ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC T ự NHIÊN
. . . . . . . Q
SỬ DỤNG MỘT SỐ HỆ IZOZYM B Ê NGHIÊM cứu
• • •
ĐA DẠNG D I TRUYỂM ỏ m ộ t s ố LOÀI CÂY DƯỢC U Ệ U
BẢN B ỊA Ỏ V IỆ T MAM
MẢ SỐ: QT - 04 -15
CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI: THS. HOÀNG THỊ HÒA
Các cán bộ tham gia: TS. Đinh Đoàn Long
KTV. Trần Thị Nhuận
ThS. Phạm Thanh Huyền
HÀ NỘI - 2005
BÁO CÁO TÓM TẮT
1.Tên đề tài:
SỬ DỤNG MỘT SỐ HỆ IZOZYM ĐỂ NGHIÊN c ứ u ĐA DẠNG DI TRUYỂN ở
MỘT SỐ LOAI CÂY DƯỢC LIỆU BẢN ĐỊA Ở VIỆT NAM
# Mã số: QT - 04 -1 5
2. Chủ trì đề tài: ThS. Hoàng Thị Hoà
3. Các cán bộ tham gia: TS. Đinh Đoàn Long
KTV. Trần Thị Nhuận
ThS. Phạm Thanh Huyền
4. Mục đích và nội dung nghiên cứu:
Mục đích:
Góp phần xác định tính đa hình di truyền, dấu chuẩn di truyền phân
loại loài và mối quan hệ di truyền giữa một số loài cây dược liệu bản địa ở
Việt Nam.
Nội dung nghiên cứu:
- Chọn và thu thập mẫu (Lựa chọn một số cây dược liệu bản địa ở Việt
Nam còn ít được nghiên cứu). Đã chọn được hai loài cây thuốc diệp hạ châu
đắng (Phyllanthus amarus Schum. et. Thonn.) và diệp hạ châu (Phyllanthus
6. Tình hình kinh phí của đề tài:
Tổng kinh phí của để tài: 16.0Ơ0.000 VNĐ
- Chi phí nghiệp vụ chuyên môn như dụng cụ, hoá chất 6,740.000 VNĐ
- Chi phí thuê mướn, thuê lao động 6.000.000 VNĐ
- Quản lý phí, hỗ trợ đào tạo và nghiên cứu khoa học 1.120.000 VNĐ
- Thanh toán điện nước 640.000 VNĐ
- Nghiệm thu để tài, in , mua tài liệu 1.500.000 VNĐ
Đã thanh quyết toán
SUMMARY
a) The title of subject: Using some isoenzyme systems to assess the
genetic diversity of some Vietnamese native medicinal plants.
b) Numberical code: QT- 04-15
c) The grant holder: M.Sc. Hoang Thi Hoa
d) The Participants: Dr. Dinh Doan Long
M.Sc. Pham Thanh Huyen
Tech Tran Thi Nhuan
e) Objectives and contents:
* Objectives: The two native medicinal plant species Phyllanthus
amarus Schum. Et. Thonn. and Phyllanthus urinaria L. are colecting
from different areas in the north of Vietnam.
* Contents: In Vietnam, Phyllanthus amarus Schum. Et. Thonn. and
Phyllanthus urinaria L. are the two most well-known medicinal plants
among the species belonging to the genus Phyllanthus, family Euphobiaceae.
These medicinal plants have been used for centuries in the traditional
medicine for treatment of sore throat, furunculosis, eczema, hematometra,
hepatitis, ophtalmia, arthralgia, snake-bite.
Recently, numerous pharmaceutical products derived from these two plant
species, e.g. Livbilnic (Traphaco Co. Ltd), VG-5 (Central pharmaceutical
company N05), Hepaphyl (Central pharmaceutical company 25), Hepamarin,
Livsin-94 (Haphaco) etc. have been commercialized and widely used in
7
TThương 1. Tổng quan tài liệu 7
1. Các nghiên cứu về Phyllanthus L 7
1.1. Phân loại học thực vật và tên gọi 7
1.2. Hình thái học, tế bào học và phân b ố 7
1.3. Phân bố và sinh thái
.
8
1.4. Sử dụng Phylỉanthus L. trong y học cổ truyền 9
1.5/Thành phẩn hoá học của Phyllanthus L 9
1.6. Các nghiên cứu về tác dụng dược lý của Phyllanthus L
9
1.7. Các dược phẩm được bào chế từ p. amarus và p. urinaria 10
2. Đại cương về izozym 11
2.1. Izozym Superoxide dismutaza (SOD. E.c.1.15.1.1) 13
2.2. Izozym Esteraza (EST. E.C.3.1.1.2)
.
14
2.3. Izozym Peroxidaza (PO. E.c. 1.1.1.17) 14
Chương 2. Vật liệu và phương pháp
16
2.1. Vật liệu thực vật 16
2.2. Phương pháp phân tích đa hình izozym 18
tài nguyên di truyền,
- Việc thu hái từ các dạng hoang dại không đáp ứng được yêu cầu của
công nghiệp dược do nguồn dược liệu ban đầu thường không ổn định và
không kiểm soát được về mặt hóa học, hoạt tính sinh học.
- Dược liệu thu thập hoang dại có nguy cơ nhiễm với các dạng vi sinh
vật (nấm, vi khuẩn, virút ), vì vậy có thể mang theo các nguồn chất độc
ngoài ý muốn.
- Các dạng nguyên liệu hoang dại có nguy cơ nhiễm độc với các nguồn
hóa chất độc khác nhau, như chất diệt cỏ, thuốc trừ sâu, các chất thải công
nghiệp nếu cây được thu hái từ các vùng bị ô nhiễm và thực tế tình hình
này rất khổ kiểm soát.
Hình 1. Cây Diệp hạ châu đắng Phyllanthus amarus L. (A) và
Diệp hạ châu Phyllanthus urinaria L. (B) được dùng trong nghiên cứu
5
Ngoài ra, trong thực tế p. amarus và p. urinaria L. là hai loài cây thuốc
có đặc điểm hình thái rất giống nhau (xem Hình la,b) và giống với một số
loài Phyllanthus khác hiện đang có ở Việt nam, như p. niruri, p. reticulaĩus
vốn ít được quan tâm hơn vì mục đích chế biến dược liệu. Việc phân loại
chính xác các loài phyllanthus hiện nay chỉ có thể thực hiện nhờ các chuyên
gia phân loại thực vật sau khi cây đã phát triển đến giai đoạn trưởng thành.
Trước thực tế như vậy, việc thu thập dược liệu tự phát từ người dân đứng
trước nhiều nguy cơ nhầm lẫn và khó có thể đảm bảo chất lượng của nguồn
dược liệu sử dụng cho sản xuất dược phẩm ở quy mô công nghiệp.
Trong hoàn cảnh đó, báo cáo đề tài này của chúng tôi nhằm góp phần
cung cấp một công cụ phục vụ cho việc phân loại nhanh hai loài cây dược
liệu dẻ nhầm lẫn này. Ngoài ra, kỹ thuật này còn cho phép đánh giá mức độ
đa hình di truyền của các quần thể mẫu được thu thập từ một số địa phương
khác nhau ở miền Bắc nước ta, là dẫn liệu cơ bản cho việc chọn lọc nguồn
nguyên liệu phục vụ công tác chọn, tạo giống các loài cây thuốc này ở Việt
Nam trong tương lai.
quinine, arrebentapedra, Paraparaimè (Paraguay), Santa Maria, San Pedro, herb of
San Pablo, sampasampalkan (Philippines), zhen chu cao, ye xia zhu, Hsieh-hsia
Chu (Trung Quốc), Komikansou (Nhật Bản), Pitirishi, Budhatri (An Độ), Đôi
khi, tại một số địa phương, các tên thường được dùng lẫn lộn để gọi tên cả hai
loài hoặc một số loài khác thuộc chi Phyllanthus [25].
ỏ Việt Nam, các cây thuốc p. amarus và p. urinaria cũng được gọi tên
bằng những tên địa phương khác nhau, chẳng hạn như chó đẻ răng cưa, cam
kiềm, vườn kiềm, diệp hạ châu, diệp hoè thái, lão nha châu, trân châu thảo, rút
đất, khao ham Và cũng giống như ở một số nước, ở nước ta các tên địa phương
đôi khi cũng được dùng lẫn lộn cho cả hai loài. Nhưng phổ biến nhất p. amarus
được gọi là diệp hạ châu đắng hay chó đẻ chân chim, chó đẻ thân xanh, phân biệt
với P. urinaria được gọi là diệp hạ châu hay chó đẻ răng cưa [1],
1.1.2. Hình thái học, tê bào học
Các đặc điểm hình thái cơ bản của p. amarus và p. urinaria có thể mô
tả như sau: là những cây thân thảo, sống một năm hoặc nhiều năm, cao
trung bình 20-30cm, đôi khi có thể cao đến 60-70cm; Thân nhẵn, tròn; lá
7
mọc so le, hình bầu dục, xếp sít nhau thành hai dãy, mỗi cành như một lá
kép hình lồng chim, mặt trên xanh lục nhạt, mặt dưới màu xanh mốc;
phiến lá thuôn, dài 5-15mm, rộng 3-6mm, đầu nhọn hay hơi tù, mép
nguyên; gân - phụ mảnh, có 4-6 cặp; không có cuống lá hoặc cuống lá rất
ngắn. Hoa mọc ở nách lá, nhỏ, có cuống ngắn, đơn tính cùng gốc; hoa đực
b đầu cành, hoa cái ở cuối cành, tiểu nhụy 3, chỉ nhị dính nhau; Quả nang,
hình cầu đường kính khoảng 2mm, mọc rủ xuống ở dưới lá nên được gọi là
diêp hạ châu (nghĩa là hạt dưới lá); mỗi quả có 6 hạt hình tam giác, màu nâu
nhạt, có vân ngang. Cây thường ra hoa từ tháng 4 đến tháng 6 và ra quả từ
tháng 7 đến tháng 9 [1,7].
Ngoài những đặc điểm chung trên, hai loài p. amarus và p. urinaria
cũng có một số điểm khác biệt về hình thái như: p. amarus thường mọc
thẳng, thân mầu xanh, ít chia nhánh trong khi p. urinaria lại thường phân
Các tác dụng điều tri được biết đến rộng rãi của hai loài Phyllanthus
amarus và Phyllanthus urinaria bao gồm điều trị một số rối loạn đường tiêu
hóa (đặc biột là các bệnh lý về gan), bệnh tiểu đường, một số bệnh về thận,
đường tiết niệu, (Calixto et al., 1998). Gần đây, một số nghiên cứu lâm sàng
và dược lý đã chứng minh dịch chiết và thành phần của hai loài cây thuốc này
có tác dụng ức chế quá trình sao chép của virút viêm gan B và nhiều
retrovirút khác (trong đó có HIV) nhờ tác dụng ức chế hoạt động của enzym
sao chép ngược reverse transcriptaza [13,21,22].
Ngoài ra, một số nghiên cứu khác cho thấy các dịch chiết Phyllanthus
có hoạt tính ức chế ACE (angiotensin-converting enzym) liên quan đến một
số biến chứng của bệnh tiểu đường [24,25]
1.1.5. Thành phần hoá học của Phyllanthus L.
Các chất hoá học của cây Phylanthus L. tìm thấy ở lá, thân và rễ gồm
một số chất chính như:
Lignan : phyllanthin, hypophyllanthin, niranthin.
Flavonoid : phyllanthin flavonoid FG-1, phyllanthin flavonoid FG-2.
Tannin : repandusinic acid, geraniin.
Ngoài ra còn một số thành phần hoá học như: glycoside, alkaloid,
elligitannin, phenylpropanoid, lipid, sterol, flavonol, [12].
Hypophyllanthin Phyllanthin Niranthin
1.1.6. Các nghiên cứu về tác dụng dược lý của Phyllanthus L.
Từ giữa thập niên 60, Phyỉỉanthus L. đã trở thành đề tài nghiên cứu
hoá thực vật để xác định các phân tử hoạt động và các hoạt động dược lý của
chúng. Nguổn hoá thực vật chỉ có thể tìm thấy ở giống Phyllanthus. Nhiều
phân tử hoạt động là thuộc tính hoạt động sinh học như lignan, glycoside,
flavonoid, alkaloid, elligitannin, phenylpropanoid tìm thấy ở lá, thân và rễ
cây. Các lipid, sterol, flavonol cũng thấy phổ biến trong cây [12, 17].
Hai chất phyllanthin và hypophyllanthin được xác định là có hoạt tính
chống viêm gan [18,20].
9
1.2. ĐẠI CƯƠNG VỂIZOZYM
Bản chất hoá học của enzym là protein, do đó cấu trúc không gian của
toàn bộ phân tử có vai trò quan trọng đối với hoạt tính sinh học xúc tác của
enzym.
Izozym là những biến dạng phân tử cùa enzym được xác định về phương diện
di truyền, khác nhau về cấu trúc bậc một và do các lôcut gen khác nhau xác
11
định. Hay nói cách khác izozym là những dạng enzym có hoạt tính xúc tác
tương tự hoặc giống nhau (cùng phản ứng hoá học) nhưng có các đặc tính
hoá học (độ pH tối ưu, điểm đẳng điện, chất ức chế, ) khác nhau. Trên cơ
sở đặc điểm di truyền, có thể chia izozym làm 2 loại:
- Izozym đơn gen: là các izozym chịu sự kiểm soát của một gen, được
hình thành từ các chuỗi polypeptít đơn, nhưng có các kiểu phân tử khác nhau
(v.d: về thành phần và trật tự các axít amin); vì vậy, có thể phân tách được
bằng điện di.
- Izozym đa gen: là các izozym được mã hoá bởi 2 hay nhiều gen, có thể
phân biệt được bằng hoá miễn dịch hoặc dựa trên đặc tính enzym.
Các biến dạng tương ứng của izozym là allozym. Allozym là sản phẩm
của những alen khác nhau của cùng một lôcut, nó khác với izozym là sản
phẩm của những lôcut khác nhau.
Các nhà khoa học đã đánh giá được tầm quan trọng của việc nghiên
cứu izozym để phục vụ cho nhiều lĩnh vực khác nhau. Một trong số đó là các
công trình nghiên cứu phân loại tiến hóa của các loài sinh vật.
Với trình độ kỹ thuật tiên tiến và sự phát triển của khoa học, ngày càng
có nhiều phương pháp để nghiên cứu tính đa hình của izozym. Ban đầu là
những phương pháp đơn giản như: phương pháp pha loãng, phương pháp độ
nhớt, phương pháp làm mất hoạt tính bằng kéo dài thời gian ngoài cơ thể đến
những phương pháp sắc kỷ (chromatography), phương pháp điện di
(Electronphoresis) và phương pháp ghi hình (scanning). Trong các phương
pháp này phương pháp nghiên cứu bằng điện di trên gel polyacrylamid được
những kết quả rất có triển vọng. Hiện nay đã xuất hiện hàng loạt các công
trình hóa sinh lâm sàng mà theo đó thì những biến đổi vể phương diện
izozym của huyết thanh bệnh nhân có thể có ỷ nghĩa trong chẩn đoán phân
biệt. Ngoài ra phương pháp nghiên cứu izozym còn được dùng để xác định
thành phần nhân chủng của một số tộc người ở Việt nam. Điểu đó góp phần
vào việc nghiên cứu các đặc trưng huyết học phục vụ cho nghiên cứu các
thông số sinh học của người Việt Nam [8].
1.2.1. Izozym Superoxide dismutaza (SOD. E .c .l.15.1.1)
Superoxide dismutaza (SOD) là enzym có mặt ở hầu hết các cơ thể
sống hiếu khí và các bào quan có sự hình thành dạng oxi hoạt động. SOD lần
đầu tiên được tách bởi Mann và Kellis vào năm 1938 và lúc bấy giờ các tác
giả này cho rằng đó là một protein có chứa kim loại đồng (Cu2+). Sau đó
người ta gọi enzym này với một số tên như: erythrocuprein,
indophenoloxidaza hay tetrazolium oxidaza. Đến năm 1969 Me Cord và
Fridovich đã phát hiện ra chức nâng xúc tác đặc biệt của enzym này và đặt
tên là superoxide dismutaza (SOD) xúc tác cho phản ứng biến đổi superoxide
(0*‘2) thành peroxide hydro (H20 2) và oxi (0 2) theo các phản ứng sau:
SOD-Cu + 0*2 — ► SOD-Cu1+ + 0 2
SOD-Cu1+ + 2H+— ► SOD-Cu2+ + H20 2
Phương trình tổng quát là:
SOD
0*2 + 0*2 + 2H+
* 0 2 + H20 2
Như vậy SOD có vai trò là trung tâm trong việc triệt tiêu gốc
superoxide được tạo ra bởi quá trình oxi hoá.
Về mặt di truyền thì tất cả các enzym SOD đều được mã hoá trong
nhân và chuyển đến cơ quan đích nhờ trình tự tín hiệu dân đường .
13
v ề mặt phân loại các enzym SOD đều cẩn có các ion kim loại cho hoạt
Năm 1957- 1961 ủy ban về enzym của Hội Hóa sinh quốc tế đã soạn
thảo sự phân loại thống nhất và danh pháp của các enzym. Qua đó các enzym
được phân ra làm 6 nhóm , mỗi nhóm chia thành các phân nhóm , dưới phân
nhóm và tiểu phân nhóm. Esteraza được xếp vào nhóm 3, phân nhóm thứ 1 và
tiểu phàn nhóm thứ 1.
Ở thực vật đã được chứng minh là có 3 nhóm esteraza: Arylesteraza
(A), Aliesteraza (B) và Cholinesteraza (C). Các A.esteraza thủy phân este
thơm nhanh hơn mạch thẳng, trong khi đó B.esteraza thủy phân những este
14
mạch thẳng nhanh hơn nhóm A.esteraza . c.esteraza có tác dụng mạnh nhất
đối với cholineste và cũng có thể thủy phân este mạch thẳng và este thơm
nhưng không dẽ dàng bằng 2 nhóm kia [19].
ị.2.3. Izozym Peroxidaza (PO. E .c.l. 1.1.17)
Izozym peroxidaza thuộc lớp enzym oxi hóa khử , chúng có khả năng
oxi hóa các hợp chất thơm khi có mặt H20 2. Peroxidaza có thể giết chết các
vi sinh vật và phá hủy các chất hóa học khi có mặt H20 2, phenol, alcohol.
Đây là loại izozym độc cho các tế bào động vật và thực vật. Các izozym
peroxidaza khác nhau được tìm thấy trong các mô khác nhau. Các peroxidaza
thực vật có tính đặc hiệu cơ chất rộng rãi. Trong nghiên cứu peroxidaza cây
cải ngựa (HRP) ( Maehly, 1960) cho thấy cơ chế tác dụng peroxidaza gồm
có 3 giai đoạn:
Izozym peroxidaza được chia làm hai nhóm chính: nhóm axit và nhóm
kiềm. Bằng phương pháp điện di và sắc ký trên đối tượng lúa mạch người ta
thấy phần lớn các dạng peroxidaza nằm trong nhóm kiềm, còn các dạng
thuộc nhóm axit chiếm một tỷ lệ rất thấp [19].
HRP + H2Oz
Complex I + AH
Complex II + AH
Phương trình tổng quát là:
H20 2
Hoàn Kiếm
Đợt 1
2
U-rx
P. urinaria
Thanh Xuân
Đơt 1
3
UTO
P. urinaria
Trâu Ọuỳ, Gia Lâm
Đơt 1
4
a nt
Phyllanthus
amarus
Ngọc Trục, Từ
Liêm
Đợt 1
5
Abđ
Phyllanthus
amarus
Ba Đình
Đợt 4
6
Urb
P. urinaria
Đơt 1
7
13
^HB
Phyllanthus
amarus
Hải Bối, Đông Anh
Đợt 3
14
U h b
P. urinaria
Đơt 3
15
Apj
Phylỉanthus
amarus
Phú Thị, Gia Lâm
Đợt 3
16 UpT P. urinaria
Đơt 1
17
UpL
P. urinaria
Phủ Lỗ, Sóc Son Đơt 3
18
Ath
Phyỉlanthus
amarus
Tây Hồ
Đợt 4
19
^ĐD
25
U rK
P. urinaria Tứ Kỳ
Đợt 2
1 Đợt 1: ngày 7-8/12/2004; Đợt 2: ngày 2-3/3/2005; Đợt 3: ngày 7-8/3/2005; Đợt 4: ngày
24-29/3/2005.
17
Ký hiệu
mẫu
Đia điểm thu mẫu Thời gian
thu mẩu'
STT
Loài
Xã, huyện
Tỉnh/Thành
phố
26
Avy
Phyllanthus
amarus
Viêt Yên
Đợt 2
27 Uvv P. urinaria
Đơt 2
28
Aln
Phyllanthus
amarus
Lục Ngạn
Bắc Giang Đợt 2
Lương Sơn Hoà Bình
Đợt 4
35
Ayđ
Phyllanthus
amarus
Yên Định
Thanh Hóa
Đợt 4
36 UTĐ
P. urinaria Tam Đảo
Vĩnh Phúc
Đợt 4
Để thu thập nguyên liệu, chúng tôi tiến hành bốn đợt điều tra xác định
vị trí phân bố tự nhiên của các quần thể hai loài p. amarus và p. urinaria à
một SỐ địa phương thuộc miền Bắc. Cụ thể, đợt 1 được tiến hành trong các
ngày 7-8/12/2004, tại Hà Nội, Hà Tây, đợt 2 trong các ngày 2-3/3/2005, tại
Bắc Giang, Hải Dương, đợt 3 trong các ngày 7-8/3/2005 tại ngoại thành Hà
Nội và đợt 4 từ ngày 24/3 đến ngày 29/3/2005 tại Hà Nội, Hưng Yên, Hà tây,
Hoà Bình và Vĩnh Phúc. Từ các mẫu thu được, dựa vào khoá phân loại hình
thái, chúng tôi chọn ra 36 mẫu có các đặc điểm hình thái tương đối điển hình
của hai loài cây thuốc được quan tâm nghiên cứu, trong đó 17 mâu thuộc loài
Phyllanthus amarus (được ký hiệu là A) và 19 mẫu thuộc loài Phyllanthus
urinaria (được ký hiệu là U).Danh sách, địa điểm và thời gian thu thập các
mẫu được nêu chi tiết trên Hình 4 và Bảng 1.
2.2. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH ĐA HÌNH IZOZYM
Phương pháp phân tích đa hình izozym được thực hiện theo qui trình
của Tanksley s. D. và Orton T. J. (1983)[19] kết hợp với Zimmerman w . J.
(1989)[ 23] có cải tiến, với các bước thực hiện chính như sau:
2.2.1. Phương pháp thu mẫu
đáy bản gel khoảng lcm. Sau khi điện di xong, gel được lấy ra khỏi khuôn và
tiến hành nhuộm.
Sau khi điện di đại đa số protein là không có mầu (trừ Hemoglobin), vì
vây ta phải tiến hành nhuộm để biết vị trí của protein sau khi chạy điện di,
đoi với mỗi loại prôtein có cơ chất chất xúc tác và thuốc nhuộm khác nhau.
Phương pháp phân tích hệ izozym SOD bằng phản ứng nhuộm màu với NBT
và Riboflavin. Phân tích hệ izozym esteraza bằng phản ứng nhuộm màu với
hỗn hợp 2 cơ chất oc-Naphthyl acetat, p-Naphthyl acetat với thuốc nhuộm
Fast Garnet và Fast blue RR salt. Phân tích hệ izozym PO bằng phản ứng
nhuộm màu của. bcnzidin trong A.accticl0% va được xac định tren đọ nhạy
earn với H 2o j[ 19,23].
2.2.4. Phương pháp phân tích kết quả nghiên cứu
Phương pháp tính Rf: Tính đa hình hệ izozym của các mẫu quần thể thuộc
hai loai p amarus và p. urinaria biểu hiện thông qua sự khác biệt về thành
phần và tốc độ di chuyển tương đối (Rf) của các băng điện di trên bản gel
phan tích. Để phân biẹt các băng đa hình, độ di chuyển tương đối Rf được
19
xác định bằng tỷ lộ khoảng cách từ đầu gel tách đến vị trí báng điện di so với
chiều dài gel tách [16].
R f = -
1
x: Khoảng cách từ đầu gel tách đến vị trí băng điện di
1: Khoảng cách từ đầu gel tách đến vạch kết thúc điện di.
Phương pháp tính khoảng cách di truyền dựa trên dấu chuẩn izozym:
Các băng đa hình được ghi nhận dựa trên sự có mặt hoặc vắng mặt của
chúng. Các số liệu được thu thập và xử lý bằng chương trình NTSYSpc 2.02h
(Rohlf F.J, 1993) để xác định hệ số tương đồng di truyền và xây dựng sơ đồ
hình cây quan hộ di truyền giữa các mẫu quần thể thu được.
20
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
cua loài
p. amarus (Rf= 0?63; Rf= 0,71 và Rf= 0,75). Trong khi đó, việc
21
phân tích 19 mẫu quẩn thể của loài p. urinaria chỉ thấy xuất hiện băng điên
di ở 4/19 mẫu (chiếm « 20%) đó là các mẫu UVY (Hình 6), lim (Hình 7),
U ThT> và ƯL5 (Hình 8) vói tổng sổ 5 băng đa hình (Rf = 0,45; Rf = 0,48- Rf =
0,63; Rf = 0;71 và Rf = 0,75). Đối với 15/19 mẫu p. urinaria còn lại không
quan sát thấy băng điện di. Một điểm dáng chú ý nữa là trong số 4 mẫu kể
trên ( đặc biệt rõ đối với hai mẫu UVY và UNB), băng điện di chỉ xuất hiên ở
cac VỊ tn Rf là 0,63; 0,71 và 0,75, như vậy giống với các băng đổng hình rõ
nét của các quần thể loài p. amarus. Nhưng có một sự khác biệt la đối với
các mẫu P. urinaria này, các băng điện di chỉ biểu hiện mờ với cường độ ánh
sang băng 1/2 so với các mâu p. amarus. Ngoài ra, khi quan sát rhực tế
chúng tôi thấy hại mẫu UVY và UNB được thu thập từ các khu vực có sự phân
bố của cả hai loài p . amarus và p. urinaria trong phạm vi hẹp. Điều đó dần
chụng tôi đến một giả thiết rằng: có thể các mẫu Uvy và UNB là “con lai” giữa
hại loài p. amạrus và p . urinaria, mặc dù về hình thái chúng mang đặc điểm
giống với loài p. urianaria (vì vậy được xếp vào nhóm U). đây la một hiện
tượng đáng quan tâm, chưa từng được ghi nhận trong các nghiên cứu phân
loại các loài Phyllanthus. Mặc dù trước đây đã có một số báo cáo cho thây có
sự tồn tại của các dạng trung gian về hình thái giữa các loài thuộc chi
Phyllanthus (Taylor, 2003) [20].
Rf
0,40
0,43
0.52
0,63
0,67
0,71
0,75
A) thu thập ở một số địa điểm tại miền Bắc Việt Nam
amarus (ký hiệu là
R f
ư pL
Ư TQ U NB U M U nA UHB
ư c, u rr
ư-nc M
0,63
0,71
0,75
Hình lơ: Phổ điện di hẹ izozym SOD của các mẫu quần thể loài Phyllanthus urinaria (ký hiệu
là U) thu thập ở một sô' địa điểm tại miền Bắc Việt Nam
24