cao và đáp ứng được nhu cầu trong xã hội.
1.2 Công tác huy động vốn của doanh nghiệp.
1.2.1 Sự cần thiết của công tác huy động vốn đối với hoạt động của
doanh nghiệp.
Mỗi doanh nghiệp khi mới thành lập đều có một số vốn ban đầu, số vốn
này sẽ giúp doanh nghiệp đầu tư cơ sở vật chất, nguyên vật liệu và đưa vào
hoạt động. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động tiếp theo doanh nghiệp phải
Lớp TCDNA-K10
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tiếp tục huy động thêm những nguồn vốn mới và mở rộng nguồn vốn cũ bởi
những nguyên nhân sau:
Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang phát triển mạnh mẽ làm cho

động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do đó mỗi doanh nghiệp đều
luôn quan tâm đến công tác huy động vốn nhằm không ngừng mở rộng nguồn
vốn củ doanh nghiệp mình để có thể đáp ứng được những đồi hỏi liên tục của
thị trường.
1.2.2 Cơ cấu vốn và các phương thức huy động vốn của doanh nghiệp
1.2.2.1 Vai trò của VCSH và các phương thức huy động VCSH
a. Vai trò của VCSH
Như phân tích ở trên, vốn là điều kiện tiên quyết để các doanh nghiệp
duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh, đồng thời là cơ sở để phân phối và
đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp để duy trì và mở rộng hoạt
động kinh doanh, doanh nghiệp có thể dựa và hai nguồn vốn cơ bản là vốn
chủ và vốn nợ vay. Tuy nhiên, không một doanh nghiệp nào có thể tồn tại
vững chắc nếu chỉ dựa vào nguồn vốn đi vay bởi vốn chủ là một nguồn vốn
quan trọng là lá chắn cho doanh nghiệp trước những biến cố bất lợi của thị
trường cụ thể.
Trong điều kiện môi trường kinh doanh có nhiều biến động,doanh
nghiệp có thể gặp nhiều rủi ro trong kinh doanh đó là việc phải chi trả nợ và
lãi vay trong khi hoạt động không hiêu quả. Nếu không có một lượng tiền lớn
đến thanh toán các khoản nợ, đồng nghĩa có thể đẩy doanh nghiệp tới nguy cơ
phá sản. Ngược lại, nếu doanh nghiệp có một số vốn đủ lớn sản xuất không
phụ thuộc nhiều vào nợ vay có thể giúp doanh nghiệp không phải đối mặt với
những dòng tiền ra trong tương lai gần giúp doanh nghiệp có thể trụ vững và
vượt qua thời điểm khó khăn.
Việc sử dụng vốn CSH cũng giúp doanh nghiệp có thể chủ động trong
kinh doanh tuy sử dụng vốn nợ thường có chi phí rẻ hơn nhưng kèm theo đó
có thể là những điều kiện ràng buôc đối với doanh nghiệp. Chẳng hạn nếu vay
Lớp TCDNA-K10
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vốn từ các tổ chức tín dụng doanh nghiệp có thể phải chịu sự kiểm tra giám

điểm, tính chất của nguồn vốn VCSH khác nhau bởi hình thức sở hữu sẽ
quyết định đến hình thức vốn của doanh nghiệp. Cụ thể:
Với doanh nghiệp Nhà nước, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư của
Nhà nước và Nhà nước cũng là chủ sở hữu của doanh nghiệp. Hiện nay, cơ
chế quản lý tài chính nói chung và quản lý vốn của doanh nghiệp Nhà nước
đang có những thay đổi để phù hợp với tình hình thực tế.
Đối với loại hình doanh nghiệp khác, chủ doanh nghiệp phải có một số
vốn ban đầu để đăng ký thành lập theo quy định. Số vốn ban đầu này lớn hay
nhỏ sẽ phụ thuộc vào lĩnh vực mà doanh nghiệp tham gia hoạt động và loại
hình tổ chức của doanh nghiệp.
Đối với công ty cổ phần, vốn góp ban đầu là do cổ đông đóng góp và
mỗi cổ đông đều có vai trò là chủ sở hữu của công ty và chỉ chịu trách nhiệm
hữu hạn với các vấn đề của công ty trên phạm vi số vốn góp của mình.
Đối với doanh nghiệp tư nhân, chủ doanh nghiệp chỉ cần đăng ký với cơ
quan chuyên trách về số vốn tự có ban đầu để xin cấp giấy phép kinh doanh.
Tuy nhiên, trong một số lĩnh vực kinh doanh như ngân hàng, vàng bạc đá
quý… thì đòi hỏi phải có một số vốn pháp định theo quy định của pháp luật.
Đối với các loại hình doanh nghiệp khác như công ty TNHH, công ty có
vốn đầu tư trực tiếp nước ngòai (FDI) thì nguồn vốn góp ban đầu cũng tương
tự như trên, tức là vốn có thể do chủ đầu tư bỏ ra, do các bên tham gia, các
đối tác góp… tỷ lệ và quy mô góp vốn của các bên tham gia công ty phụ
thuộc vào các yếu tố khác nhau (như luật pháp, đặc điểm ngành kinh tế - kỹ
thuật, cơ cấu liên doanh).
* Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia
Mỗi doanh nghiệp có một quy mô vốn ban đầu nhất định và thông
thường, số vốn này sẽ được tăng thêm cùng với sự phát triển của doanh
nghiệp. Trong quá trình kinh doanh, một doanh nghiệp hoạt động hiệu quả sẽ
có điều kiện giữ lại một phần lợi nhuận không chia để tăng vốn. Từ đó doanh
Lớp TCDNA-K10
16

17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
lớn nhất thị trường nhưng luôn được các nhà đầu tư coi là chứng khoán quan
trọng nhất. Các cổ đông nắm giữ cổ phiếu thông thường chính là những người
chủ sở hữu của doanh nghiệp và họ có quyền tham gia kiểm soát và điều
khiển của công việc của doanh nghiệp, có quyền đối với tài sản và sự phân
chia tài sản hoặc thu nhập của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp
phá sản thì các cổ đông chỉ được đền bù sau khi doanh nghiệp đã thực hiện
xong nghĩa vụ thanh toán đối với các chủ nợ nên rủi ro của các cổ đông là lớn
hơn so với các chủ nợ.
Cổ phiếu ưu tiên là loại cổ phiếu ít thông dụng hơn so với cổ phiếu
thường và chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số cổ phiếu được phát hành.
Tuy nhiên trong một số trường hợp, việc dùng cổ phiếu ưu tiên lại thích hợp.
Cổ phiếu ưu tiên có đặc điểm là nó thường có cổ tức cố định. Người nắm giữ
cổ phiếu ưu tiên được hưởng quyền lợi là được thanh toán lãi trước cổ đông
thường, tức là nếu số lãi chỉ đủ để trả cổ tức cho các cổ đông ưu tiên thì các
cổ đông thường sẽ không được nhận cổ tức của kỳ đó. Đối với mỗi doanh
nghiệp cổ phần thì quyền lợi dành cho các cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi
có thể khác nhau và chính sách ưu đãi cho cổ phiếu ưu tiên được nêu rõ trong
điều lệ của từng doanh nghiệp.
Như vậy, loại hình doanh nghiệp cổ phần có được ưu điểm là quyền sở
hữu tách rời quyền sử dụng một cách tương đối nên bộ máy quản lý doanh
nghiệp có thể chủ động sử dụng có hiệu quả số vốn của doanh nghiệp. Hơn
nữa trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp có thể huy động thêm vốn chủ
một cách thuận lợi thông qua hoạt động phát hành cổ phiếu mới. Tuy vậy,
việc tăng thêm vốn bằng phát hành cổ phiếu mới cũng có một số hạn chế. Đó
là không phải doanh nghiệp cổ phần nào cũng có khả năng tiếp cận tới nguồn
vốn này mà chỉ những doanh nghiệp cổ phần đạt được một số tiêu chí về tài
chính mới được phát hành cổ phiếu bổ sung. Ngoài ra, việc dùng hình thức
này có thể dẫn đến "hiệu ứng pha loãng" làm giảm giá trị cổ phần của cổ đông

Lớp TCDNA-K10
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nghiệp
Quy mô vốn của doanh nghiệp có tác động rất lớn đến hoạt dộng sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do đó mỗi doanh nghiệp đều luôn quan
tâm đến công tác huy động vốn nhằm không ngừng mở rộng nguồn vốn của
doanh nghiệp mình để có thể đáp ứng được những yêu cầu của thị trường.
Tuy nhiên khi tiến hành hoạt động huy động vốn mỗi doanh nghiệp lại phải
giải quyết những vấn đề khác nhau do các yếu tố chủ quan và khách quan ảnh
hưởng trực tiêp đến hoạt động này, đó là:
1.2.3.1 Yếu tố chủ quan.
*Chính sách huy động vốn của doanh nghiệp
Tùy vào mục tiêu, kế hoach của mỗi doanh nghiệp mà các doanh nghiệp
sẽ tự hoạch định chính sách huy động vốn cho riêng doanh nghiệp mình, điều
này ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động mở rộng nguồn vốn của doanh
nghiệp bởi chính sách huy động vốn sẽ quyết định khối lượng vốn, nguồn vốn
và các hình thức huy động mà doanh nghiệp sử dụng. Tuy vậy, dù có theo
đuổi chính sách huy động vốn khác nhau thì định hướng của mỗi doanh
nghiệp là đều phải đảm bảo những mục tiêu cơ bản đó là khối lượng nguồn
vốn dự tính huy động được phải đảm bảo đáp ứng đủ và kịp thời cho nhu cầu
sản xuất cũng như kế hoach đầu tư của doanh nghiệp. Hơn nữa nguồn vốn
huy động phải phù hợp với đặc điểm, quy mô của doanh nghiệp để công tác
huy động vốn vừa đạt hiệu quả và vẫn đảm bảo cân bằng giữa rủi ro và lợi
nhuận cho doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp có chính sách huy động vốn hợp
lý thì hiệu quả của công tác mở rộng nguồn vốn sẽ đạt được kết quả cao.
Như vậy chính sách huy động vốn của doanh nghiệp sẽ tác động trực tiếp
tới công tác huy động vốn của doanh nghiệp dố.tuy nhiên,chính sách huy
động vốn lại phụ thuộc vào một số yếu tố ,đó là những yếu tố khách quan và
yếu tố nội tại của công ty

khả năng trụ vững trước sự biến động của thị trường nên khó phá sản hơn các
doanh nghiệp nhỏ
Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp cũng là nhân tố ảnh hưởng trực
Lớp TCDNA-K10
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tiếp đến khả năng huy động vốn của doanh nghiệp,việc doanh nghiệp có kết
quả kinh doanh tốt đồng nghĩa với doanh nghiêp đang sử dụng đồng vốn có
hiệu quả ,như vậy trước hết doanh nghiệp sẽ có thể có một khoản lợi nhuận
giữ lại đáng kể để tái đầu tư.đây là nguồn vốn quan trọng vì có rủi ro thấp và
chi phí thấp
1.2.3.2 Yếu tố khách quan
*Môi trường kinh tế
Sự phát triển hay suy thoái của nên kinh tế ,của từng ngành kinh tế có tác
động trực tiếp tới cơ cấu vốn và hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp cụ thể:
Nền kinh tế phát triển nói chung sẽ là cho hoạt động của các ngành kinh
tế đều phát triển theo và từ đó hoạt động của doanh nghiệp cũng trở nên dễ
dàng hơn, việc sản xuất và tiêu thụ hàng hóa dễ dàng,kết quả sản xuất kinh
doanh khả quan sẽ giúp doanh nghiêp nâng cao uy tín, vị thế trên thị trường.
Doanh nghiệp vừa có thêm nguồn vốn bổ xung từ lợi nhuận giữ lại, vừa có
khả năng tiếp cận tới nhiều nguồn vốn huy động từ thị trường như vốn vay
ngân hàng, vốn từ trong dân cư thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Như
vậy, toàn nền kinh tế phát triển sẽ giúp cho hoạt động huy động vốn của các
doanh nghiệp trở nên dễ dàng hơn.
*Môi trường pháp lý
Hệ thống pháp luận chính là kim chỉ nam cho hoạt động cảu mọi chủ thể
trong xã hội,trong đó có doanh nghiệp.chính vì vậy,một môi trường pháp lý với
hệ thống các quy định pháp luật chi tiết và đồng bộ và khoa học sẽ tạo điều kiện
tốt cho hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và hoạt động vốn nói riêng
được thuận lợi.hệ thông pháp luật và những quy định kiên tục được nghiên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status