CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG
MARKETING TRONG XUẤT KHẨU MẶT HÀNG DỆT
MAY CỦA VIỆT NAM.
I. Mục tiêu và triển vọng phát triển xuất khẩu mặt hàng dệt
may.
1. Dự báo nhu cầu hàng dệt may của thế giới và xu hướng biến động
của môi trường.
1.1. Dự báo nhu cầu hàng dệt may của thế giới
Dựa trên tốc độ tăng trưởng kinh tế tốc độ tăng dân số thế giới, có thể dự
báo nhu cầu hàng dệt của thế giới tăng bình quân 2,5% và nhu cầu sợi cho năm
2001 là 46,8 triệu tấn, năm 2020 sẽ vào khoảng 70 triệu tấn.
Bảng 11: Dự báo nhu cầu hàng dệt may của thế giới 2001 - 2020
Năm Khối lượng
(triệu tấn)
Mức tiêu thụ
bình quân
(Kg/người)
2001 46,88 6,8
2005 52,74 7,1
2020 70,00 9,2
(Nguồn: Asian Chemical Fiber Industries)
Dự đoán những năm 2001 - 2005, các nước phát triển như Nhật Bản, khu
vực châu Âu và Bắc Mỹ, sản xuất trong nước vẫn không đáp ứng đủ mức cầu, số
thiếu hụt này được nhập khẩu từ các vùng khác, chủ yếu là từ các nước đang
phát triển khu vực Châu á.
1.2. Xu hướng biến động của môi trường
1.2.1. Môi trường kinh tế
Yếu tố kinh tế là một lực lượng quan trọng nên sự đa dạng của môi trường
kinh doanh. Nó tác động đến nhà làm Marketing xuất khẩu thông qua việc thể
hiện tiềm năng thị trường và khả năng khơi dậy các tiềm năng đó.
Sau khi Mỹ bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam, hoạt động thương mại
giữa hai nước được tăng cường. Ngày 19/1/2001 Bộ Thương mại thông báo
không thu 50% phụ phí trên hàng nhập của Mỹ từ ngày 1/1/2001 sẽ thúc đẩy
hoạt động thương mại giữa hai bên. Hiệp định thương mại Việt - Mỹ được ký
kết sẽ tạo thuân lợi về thuế quan để hàng dệt may Việt Nam vào đất Mỹ nhiều
hơn. Sau khi ký kết Hiệp định với Mỹ, các chuyên gia đã phân tích tốc độ tăng
trưởng hàng dệt may của Việt Nam vào thị trường Mỹ sẽ tăng mạnh. Với thuế
quan ưu đãi, Việt Nam sẽ nhanh chóng trở thành địa chỉ hấp dẫn với thị trường
Mỹ sẽ tăng mạnh. Với thuế quan ưu đãi, Việt Nam sẽ nhanh chóng trở thành địa
chỉ hẫp dẫn với thị trường Mỹ.
Việc ký kết Hiệp định dệt may 2001 với EU nhằm tăng hạn ngạch hàng dệt
may của Việt Nam vào thị trường này lên 27% bắt đầu từ 15/6/2001 sẽ đổi cơ
chế quản lý điều hành xuất nhập khẩu theo hướng giảm thiểu những khó khăn
cho các doanh nghiệp, đó là việc giảm dần danh mục hàng hoá xuất nhập khẩu
phải có giấy phép, thay đổi cách tính thuế của Hải quan với mặt hàng rượu của
EU, cấp giấy phép cho hai liên doanh của EU trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ
và phi nhân thọ. Những chính sách này của Nhà nước ta đã không ngừng củng
cố mối quan hệ hợp giữa Việt Nam và EU.
Tình hình chính trị trong nước ổn định đã thu hút được đầu tư của nước
ngoài, và việc gia nhập các liên minh kinh tế sẽ giúp Việt Nam tranh thủ được
những thuận lợi để hợp tác phát triển, tăng sức hẫp dẫn của thị trường.
Trong năm 2001 Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách nhằm thúc đẩy
hoạt động xuất nhập khẩu như cho phép các doanh nghiệp của mọi thành phần
kinh tế được hoạt động xuất nhập khẩu trực tiếp, đơn giản hoá các thủ tục xuất
khẩu giấy phép, hải quan, cấp quota…), đặc biệt là quy định thuế VAT phải nộp
đối với các mặt hàng xuất khẩu bằng 0% và các hàng hoá này được thoái trả
thuế VAT ở các khâu trước.Điều này rất thuận lợi đối với các doanh nghiệp dệt
may xuất khẩu vì các doanh nghiệp này phải nhập nguyên liệu về để sản xuất.
1.2.3. Môi trường cạnh tranh.
Vải lụa triệu mét 800 1330 2000
Sản phẩm dệt kim triệu sản phẩm 70 150 210
sản phẩm may triệu sản phẩm 580 780 1200
- Kim ngạch xuất khẩu triệu USD 2000 3000 4000
Hàng dệt triệu USD 370 800 1000
Hàng may triệu USD 1630 2200 3000
(Nguồn: quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp dệt may đến năm
2010 - Bộ công nghiệp.
Như vậy, theo mục tiêu đăt ra ngành dệt may Việt Nam sẽ đạt sản lượng 2
tỷ mét/năm vào năm 2010 so với sản lượng vải lụa của các năm trước thì có thể
thấy sản xuất vải có mức tăng trưởng khả quan (năm 96: 285 trm, năm 97: 300
trm)
Nếu vào năm 2010 chúng ta đạt được chỉ tiêu đề ra là 2 tỷ m vải thì cũng
mới chỉ bằng Thái lan bây giờ. Theo các nhà chuyên môn trong 2 tỷ mét vải đó,
chúng ta sẽ dành một nửa để tiêu thụ ở thị trường nước ngoài với tổng giá trị dự
kiến khoảng 4 tỷ USD, thông qua nhiều hình thức như cung ứng cho ngành may
gia công xuất khẩu (khoảng 3 tỷ USD) xuất thành phẩm, xuất thô… Số còn lại
sẽ tiêu thụ trong nước.
Đối với các sản phẩm dệt kim, để đạt được mục tiêu đã đặt ra cũng sẽ gặp
nhiều khó khăn vì mặc dù tiềm năng tiêu thụ nội địa cũng như xuất khẩu cao,
những sản xuất các sản phẩm dệt kim không mấy phát triển do không kịp đổi
mới về thiết bị và công nghệ phù hợp với yêu cầu đa dạng hoá sản phẩm nhanh
chóng của thị trường để sản xuất các sản phẩm đủ tiêu chuẩn xuất khẩu.
Hiện nay kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may chiếm tỷ trọng ngày càng lớn
trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Dự kiến đến năm 2010 kim ngạch xuất khẩu
hàng dệt may đạt 4 tỷ USD trong đó chủ yếu là xuất khẩu hàng may (3 tỷ USD)
còn giá trị xuất khẩu còn hàng dệt nhỏ (chiếm 1 tỷ USD) vì hiện nay hàng dệt
may nội địa cũng không đáp ứng được yêu cầu nguyên liệu cho may xuất khẩu,
Việt Nam chủ yếu phải nhập vải may gia công cũng như may xuất khẩu.
Với mục tiêu này cần có khoảng 250 - 300 triệu USD đầu tư để bình quân
mỗi năm có thể đưa ra từ 10 - 15 xí nghiệp đi vào hoạt động.
Quy hoạch phát triển ngành dệt may 2001- 2010 (nguồn Bộ thương mạy -
Công nghiệp nhẹ):
Vùng quy hoạch I.
- Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa, Long An, Sông Bé, Cần Thơ
Dự kiến quy hoạch 50% năng lực dệt may toàn quốc.
Vùng quy hoạch II.
- Hà Nội, tam giác sông Hồng gồm Nam Định, Hải Phòng, Thái Bình, Vĩnh
Phúc, Hà Tây và khu bốn cũ gồm Thanh Hoá, Nghệ An.
Dự kiến quy hoạch 40% năng lượng dệt may toàn quốc
Vùng quy hoạch III.
- Quảng Nam, Đà Nẵng, Huế, Nha Trang.
Dự kiến quy hoạch 10% năng lượng dệt may toàn quốc.
Mặc dù có nhiều thuận lợi về thị trường và môi trường nhưng ngành dệt
may vẫn phải đương đầu với nhiều thách thức: ngành dệt may Việt Nam bắt đầu
từ một điểm xuất phát thấp, lại phải cạnh tranh với các đối thủ có mức độ phát
triển sản xuất cũng như kinh nghiệm tiếp cận thị trường cao hơn trong khi sự
phân chia thị trường thế giới đã định hình. Vì vậy để đạt được những mục tiêu
đã đặt ra ngành dệt may cần một hệ thống các giải pháp đồng bộ từ khâu cung
cấp nguyên liệu, tổ chức sản xuất, nâng cao chất lượng và phát triển sản phẩm
đến hoạt động Marketing và tổ chức xuất khẩu, đặc biệt là ccs giải pháp
Marketing vì đây là một hoạt động rất yếu của cả ngành dệt may xuất khẩu ở
Việt Nam.
II. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường
Một chiến lược sản phẩm đúng đắn và năng động là một chiến lược dựa
trên cơ sở phân tích sâu sắc thị trường. Đặc biệt để tham gia vào thị trường may
mặt thế giới - là một thị trường hết sức phong phú, đa dạng, thay đổi rất nhanh
về mẫu mã, kiểu mốt, chủng loại, thời gian cũng có yêu cầu ngày càng cao và
- Cơ cấu thị trường, nguồn cung ứng sản phẩm may mặc ở các thị trường
đó.
Trên cơ sở nắm được quy mô, cơ cấu của mỗi thị trường may mặc trên thế
giới, các doanh nghiệp may mặc xuất khẩu nước ta có thể đề ra các biện pháp
đồng bộ để khai thác triệt để mọi lợi thế của ta ở mỗi thị trường, do đó sẽ mang
lại sự tăng trưởng và phát triển cũng như hiệu quả to lớn cho ngành may mặc
xuất khẩu nước ta.
1.2. Nghiên cứu các nhân tố của môi trường xuất khẩu liên quan đến mặt
hàng may mặc.
Môi trường là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc xuất
khẩu sản phẩm của các doanh nghiệp may mặc xuất khẩu. Khi doanh nghiệp
muốn xâm nhập vào một thị trường nước ngoài thì cần phải phân tích thị trường
dưới các mặt chủ yếu sau:
1.2.1. Môi trường dân cư:
Dân số, cơ cấu dân cư theo tuổi, giới tính, theo nghề nghiệp, theo vùng…
ảnh hưởng quan trọng đến các sản phẩm dệt may về kiểu cách, màu sắc, chất
liệu vải.
Ví dụ: Trẻ em với đặc điểm tâm sinh lý hiếu động thì yêu cầu sản phẩm
may mặc phải rộng rãi, thoải mái, yêu cầu vệ sinh là quan trọng, song với các
thiếu nữ hay thanh niên nói chung yêu cầu làm đẹp, thích thời trang, kiểu mốt
phong phú là yêu cầu chủ yếu. Với người lớn tuổi lại ưa dùng sản phẩm may
mặc trịnh trọng, điềm đạm… Giữa nông thôn và thành thị, giữa người lao động
chân tay và lao động trí óc yêu cầu về quần áo rất khác nhau.
1.2.2. Môi trường kinh tế:
Thu nhập bình quân đầu người, cơ cấu tỷ lệ chi tiêu cho hàng may mặc
trong tổng thu nhập quốc dân của dân cư, xu hướng thay đổi các tỷ lệ đó.
Hàng may mặc vừa là hàng hoá có nhu cầu thiết yếu nhưng đồng thời lại có
nhu cầu xa xỉ, khi nghiên cứu thị trường nước ngoài cần chú ý đến thu nhập của
người tiêu dùng để sản xuất ra các sản phẩm có chi phí hợp lý, thoả mãn nhu cầu
hàng may mặc nào đó thì yêu cầu của thị trường mỗi nước cũng thay đổi tuỳ
theo sở thích tập quán của người tiêu dùng cũng như điều kiện địa lý của mỗi
nước. Với các nước Châu Âu, các nước công nghiệp phát triển, nam giới rất
thích các loại áo sơ mi làm từ vải bông 100% vì loại vải này có tính vệ sinh cao,
khả năng thấm mồ hôi tốt. Nó thích hợp cho việc tạo ra những nét khoẻ khoắn
của các bộ quần áo du lịch, dã ngoại của thanh niên. Như quần Jean là loại quần
áo được ưa chuộng đối với thanh niên ở hầu hết trên thế giới, đều làm từ vải
100% sợi bông. Ngược lại nam giới ở một số nước lại ưa chuộng áo sơ mi sợi
bông pha sợi tổng hợp ở các tỉ lệ khác nhau.
- Kiểu dáng kích thước: Yếu tố này ngoài việc phụ thuộc vào đặc điểm về
tập quán, lối sống, đặc điểm nhân trắc còn phụ thuộc vào từng loại, từng kiểu
mốt quần áo. Những sự khác biệt về đặc điểm nhân trắc học của mỗi dân tộc
khác nhau trên thế giới là yếu tố cực kỳ quan trọng trong nghiên cứu thị trường
may mặc xuất khẩu để có thể thiết kế, sản xuất ra các sản phẩm may mặc có cỡ
số phù hợp với người tiêu dùng ở mỗi nước, ví dụ người Châu Âu thì phải có
kích cỡ lớn hơn người Châu á.
Kiểu dáng cũng phụ thuộc vào tập quán, sở thích, phong cách ở từng thị
trường. Nó luôn luôn thay đổi, biến động theo thời gian. Do vậy nghiên cứu thị
trường may mặc xuất khẩu cũng phải dự đoán được cả xu hướng thay đổi để đưa
ra sản phẩm thích hợp. Ví dụ với thị trường Nhật Bản ưa chuộng quần áo có
kiểu đơn giản, không cầu kỳ nhưng lịch sự và sang trọng. Sự ưa chuộng này khá
bền vững và ổn định trong thị trường may mặc Nhật Bản. Ngược lại ở các thị
trường Tây Âu ưa sự tinh vi cầu kỳ và mang tính nghệ thuật cao trong các sản
phẩm may mặc và sự biến động của các yếu tố này rất nhanh.
Sở thích của con người đối với sản phẩm may mặc chịu ảnh hưởng của lối
sống các tầng lớp dân cư trong xã hội, do đó các nhà nghiên cứu phân tích thị
trường may mặc phải càng chú ý phân khu thị trường của mình dựa trên lối sống
của khách hàng.
- Yếu tố màu sắc:
những quy định này của Mỹ các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu của ta nên lưu
ý đến những quy định về nhãn hiệu, tên hàng và bản quyền vì bất cứ sự vi phạm
nào cũng dẫn đến việc hàng hoá bị tịch thu; tránh những thiếu sót trong chứng từ
có thể dẫn đến việc bị quy là gian lận thương mại vì lỗi này có thể bị các hình
phạt nghiêm khắc theo luật pháp của Mỹ.
Đối với thị trường Nhật Bản các nhà xuất khẩu cũng cần phải nghiên cứu
các đạo luật của Nhật Bản như cấm nhậ khẩu các sản phẩm có nhãn mác mập
mờ, giả mạo về xuất xứ, quy định các sản phẩm gia dụng phải tuân thủ các tiêu
chuẩn về mức độ cho phép đối với các chất gây nguy hiểm cho da, luật về nhãn
hiệu chất lượng hàng hoá đòi hỏi các sản phẩm quần áo đều phải dãn nhãn. Trên
nhãn phải ghi rõ thành phần của vải và các biện pháp bảo vệ sản phẩm thích
hợp. Nắm được những quy định này các doanh nghiệp đưa ra những sản phẩm
đảm bảo tiêu chuẩn, nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu.
1.1.5. Môi trường cạnh tranh:
Những thông tin này giúp các công ty thích ứng được với môi trường cạnh
tranh nghiệt ngã của thị trường thế giới. Ngoài các thông tin về chiến lược sản
phẩm, kênh phân phối, giá cả… Các doanh nghiệp nước ta còn có thể học hỏi
được từ các đối thủ cạnh tranh, từ đó đưa ra những chính sách hợp lý.