Cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu mặt hàng dệt may của Việt Nam khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU đc ký kết - Pdf 25

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Quang Minh
MỤC LỤC
Trang
Trang 1
Principal Component Aalysis 2
LỜI MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Sinh viên: Đỗ Hà Vân Lớp: TC28D
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Quang Minh
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt
Nghĩa đầy đủ
Tiếng Anh Tiếng Việt
1 EC European Committee Uỷ ban châu Âu
3 EU European Union Liên minh châu Âu
4 KNXK Kim ngạch xuất khẩu
5 WTO World Trade Orgnization Tổ chức thương mại thế giới
6 FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do
7 ILO
International Labor
Organization
Tổ chức Lao động Quôc tế
8 ASEAN
Asociatioon of Souht – East
Asian Nations
Hiệp hội các nước Đông Nam
Á
9 GATT
General Agreement on Tariff
anh trade

1.Tính cấp thiết của đề tài 1
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Sinh viên: Đỗ Hà Vân Lớp: TC28D
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Quang Minh
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 20 năm đổi mới, cải cách, mở cửa phát triển nền kinh tế theo cơ chế
định hướng xã hội chủ nghĩa, ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đã trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn hướng ra xuất khẩu và ngày càng khẳng định vai trò không
thể thiếu trong đời sống kinh tế - xã hội. Trước xu thế hội nhập của nền kinh tế khu
vực và thế giới, dệt may Việt Nam càng đứng trước nhiều cơ hội và thách thức lớn.
Với những quy định của Hiệp định Thương mại về hàng dệt và may mặc đối với các
thành viên của WTO và những cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO đối với
ngành dệt may có tác động trực tiếp tới ngành dệt may Việt Nam. Ngành dệt may
đang đứng trước vận hội mới, thâm nhập và phát triển thị trường mới, giữ vững thị
trường truyền thống là vấn đề được đặt ra hiện nay.
EU là thị trường tiêu thụ hàng dệt may lớn nhất thế giới đồng thời cũng là bạn
hàng truyền thống của dệt may xuất khẩu Việt Nam. Nhưng trong thời gian qua,
kim ngạch xuất khẩu dệt may sang EU còn rất khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm
năng phát triển ngành dệt may của Việt Nam cũng như nhu cầu tiêu thụ của EU.
Chính vì vậy, vấn đề đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang EU trong
thời gian tới là hết sức thiết thực.
Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU có hiệu lực, hàng hóa xuất khẩu
sang EU sẽ được hưởng ưu đãi về cắt giảm các loại thuế quan đó là điều kiện thuận
lợi cho hàng dệt may Việt Nam phát triển, nâng cao lợi thế cạnh tranh, mở rộng thị
trường … nhưng đi kèm với cơ hội là những thách thức không nhỏ đối với việc xuất
khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường EU. Đó là những vấn đề cấp bách đòi
hỏi chúng ta phải xem xét kỹ lưỡng những cơ hội và thách thức của hàng dệt may
Việt Nam khi xâm nhập vào thị trường EU mà Hiệp định Thương mại tự do Việt
Nam – EU mang lại. Xuất phát từ lý do đó, em xin chọn đề tài “Cơ hội và thách

CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO
VIỆT NAM - EU VÀ GIỚI THIỆU VỀ THỊ TRƯỜNG DỆT MAY EU
1.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về Hiệp định thương mại tự do
1.1.1. Khái niệm
Để có được cái nhìn toàn diện về khái niệm Hiệp định Thương mại tự do
(FTA), cần bắt đầu từ Hiệp định Thương mại Khu vực (RTA). Hiệp định Thương
mại Khu vực (RTA) là thuật ngữ đã được khung khổ GATT/WTO thống nhất
dùng để chỉ các thoả thuận tự do hoá thương mại giữa các thành viên của
GATT/WTO trên nguyên tắc có đi có lại trong phạm vi điều chỉnh các điều
khoản như Điều khoản XXIV/GATT , Điều khoản V/GATT và Điều khoản cho
phép (Enabling Clause 1979). Theo đó, khái niệm RTA của GATT/WTO là
dùng để chỉ hai hình thức hội nhập kinh tế là Khu vực thương mại tự do (Free
Trade Area) và Liên minh thuế quan (Custom Union – CU).
Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) tại điều XXIV điểm 8b
ghi rõ: Một khu vực thương mại tự do được hiểu là một nhóm gồm hai hay nhiều
các lãnh thổ thuế quan, trong đó, thuế và các quy định mang tính hạn chế về
thương mại (ngoại trừ, trong chừng mực cần thiết, các hạn chế được phép theo
quy định của các điều XI, XII, XIII, XIV, XV và XX) sẽ bị dỡ bỏ đối với phần
lớn các sản phẩm có xuất xứ từ các lãnh thổ đó và được trao đổi thương mại giữa
các lãnh thổ lập thành khu vực mậu dịch tự do. Xét từ góc độ pháp lý, Hiệp định
thương mại tự do (FTA) là dạng hiệp định quá độ làm cơ sở pháp lý cho việc
hình thành một Khu vực thương mại tự do hoặc một Liên minh thuế quan sau
mootk khoảng thời gian nhất định .
Hội nhập kinh tế khu vực được trải qua nhiều cấp độ , FTA là bước đầu tiên
trong đó thuế quan và các rào cản phi thuế quan (NTBs) được loại bỏ đối với
hàng nhập khẩu trong nội bộ khu vực, nhưng chính mỗi thành viên vẫn duy trì
rào cản thương mại đối ngoại của mình. FTA truyền thống được hiểu là: “Một
nhóm hai hoặc nhiều nước cùng nhau loại bỏ thuế quan và hầu hết các rào cản phi
thuế quan gây tác động đến thương mại giữa các nước, trong khi đó mỗi nước vẫn
áp dụng lộ trình thuế quan độc lập của riêng mình đối với hàng hoá nhập khẩu từ

đặc biệt là khi có sự tham gia của “các nền kinh tế mới nổi” (ví dụ: Trung Quốc, Ấn
Độ, Liên bang Nga, Brazil), tạo ra một mạng lưới chằng chịt FTA trong hệ thống
thương mại toàn cầu. Các FTA đã cho thấy những ưu thế vượt trội của mình, trở
thành một xu hướng đang phát triển rất mạnh mẽ trong những năm gần đây.
Sinh viên: Đỗ Hà Vân Lớp: TC28D
4
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Quang Minh
1.1.2. Các nội dung chủ yếu của hiệp định
•Thương mại hàng hoá
Đối với rất nhiều hiệp định FTA, thương mại hàng hoá là lĩnh vực quan tâm
chính của các bên tham gia, tạo nền tảng của hiệp định. Các cam kết về thương mại
hàng hoá sẽ giúp các bên hiện thực hoá mục tiêu chính là mở rộng thị trường, tạo
thuận lợi cho hàng xuất khẩu. Các nội dung chính về thương mại hàng hoá thường
được đề cập trong hiệp định FTA bao gồm:
Thuế quan: Mức độ cắt giảm thuế quan theo hiệp định FTA thường sâu hơn
(đưa thuế suất về 0%), cắt giảm nhanh hơn cam kết trong WTO do các bên chỉ tập
trung vào lĩnh vực có quan tâm. Theo cách hiểu thông thường (không chính thức),
hiệp định FTA sẽ quy định xoá bỏ thuế quan đối với ít nhất 90% giá trị thương mại
và số dòng thuế trong vòng 10 năm. Các dòng thuế không cam kết hoặc có cam kết
nhưng không đưa về 0% thường là các sản phẩm nhạy cảm/đặc biệt nhạy cảm đối
với các bên. Bên cạnh thuế quan, các bên tham gia FTA cũng có thể đưa ra cam kết
về hạn ngạch thuế quan, đặc biệt đối với các sản phẩm nông sản nhạy cảm.
Thuận lợi hoá thương mại: Đây là một nội dung quan trọng trong nhiều hiệp
định FTA. Các lĩnh vực mà các nước thường đẩy mạnh hợp tác trong khuôn khổ
FTA là hải quan, giải phóng hàng, áp dụng thông tin trong thương mại, hàng
chuyển tải, hỗ trợ kỹ thuật…
Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT) và vệ sinh dịch tễ (SPS): Thông
thường, đối với TBT và SPS, các bên tham gia FTA sẽ tái khẳng định cam kết thực
hiện các hiệp định liên quan của WTO. Bên cạnh đó, các bên sẽ đề ra các nguyên
tắc nhằm định hướng cho hoạt động hợp tác trong lĩnh vực ưu tiên như áp dụng

•Cơ chế giải quyết tranh chấp:
Hầu hết các hiệp định FTA đều có cơ chế giải quyết tranh chấp, trong đó đề ra
quy trình, cơ chế xử lý các tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hiệp định
cũng như phạm vi áp dụng của cơ chế này.
1.2. Giới thiệu về Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU
1.2.1. Tiến trình đàm phán Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU
Tháng 10/2010, tại buổi lễ ký tắt Hiệp định Hợp tác toàn diện (PCA) giữa Việt
Nam và EU, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch Ủy ban châu Âu
J.M.Barroso đã thống nhất về việc xem xét và chuẩn bị kỹ thuật để có thể sớm khởi
động đàm phán Hiệp định thương mại tự do giữa hai bên. Khả năng thiết lập một
khu vực thương mại với mức độ mở cửa rộng, xoá bỏ các rào cản và tăng cường các
điều kiện cho thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và EU đã chính thức mở ra.
Sinh viên: Đỗ Hà Vân Lớp: TC28D
6
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Quang Minh
Ngày 11/01/2011, trong buổi họp báo đầu năm, Đại sứ Trưởng phái đoàn EU
tại Việt Nam, ông Sean Doyle nhấn mạnh mong muốn của EU có thể bắt đầu đàm
phán FTA với Việt Nam càng nhanh càng tốt.
Ngày 2/03/2011, tại Hội thảo về triển vọng FTA giữa Việt Nam – EU, ông
Jean - Jacques Bouflet, Tham tán thương mại EU tại Việt Nam, tiếp tục khẳng định
EU muốn sớm đàm phán FTA với Việt Nam và rằng quyết định lúc này hoàn toàn
nằm trong tay Việt Nam. EU rõ ràng đang bật đèn xanh, thậm chí sốt sắng, cho một
FTA tương lai với Việt Nam.
Mặc dù lãnh đạo cao cấp của cả hai bên đều mong muốn sớm khởi động đàm
phán FTA này, tháng 10/2012 (đúng 2 năm sau), phiên đàm phán đầu tiên mới diễn
ra tại Hà Nội. Sở dĩ thời gian kéo dài như vậy là vì phía Việt Nam còn e dè, thận
trọng bởi lẽ ký kết một FTA với một đối tác lớn như EU (gồm 27 quốc gia với trên
500 triệu dân) thì chắc chắn sẽ tạo ra những tác động không nhỏ đối với một nền
kinh tế vừa chuyển đổi sang cơ chế thị trường chưa được bao lâu, cơ sở hạ tầng kinh
tế kỹ thuật chưa phát triển, nguồn nhân lực còn nhiều bất cập, năng suất lao động và

theo xu hướng chung của thế giới trong việc ký kết các FTA, các FTA giai đoạn
trước của EU mang dấu ấn mạnh mẽ của những yếu tố xã hội và mục tiêu "xuất
khẩu giá trị của EU" của khối này, trong khi các FTA gần đây của khối lại hướng sự
quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề về mở cửa thị trường và tự do hóa.
Tuy nhiên, xét từ góc độ kinh tế và mức độ tham vọng trong tự do hóa thương
mại, phạm vi FTA của EU này nhìn chung không khác nhiều lắm so với các FTA mà
Việt Nam đã hoặc đang đàm phán (ví dụ TPP). Vì vậy, FTA này mặc dù rất lớn về số
lượng đối tác (EU với tính chất là một khối thuế quan thương mại thống nhất của 27
nước thành viên EU) cũng không đặt ra những thách thức cho Việt Nam lớn hơn
những FTA mà Việt Nam có thể đàm phán ký kết hiện tại và trong tương lai gần.
1.2.2.2. Về nội dung và mức độ cam kết
Nội dung cụ thể của mỗi FTA phụ thuộc vào kết quả đàm phán cụ thể giữa các
bên liên quan. Tuy vậy, những vấn đề cơ bản và mức độ tự do hoá của các FTA
thường được quyết định bởi các yếu tố:
- Quy định của WTO: Mức độ tự do hoá của FTA phải cao hơn mức trong
khuôn khổ WTO và phải bao trùm phần lớn các lĩnh vực
- Chiến lược đàm phán FTA của các bên liên quan
- Xu hướng thế giới, hoàn cảnh cụ thể tại thời điểm đàm phán
Sinh viên: Đỗ Hà Vân Lớp: TC28D
8
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Quang Minh
Trong trường hợp cụ thể của FTA giữa Việt Nam – EU, những nội dung và
mức độ cam kết của các FTA mà EU đã ký với các nước đang phát triển có hoàn
cảnh tương tự với Việt Nam trong thời gian gần đây sẽ có giá trị tham khảo quan
trọng bởi chúng đồng thời thể hiện ba yếu tố nói trên.
Có thể nhìn thấy mục tiêu cũng như mối quan tâm của EU khá rõ ràng trong
các FTA của khối này:
•Thương mại hàng hoá:
- Thuế quan
Một trong vấn đề then chốt trong một Hiệp định thương mại tự do là vấn đề

thời gian chuyển đổi này, và vì vậy đây là cơ hội để các nhà sản xuất nội địa có thể
dần thích nghi với việc cắt giảm các loại thuế quan. Điểm lợi thế này có ý nghĩa
quan trọng đối với Việt Nam, khi nền kinh tế trong nước được coi là chưa sẵn sàng
để đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt đến từ hàng hoá EU.
- Các biện pháp rào cản kỹ thuật (TBT) và vệ sinh dịch tễ (SPS):
Việc đàm phán để EU giảm các rào cản SPS và TBT sẽ không xảy ra. Thậm
chí sau khi đưa ra chiến lược “Châu Âu toàn cầu”, chính sách của EU vẫn không
thay đổi: vẫn nhằm mục đích giải quyết các rào cản phi thuế nhưng phải có lợi cho
các nhà xuất khẩu EU. Nhiều khả năng FTA giữa EU và Việt Nam sẽ đưa ra khung
hỗ trợ kỹ thuật, thỏa luận và hợp tác hơn nữa về vấn đề SPS và TBT. Cần phải nhấn
mạnh tầm quan trọng của đàm phán các điều khoản hợp tác toàn diện. Về vấn đề
này, hiệp định EU đã ký kết với các nước ACP có thể là một chuẩn mực hữu ích
trong mở rộng hợp tác về các vấn đề SPS và TBT mà Việt Nam mong muốn đạt
được với EU. Trong các hiệp định này, hợp tác bao gồm cả đào tạo và hỗ trợ kỹ
thuật, các biện pháp thúc đẩy chuyển giao tri thức và tăng cường các dịch vụ công.
Việt Nam có thể xem xét yêu cầu EU các mức tương tự như những thỏa thuận các
nước ACP đã đạt được và yêu cầu hỗ trợ kỹ thuật từ EU trong quá trình đàm phán.
- Quy tắc xuất xứ:
Đây là vấn đề mà các nhà đàm phán Việt Nam cần có sự lưu tâm đặc biệt, do
hàng hóa Việt Nam chủ yếu sử dụng nguyên liệu nhập khẩu và do đó nếu không
đáp ứng được quy tắc xuất xứ (hàm lượng nội địa của hàng hoá) thì ưu đãi thuế theo
FTA sẽ trở nên vô nghĩa.
Trong các FTA gần đây, EU thường áp dụng phương pháp xác định xuất xứ
theo giá trị gia tăng kết hợp với phương pháp xuất xứ cộng gộp từ các nước trong khối
thương mại chung, với xu hướng chấp nhận các quy tắc xuất xứ mềm dẻo, áp dụng
riêng cho mỗi bên đối tác. FTA gần đây giữa EU với Hàn Quốc là một ví dụ. Tại FTA
Sinh viên: Đỗ Hà Vân Lớp: TC28D
10
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Quang Minh
này, EU chấp nhận quy tắc xuất xứ theo giá trị nội địa ở mức 55% với hầu hết các loại

và không phân biệt đối xử, lựa chọn trúng thầu theo giá hoặc theo các tiêu chuẩn
Sinh viên: Đỗ Hà Vân Lớp: TC28D
11
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Quang Minh
điều kiện kinh tế tốt nhất
- EU đặc biệt quan tâm đến mua sắm công trong một số lĩnh vực vụ thể mà EU
có thế mạnh như xây dựng, kiến trúc, pháp lý, kế toán, dược, máy tính.
•Sở hữu trí tuệ
- Yêu cầu đối tác tham gia các công ước quốc tế về sở hữu trí tuệ (các công
ước này phần lớn là về các thủ tục bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ chứ không
phải về tiêu chuẩn bảo hộ, mặc dù vậy chúng có thể bao gồm một số yêu cầu cao
hơn TRIPS trong WTO)
- Yêu cầu thực thi đầy đủ TRIPS, nhấn mạnh các yếu tố thực thi
- Đảm bảo các quyền sở hữu trí tuệ phục vụ sức khoẻ công cộng, khuyến
khích sáng tạo và chuyển giao công nghệ
Nhìn chung, các FTA mà EU ký gần đây cho thấy EU đang hướng tới các
FTA có mức độ mở cửa thị trường hàng hoá và dịch vụ mạnh mẽ bên cạnh những
nội dung thương mại và phi thương mại như cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, lao động,
môi trường…Thực tế này là một sự thay đổi lớn trong chính sách ký kết các FTA
của EU so với những FTA nặng về những yếu tố phi thương mại nhằm một số mục
tiêu (như tăng cường các giá trị EU, đảm bảo sự ổn định tương đối ở những khu vực
gần EU…) thời gian trước đây.
1.2.3. Một số vấn đề đàm phán có liên quan đến xuất khẩu mặt hàng dệt may
Khác với một số đối tác FTA, EU có những đòi hỏi khắc khe về quy tắc xuất
xứ ( hàm lượng nội đại của hàng hóa ) khiến những lợi ích từ việc cắt giảm thuế chỉ
có thể là trên giấy (do Việt Nam chủ yếu sử dụng nguyên liệu nhập khẩu do đó
không đáp ứng được quy tắc xuất xứ chặt chẽ để được hưởng những ưu đãi theo
thuế FAT). Nếu như đối với nhiều mặt hàng ( ví dụ như thủy sản, nông sản ), vấn đề
xuất xứ trong một FTA không quá quan trọng, thì dệt may lại có nhiều điểm khác
biệt. chúng ta đều biết rằng sản xuất hàng dệt may của Việt Nam hiện nay thu lợi

Việt Nam xuống còn 0%. Đây là những mặt hàng chủ lực của Việt Nam vào EU
thực tế đang chịu mức thuế rất cao dù Việt Nam đang được hưởng Quy chế Ưu đãi
thuế quan phổ cập (GSP)
FTA với EU các vấn đề về hải quan được thuận tiện hơn, ví dụ như trao đổi
thông tin, xuất trình chỉ một văn bản quản lý duy nhất, đơn giản hóa các thủ tục
kiểm tra và thông quan, hợp tác về vấn đề xuất xứ hàng hóa. Thiết chế ( ủy ban, liên
hiệp ) chung EU đối với các cấp bộ trưởng về vấn đề này ( hỗ trợ bởi các nhóm hỗ
trợ kỹ thuật )
Sinh viên: Đỗ Hà Vân Lớp: TC28D
13
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Quang Minh
Vấn đề về hàng rào kỹ thuật ( TBT), biện pháp vệ sinh dịch tễ (SPS) dệt may
Việt Nam tuân thủ yêu cầu SPS và TBT của EU. FTA giữa EU và Việt Nam sẽ đưa
ra khung hỗ trợ kỹ thuật, thỏa luận và hợp tác hơn nữa về vấn đề SPS và TBT. Cần
phải nhấn mạnh tầm quan trọng của đàm phán các điều khoản hợp tác toàn diện. Về
vấn đề này, hiệp định EU đã ký kết với các nước ACP có thể là một chuẩn mực hữu
ích trong mở rộng hợp tác về các vấn đề SPS và TBT mà Việt Nam mong muốn đạt
được với EU.
EU là thị trường có tần suất sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại lớn
nhất. Xét về mặt số lượng, đây cũng là thị trường đã kiện chống bán phá giá, chống
trợ cấp đối với hàng hóa xuất khẩu Việt Nam nhiều nhất cho đến nay. Với mặt hàng
dệt may Việt Nam và đối với khu vực EU thì chỉ có duy nhất một vụ kiện chống
bán phá giá đối với mặt hàng "khăn lau sàn" (Mã HS 6307.10.00) của Đức xuất
khẩu sang Isarel trong năm 2010. Đàm phán việc sử dụng biện pháp chống bán phá
giá giữa FTA với EU. Một mặt, một mặt là giúp gia tăng các hoạt động chống bán
phá giá nhằm bảo vệ các ngành sản xuất trong nước khỏi dòng chảy nhập khẩu gia
tăng từ các quốc gia khác. Mặt khác, FTA với EU được cho là giúp giảm việc sử
dụng các biện pháp chống bán phá giá để thực hiện mục đích của thương mại tự do.
Những hiệu ứng sẽ được áp dụng có thể soi đèn quan trọng trên các câu hỏi liệu một
FTA với EU có thể là một trở ngại hoặc một khối xây dựng. FTA giữa EU với Việt

EU hiện là một trong 3 trụ cột của nền kinh tế thế giới, với diện tích khoảng
3.978.372km
2
, dân số trên 500 triệu người. Thị trường EU thống nhất cho phép tự
do lưu chuyển sức lao động, hàng hoá, dịch vụ và vốn giữa các nước thành viên.
Đây là một thị trường lớn, thị trường xuất khẩu lớn nhất thế giới và là thị trường
nhập khẩu lớn thứ hai thứ giới. Kim ngạch nhập khẩu không ngừng tăng lên. Theo
thống kê của cơ quan thống kê EU (EUROSTAT) cơ cấu hàng hoá nhập khẩu của
EU: sản phẩm chế tạo chiếm khoảng 67,19% tổng kim ngạch nhập khẩu hằng năm,
sản phẩm thô chiếm 29,74%, các sản phẩm khác chiếm khoảng 3,07%. EU còn
nhập khẩu một số mặt hàng dệt may, khoáng sản, thuỷ sản, giày dép, nông sản, cà
phê… Đây là những mặt hàng xuất khẩu thế mạnh của Việt Nam, chúng ta cần tận
dụng những cư hội, có phương thức thâm nhập tốt vào thị trường EU – một thị
trường lớn và ngày càng mở rộng.
Đối với mặt hàng dệt may nói riêng, EU là khu vực đứng đầu thế giới về nhập
khẩu mặt hàng này, chiếm 46% tổng giá trị nhập khẩu hàng dệt may của toàn thế
giới. Nhu cầu nhập khẩu hằng năm của EU vào khoảng 110 tỷ USD hàng quần áo
may sẵn và hàng dệt các loại đem đến cơ hội tuyệt vời cho các nước xuất khẩu hàng
dệt may trong đó có Việt Nam.
Sinh viên: Đỗ Hà Vân Lớp: TC28D
15
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Quang Minh
1.3.2. Tập quán và thị hiếu của người tiêu dùng hàng dệt may EU
EU là liên minh của 27 nước thành viên với trình độ phát triển kinh tế xã hội
khá đồng đều, sự tương đồng về văn hoá và địa lý cho nên người dân thuộc khối EU
có những điểm chung về sở thích và thói quen tiêu dùng.
Những sản phẩm nổi tiếng có thương hiệu trên thị trường thế giới được người
tiêu dùng EU rất ưa chuộng, vì họ cho rằng những thương hiệu này gắn liền với
chất lượng sản phẩm và đảm bảo chất lượng an toàn cho người sử dụng. Đối với
khách hàng EU họ sẵn sàng mua những sản phẩm giá đắt, có thương hiệu nổi tiếng

chức phổ biến nhất của kênh phân phối trên thị trường EU là tổ chức theo tập đoàn
và không theo tập đoàn.
Kênh phân phối theo tập đoàn có nghĩa là các nhà sản xuất và nhà nhập khẩu
của một tập đoàn chỉ được cung cấp hàng hoá cho hệ thống các siêu thị cửa hàng
của tập đoàn mình mà không được cung cấp hàng cho hệ thống bán lẻ khác. Còn
kênh phân phối không theo tập đoàn thì ngược lại, cho phép các nhà sản xuất và
nhập khẩu của một tập đoàn có thể cung cấp hàng cho hệ thống bán lẻ khác ngoài
việc cung cấp hàng cho hệ thống siêu thị, cửa hàng của tập đoàn mình. Đây là điều
khác biệt khá rõ giữa thị trường EU so với thị trường khác, tạo nên điểm nổi bật
mà các doanh nghiệp cần quan tâm hơn để có thể xuất khẩu thành công sang thị
trường EU.
Để tiếp cận với hệ thống phân phối này là điều không dễ đối với các doanh
nghiệp xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam. Rất hiếm doanh nghiệp có mối quan
hệ tốt với những dây chuyền phân phối hàng hoá này để có thể đưa được hàng dệt
may của mình vào thị trường EU. Các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may Việt
Nam hiện nay muốn tiếp cận được hệ thống kênh phân phối này thì phải tiếp cận
được các nhà nhập khẩu của EU bằng con đường xuất khẩu trực tiếp sang EU hoặc
thành lập các công ty liên doanh với các công ty xuyên quốc gia của EU để trở
thành công ty con.
1.3.4. Những quy định của EU đối với hàng dệt may nhập khẩu
*Những quy định đối với hàng hoá nhập khẩu vào thị trường EU
EU là một trong những đối tác quan trọng không chỉ của Việt Nam với dung
lượng thị trường rất lớn. Tuy nhiên thì đây là một thị trường tương đối khó tính.
Hàng hoá để xuất khẩu vào thị trường này phải thoả mãn 5 tiêu chuẩn sau:
Thứ nhất: Tiêu chuẩn về chất lượng hàng hoá: Doanh nghiệp phải áp dụng hệ
thống chất lượng ISO-9000. Đây là yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp sản
Sinh viên: Đỗ Hà Vân Lớp: TC28D
17
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Quang Minh
xuất muốn xuất khẩu hàng của mình sang thị trường EU, trong đó có doanh nghiệp

18
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Quang Minh
- Chỉ thị số 76/769/EEC (sửa đổi từ Chỉ thị số 83/264/EEC) là Chỉ thị đã được
áp dụng hài hòa trong EU, cấm việc marketing và sử dụng những sản phẩm dệt tiếp
xúc với da nếu những sản phẩm này chứa các chất làm chậm khả năng bắt cháy. Chỉ
thị này đã được áp dụng hài hòa trong EU.
- Chỉ thị số 2002/61/EC (sửa đổi từ Chỉ thị số 2004/21/EC) hạn chế việc sử
dụng thuốc nhuộm Azo trong các sản phẩm dệt ở Khu vực Kinh tế Châu Âu
(European Economic Area - (EEA)).
- EU đã có quy định hài hòa trong toàn liên minh về tên gọi, thành phần sợi
dệt và nhãn mác sản phẩm dệt nhằm bảo đảm cung cấp đầy đủ thông tin cho người
tiêu dùng và ngăn chặn những sự khác biệt giữa các quy định liên quan ở cấp thành
viên. Chỉ thị số 96/74/EC về tên sản phẩm dệt đưa ra những quy định dán nhãn đối
với sản phẩm dệt. Theo chỉ thị này, các sản phẩm dệt dự định được nhập khẩu vào
EU phải được dán nhãn. Trên nhãn phải thể hiện tên sản phẩm, mô tả sản phẩm, chi
tiết về hàm lượng sợi dệt của sản phẩm.
•Yêu cầu không mang tính pháp lý
Nhà nhập khẩu EU có thể đặt ra một số yêu cầu đối với nhà cung cấp hàng dệt
may từ các nước đang phát triển liên quan đến các vấn đề về sức khoẻ, an toàn đối
với môi trường và xã hội Nhiều khách hàng EU đòi hỏi các sản phẩm dệt may
phải được sản xuất trong những điều kiện lao động có thể chấp nhận với mức tiền
công hợp lý, trong đó cơ sở sản xuất hàng dệt may phải áp dụng các biện pháp quản
lý rủi ro, phòng tránh tai nạn lao động trong quá trình sản xuất; giữ gìn vệ sinh khu
vực sản xuất; áp dụng đúng quy trình quản lý lưu kho
•Bao gói, ký mã hiệu và nhãn mác
Uỷ ban Châu Âu đã hài hòa các quy định về tên gọi, thành phần cấu tạo và
nhãn mác của các sản phẩm dệt nhằm đảm bảo sự cung cấp thông tin đầy đủ về sản
phẩm đến người tiêu dùng và tránh những khác biệt trong các quy định giữa các
quốc gia thành viên. Các quy định về nhãn hàng dệt được nêu tại Chỉ thị số
96/74/EC. Chỉ thị số 96/73/EC bổ sung thêm các bộ quy tắc về tên gọi của hàng dệt

KNXK của Việt Nam sang EU không ngừng tăng lên, dệt may là ngành tiên phong
tìm chỗ đứng trên thị trường EU. Tuy nhiên EU là thị trường rất khó tính, nhiều rào
cản thuế quan và phi thuế quan được áp dụng nên hàng dệt may Việt Nam gặp phải
nhiều khó khăn va thách thức. Tuy vậy, xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang EU
cũng đã đạt được nhiều thành tích trong thời gian qua
2.1.1. Kim ngạch xuất khẩu
EU là thị trường nhập khẩu dệt may lớn thứ hai thế giới chỉ sau Mỹ. Các thành
viên EU: Đức, Pháp, Anh, Hà Lan… là các bạn hàng truyền thống của dệt may Việt
Nam từ những năm 1980, nhưng với số lượng không lớn. Từ sau khi Hiệp định dệt
may Việt Nam – EU được ký kết thì KNXK dệt may Việt Nam sang EU có sự tăng
đột phá, trong vòng 4 năm KNXK tăng 201 triệu USD, với tốc độ bình quân là
13,2%/năm.
Bảng 2.1: KNXK dệt may Việt Nam sang EU thời gian qua
Đơn vị: triệu USD
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
KNXK 610 591 546 600 660 841 1243 1459 1704 1644
% tăng 9,75 -3,21 -7,61 9,89 10.0 27,42 47,8 17,37 16,79 -3,5
Nguồn: Niên giám thống kê
Nhìn vào bảng số liệu trên, ta thấy năm 2001 và 2002 là hai năm đáng buồn
của xuất khẩu dệt may Việt Nam sang EU, KNXK giảm 64 triệu USD so với năm
2000. Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất là sau khi Hiệp định thương
mại Việt - Mỹ có hiệu lực, các doanh nghiệp dệt may đã quá tập trung vào thị
Sinh viên: Đỗ Hà Vân Lớp: TC28D
21
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Quang Minh
trường Mỹ mà bỏ quên thị trường EU. Năm 2003, thời gian tự do xuất khẩu sang Mỹ
đã hết và với việc EU tăng hạn ngạch cho Việt Nam nên KNXK dệt may sang EU đã
tăng trở lại, đạt 600 triệu USD, tăng 9,89% so với năm 2002. KNXK dệt may của nước
ta sang EU tiệp tục tăng trong những năm gần đây, năm 2004 đạt 660 triệu USD, năm
2005 đạt 841 triệu USD, đến năm 2006 KNXK đạt 1243 triệu USD - đánh dấu một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status