ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN DU LỊCH
THANH HOÁ
Mã sô CBX2004
Chủ trì đề tài: PG S-TS Trần Đức Thanh
ĐA: HỌC Quoc GIA HA IMO'
■' ■ T/&V ~HÔIMG TIN THi ■ -'Ềr
Dĩ
/
59
Hà Nội - 2005
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường và trong xu thế hội nhập, việc khai
thác có hiệu quả tài nguyên là một vấn đề đặt ra có tính hết sức cấp bách. Để đạt
được điều đó, cần phải tiến hành đánh giá lại các nguồn lực. Trong du lịch, một
trong những nguồn lực quan trọng là tài nguyên du lịch. Trên cơ sở đánh giá
một cách chính xác tài nguyên du lịch theo vùng lãnh thổ mới có thể xây dựng
được các bản quy hoạch, đưa ra được chiến lược khai thác không gian một cách
bền vững, vừa thoả mãn nhu cầu của thế hệ hôm nay, vừa đảm bảo nhu cầu cho
các thế hệ mai sau.
Thanh Hoá được coi là một trong 14 tỉnh có tiềm năng phát triển du lịch
lớn nhất của nước ta. Tuy nhiên hoạt động du lịch ở đây chỉ chiếm một tỷ trọng
rất khiêm tốn. Lượng khách năm 2004 chỉ có 701.800 lượt, doanh thu 160 tỷ
đổng và nộp ngân sách 10,53 tỷ. Các nhà kinh tế chưa đầu tư nhiều vào du lịch
Thanh Hoá như ở một số tỉnh khác. Một trong những nguyên nhân là họ thiếu
thông tin về khả năng khai thác tài nguyên, về tiềm năng du lịch của tỉnh.
Về phía Khoa Du lịch trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn cho
đến nay đã bắt đầu có môn Đánh giá tài nguyên du lịch cho hệ cao học. Tuy
nhiên các tài liệu hầu như rất ít, đặc biệt là tài liệu về đánh giá tài nguyên du
Thanh Hoá tập trung hầu hết ở trên địa bàn 14 đơn vị hành chính này.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
2
Quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Quán triệt quan điểm này, đề tài đã xem xét đánh giá tài nguyên du lịch
Thanh Hoá theo quá trình phát triển nhu cầu và điều kiện kinh tế xã hội cụ thể
của tỉnh, có tính đến khả nãng biến đổi và xu thế phát triển của nó.
Quan điểm, đường lối của Đáng
Mục tiêu phấn đấu của Đảng ta là dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, vãn minh. Đây phải là kim chỉ nam cho mọi hành động nói chung, cho
mọi hoạt động nghiên cứu khoa học nói riêng. Do vậy mục đích của đtài này
cũng dựa theo hướng phần nâng cao đời sống của nhân dân, góp phần làm cho
xã hội bình đẳng hơn, văn minh hơn, làm cho nước ta nói chung, Thanh Hoá nói
riêng thực sự mạnh về kinh tế, vững về chính trị, ổn định về xã hội.
Quan điểm hệ thông
Nội dung của quan điểm hệ thống được quán triệt khi nghiên cứu, đánh
giá hoạt động du lịch của điểm du lịch Thanh Hoá. Đó là đề tài đã xem xét nội
dung nghiên cứu trong tình hình hoạt động du lịch của tiểu vùng du lịch Trung
tâm và rộng hơn nữa của vùng du lịch Bắc Bộ và cả nước. Hoặc khi nghiên cứu
về hoạt động điều hành quản lý nhà nước về du lịch ở Thanh Hoá với tư cách
một phân hệ trong hệ thống lãnh íhổ du lịch đề tài đã dựa vào các văn bản pháp
quy của nhà nước, cụ thể là của Tổng cục Du lịch Việt Nam. Trong khi đó cũng
phải thấy rõ quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch
ở cấp tỉnh trong việc chỉ đạo các cơ quan cấp dưới.
Quan cỉiểm tổììg hợp
Nếu như coi quan điểm hệ thống là cách nhìn đối tượng trong bảng phân
vị thì quan điểm tổng hợp cho cách nhìn sự vật trong mối tương quan với các
lĩnh vực khác. Mặc dù đề tài nghiên cứu về đánh giá tài nguyên phục vụ mục
đích phát triển du lịch nhưng vẫn cân nhắc đến gía trị của tài nguyên đó đối với
một lĩnh vực kinh tế hay văn hoá xã hội nào khác của tỉnh.
Mapiníò và phương pháp nhân bản truyền thống.
Bố cục của báo cáo
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung của báo
cáo có 3 chương.
Chương 1. Tổng luận về tài nguyên du lịch và đánh giá tài nguyên du
lịch.
Chương 2. Khảo sát giá trị của tài nguyên du lịch Thanh Hoá
Chương 3. Nhận xét và đề xuất của đề tài
Phương pháp bản đồ
5
CHƯƠNG l.TổNG LUẬN VỂ TÀI NGUYÊN DU
LỊCH VÀ ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN DU LỊCH
1.1. Tài nguyên du lịch
2.2.1. 1.1.1. Khái niệm
Tài nguyên là tất cả những nguồn nâng lượng, vật chất, thông tin và tri
thức được khai thác phục vụ cuộc sống và sự phát triển của xã hội loài người. Đó
là những thành tạo hay tính chất của thiên nhiên, những công trình, những sản
phẩm do bàn tay khối óc của con người làm nên, những khả năng của loài
người được sử dụng phục vụ cho sự phát triển kinh tế và xã hội của cộng đồng.
Xét về mức độ tiềm tàng, tài nguyên được chia thành 2 loại. Đó là tài
nguyên có thể hữu hạn và tài nguyên vô hạn. Cãn cứ vào sự biến đổi của tài
nguyên sau khi sử dụng có thể chia tài nguyên hữu hạn thành tài nguyên có thể
tái tạo được và tài nguyên không thể tái tạo được. Loại thứ nhất là loại sau khi sử
dụng chúng mất đi giá trị ban đầu của mình, không có cách nào, hoặc nếu có thì
cũng phải chi phí hơn nhiều lần giá trị thu được từ sử dụng chúng, để đưa chúng
về giá trị ban đầu đó. Có những loại tài nguyên sau khi sử dụng có khả năng đưa
chúng về giá trị ban đầu. Giữa khái niệm hữu hạn và vô hạn cũng không có ranh
6
giới rõ rệt. Một số tài nguyên nếu khai thác hợp lí thì có thể là loại vô hạn, song
nếu khai thác bất hợp lí cố thể làm chúng cạn kiệt dần, trở nên hữu hạn.
nếu ở Đà Lạt có khí hậu như ờ Vũng Tàu hay ngược lại thì liệu Đà Lạt và Vũng
Tàu có tên trên bản đồ du lịch nước ta như hiện nay không? Cung theo cach
này khó có thể nói được Văn Miếu-Quốc Tử Giám, địa đạo Cu Chi, khi hậu Đ
Lạt đã trở thành tài nguyên du lịch từ bao giờ. Như vậy cái gì lam cho nươe
khoáng Khánh Hội, Kim Bôi trở thành tài nguyên du lịch? Khi nước khoáng này
chỉ được đóng chai để bán rộng rãi trên thị trường trong và ngoài nước thi no co
thể được coi là tài nguyên du lịch không? Từ nhũng vấn đề trên chúng ta thây
được rằng khái niệm tài nguyên ữong du lịch có nét khác biệt so với trong cac
ngành kinh tế khác. Nếu như rừng được coi là tài nguyên vì con người có thê
khai thác được từ đây chất đốt, vật liệu xây dựng, nguồn thực phẩm thì chúng
được coi là tài nguyên du lịch vì một lí do hoàn toàn khác. Người ta đên vói rừng
vì sự trong lành của môi trường, vì muốn hiểu biết thêm về thế giới tự nhiên, vì
muốn thử sức mình v.v Tại sao mọi người đắm mình trước các bức tranh nổi
tiếng ở Viện Bảo tàng Ermitage, Louvre hay Viện Bảo tàng Mĩ thuật trong lời
giải thích của người thuyết minh. Cái gì làm cho du khách ngẩn ngơ khi đứng
trước các công trình kiến trúc lớn hoặc hiện đại như tháp Eiffel, nhà hát opera
Sydney, tháp truyền hình Thượng Hải? Rõ ràng rằng mọi người đến tham quan
nhà thờ Phát Diệm vì một kiểu kiến trúc nhà thờ kì lạ là chính chứ không phải
chỉ thoả mãn nhu cầu tâm linh (nếu có).
Như vậy tài nguyên du lịch phải là những giá trị thẩm mĩ, lịch sử văn
hoá, tâm linh, giải trí, kinh tế của các thành tạo tự nhiên, những tính chất của
thiên nhiên, các công trình, sản phẩm do bàn tay hay trí tuệ của con ngưòi làm
nên có sức hấp dẫn vói du khách hoặc được khai thác phục vụ phát triển du lịch.
Từ đây có thể dễ dàng nhận thấy rằng sự tồn tại dưới dạng vật thể của
.htah „0 Mên „hiẽ„ hoạc cùa các sàn phầm do con „gưùi ạ 0 „ M có m
nghĩa nhât định dc chúng dưọc coi là tài nguyen du lịch m
8
không phải sự tồn tại dưới dạng vật thể mà chủ yếu là các giá trị (phi vật thể) đã
làm cho các thành tạo tự nhiên, các sản phẩm do con người tạo ra trờ thành tài
nguyên du lịch.
việc tổ chức nghỉ ngơi ; 2) tâm lý-thẩm mỹ, khi phân tích đặc điểm tác động về
mặt cảm xúc của môi trường tự nhiên tới người đi nghỉ, sự phong phú, đa dạng
các đối tượng tự nhiên và lịch sử-văn hoá ; 3) đánh giá kỹ thuật ở đây xác định
lợi ích cùa những tài nguyên-cho việc tổ chức các dịch vụ du lịch-nghỉ dưỡng
khác nhau, khả năng hình thành các hệ thống lãnh thổ du lịch chuyên môn và
tổng hợp (Mukhina 1973). Tính chất tổng hợp của các tài nguyên du lịch đòi hỏi
phải kết hợp cả ba kiểu đánh giá để xác định được giá trị của tài nguyên, hình
thức sử dụng chúng một cách hợp lý. Người ta cũng dự thảo các phương pháp
đánh giá kinh tế tài nguyên du lịch, chú ý đến cơ chế tạo lợi nhuận, so sánh chi
phí khai thác tài nguyên một loại hình, gắn với hiệu quả kinh tế cùa dịch vụ du
lịch thu được trong lĩnh vực sản xuất vật chất, lượng dịch vụ có sẩn và lợi nhuận
nhận được từ việc khai thác tài nguyên du lịch.
2.2.3. 1.1.3. Phàn loại tài nguyên du lịch
Có nhiều cách phân loại tài nguyên du lịch. Thông thường theo nguồn gốc
thành tạo người ta phân loại chúng thành tài nguyên du lịch tự nhiên và tài
nguyên du lịch nhân văn. Một số tác giả gọi tài nguyên du lịch do con người tạo
ra là tài nguyên du lịch nhân tạo. Điều này không phù hợp với nghĩa cùa từ nhân
tạo vì không phải bất cứ thứ gì do con người làm ra cũng đều được coi là nhân
tạo. Mặt khác, theo định nghĩa vừa nêu về tài nguyên du lịch có thể thấy sự
khác biệt cơ bản giữa khái niệm tài nguyên trong du lịch và các lĩnh vực khác là
giá trị của chúng. Một số học giả chia thành tài nguyên hữu thể và tài nguyên
phi vật thể hoặc tài nguyên hữu hình và vô hình. Quan niệm hữu thể và vô thể,
hữu hình và vô hình khá trực giác. Theo họ, những gì có thể nhìn thấy được, sờ
nắm được gọi là hữu thể hay hữu hình, ngược lại là vô thể. Những ví dụ có thể
10
minh hoạ họ có thể đưa ra về hữu thể như Vãn Miếu-Quốc Tử Giám, Hạ Long,
Nhà thờ Phát Diệm; làn điệu dân ca, phong tục tập quán là vô thể. Tuy nhiên,
như đã trình bày ở trên, bất cứ một thứ gì được coi là tài nguyên du lịch khi và
chỉ khi nó có sức hấp dản du khách hay nói cách khác chúng có một nào đó.
Những giá trị này có thể nhận được khi du khách nhìn thấy (giá trị thẩm mỹ, giá
Các yếu tố chính của khí hậu là bức xạ mạt trời, lượng mây che phủ bầu
trời, áp suất khí quyển, tốc đọ gió và hướng gió, nhiệt độ không khí, lượng giáng
thuỷ, lượng bốc hơi.
Bức xạ mặt trời là tổng năng lượng của mật trời đi đến mặt đất. Năng
lượng này truyển xuống chủ yếu dưới dạng quang nãng, sau đó chuyển hoá
thành nhiệt năng và cơ năng. Lượng nãng lượng này là nhân tố chính tạo nên
thời tiết của trái đất. Do Trái đất có dạng hình cầu nên cường độ bức xạ mặt trời
mà các nơi trên trái đất nhận được sẽ không như nhau, tạo nên sự khác biệt về
thời tiết. Những vùng ở vĩ độ thấp nhận được nguồn nãng lượng nhiều hơn nên
có khí hậu nóng hơn hai vung cực.
Lượng mây xuất hiện ít hay nhiều trên bầu trời ảnh hường đến cường độ
bức xạ mặt trời đi đến mặt đất. Do vậy đây là một yếu tô' quan trọng tạo nên
thời tiết của địa phương.
Khí áp là lực tác dụng lên một đơn vị diện tích của trọng lượng cột không
khí có chiều cao bằng chiều dày của khí quyển tại một điểm cụ thể nào đó. Khí
áp ở vùng núi sẽ nhỏ hơn khí áp của vùng ven biên. Ngoài ra, khí áp còn phụ
12
thuộc vào lượng khí bị dồn nén làm khối lượng riêng của nó tăng hay giảm hơn
bình thường trong các điều kiện có gió, bão hay thay đổi nhiệt độ.
Nhiệt độ không khí thể hiện cường độ bức xạ mặt trời mà bề mặt trái đất
tại một điểm cụ thể nhận được. Một trong những yếu tố có tác động đến nhiệt
độ là độ hấp thụ nhiệt của bề mặt nhận quang năng. Bề mặt càng tối (sẫm màu)
thì tỷ lệ năng lượng dưới dạng quang năng chuyển sang nhiệt năng càng lớn và
ngược lại.
Như phân trên đã trình bày, khí hậu tồn tại ở mọi vùng trên Trái đất. Do
vậy khó có thể nói khí hậu là tài nguyên du lịch tự nhiên được. Cũng như địa
hình, khí hậu nhìn chung được coi là điều kiện của hoạt động du lịch. Tuy nhiên
ở một số nơi, nếu không có điều kiện khí hậu phù hợp không thể triển khai được
một số loại hình du lịch cụ thể. Ví dụ Vũng Tàu không thể là một bãi biển nổi
tiếng, thu hút hàng triệu khách mỗi năm nếu ở đó có khí hậu như Đà Lạt hoặc Sa
xanh.
Hổ xâm thực là loại hồ được hình thành do vận động sụt lún cùa vỏ trái
đất gây ra. Trong các loại hồ này, cần chú ý đến loại hổ hình thành trên nền đá
mẹ là đá vôi. Lớp đá này có nhiều vết nứt, hang ngầm dưới lòng hồ. Những khe
nứt này đã làm yếu, đôi khi triệt tiêu lực đẩy của nước trong hồ. Do vậy tắm
trong các hồ này rất nguy hiểm, ngay cả đối với người giỏi bơi lội.
Hồ móng nsựa là loại hồ hình thành sau hiện tượng đổi dòng cùa sông.
Tất cả các con sông đểu có dạng miandre (rắn lượn). Khi mùa mưa tới. nhiều
đoạn nước không chảy kịp theo lòng sông đã tràn bờ và chảy thảng xuống nơi
thấp hơn. Đoạn cong của sông trở thành một khúc sông “chết”. Các hồ này có
hình như một chiếc móng ngựa nên các nhà địa mạo học đã lấy luôn hình tượng
đó đặt tên cho loại hổ này. Đặc điểm của hổ này là mực nước lên xuống theo
chế độ thuỷ văn cùa sông mẹ, sổng đã sinh ra hồ móng ngựa.
14
Theo Ngô Ngọc Cát, Nguyễn Xuân Tãng và Tô Đình Huyên 1990(l) Nước
khoáng là nước thiên nhiên (chủ yếu là nước dưới đít) có chứa một số thành
phần vật chất đặc biệt (các nguyên tô' hoá học, các khí, các nguyên tố phóng
xạ ) hoặc có một sô' tính chất vật lý (nhiệt độ cao, độ pH ) có tác dụng sinh lý
đối vói con người.
Vói tư cách là tài nguyên du lịch, nước khoáng là nước thiên nhiên (chủ
yếu là nước dưới đất) có chứa một sô' thành phần vật chất đặc biệt (các nguyên
tố hoá học, các khí, các nguyên tô' phóng xạ ) hoặc có một số tính chất vật lý
(nhiệt độ cao, độ pH ) có tác dụng tốt đối với sức khoẻ con người.
Thế giới động thực vật
Khác với các loại tài nguyên du lịch tự nhiên kể trên, bản thân thế giới
động thực vật đã có sức hấp dẫn đối với du khách. Trong khi con người đang tìm
mọi cách tạo ra một môi trường kỹ thuật dễ chịu hơn so với môi trường thiên
nhiên, cũng tức là càng tách biệt với mỏi trường tự nhiên thì ngược trờ lại, với tư
cách là một thực thể của thiên nhiên, con người lại muốn quay trở vể với thiên
nhiên. Điều này thể hiện rõ ở sở thích của những người sống trong các đô thị,
Di sản văn lìoá plii vật thể
Di sản vãn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn
hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền
miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu truyền khác, bao gồm tiếng
nói, chữ viết, tác phẩm vãn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng,
diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công
(l> Điểu 4. mục 2. Luât di sàn văn hoá
(2) Điéu 4. mục 3. Luât di sàn văn hoá
(,) Điẻu 4. mục 4. Luật di sàn vãn hoá
,4' Điéu 4. mục 5. Luật di sân vãn hoá
(5> Điểu 4. mục 6. Luật di sàn vãn hoá
<6> Điểu 4. mục 7. Luật di sản văn hoá
16
truyền thống,tri thức về y, dược học cổ truiyền, về vãn hoá ẩm thực, về trang
phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khácơ)
Có nhiều quan niệm khác nhau trong việc phân chia tài nguyên du lịch
nhân vãn. Nếu coi tài nguyên du lịch nhân vãn là di sản văn hoá thì cũng có thể
chia chứng thành di sản văn hoá phi vật thể và di sản vãn hoá vật thể. Tuy cách
phân loại này còn nhiều điều đáng bàn song nó được nhiều người sử dụng nhất
hiện nay.
Theo cách chia này có thể xếp vào nhóm tài nguvên du lịch nhân văn hữu
thể các loại sau: di tích, công trình đương đại, hàng hoá, các mặt hàng ăn uống,
các sản phẩm làng nghề, các tác phẩm nghệ thuật hữu hình. Trong số các tài
nguyên du lịch nhân văn vô thể có thể kể đến lễ hội, phong tục tập quán, truyền
thuyết, các tác phẩm vãn hoá nghệ thuật vô hình, nếp sống, nghệ thuật ẩm
thực
Đặc điểm của tài nguyên du lịch nhân vân
-Tài nguyên du lịch nhân văn chủ yếu có giá trị nhận thức, giá trị giải trí
thường là thứ yếu.
-Tài nguyên du lịch nhân văn khồng có khả nãng tự phục hổi, bị xuống
không gian của hệ thống, qui mô lãnh thổ của hệ thốno.
Nắm được những vai trò quan trọng của tài nguyên mới có những định
huớng đúng đắn trong việc tổ chức, phát triển du lịch.
1.2. Đánh giá tài nguyên du lịch
2.2.7. 1.2.1. Khái niệm
Con người, trong hoạt động kinh tế không ngừng phải lựa chọn từ vô số
các đối tượng và hiện tượng xung quanh, những gì đáp ứng tốt nhất các yêu cẩu
của mình. Vì vậy mà con người luôn phải đánh giá, bởi vì thiếu nó không thể lựa
chọn được những đối tượng phù hợp nhất, và do đó không thể có được những
phương án tối ưu cho việc giải quyết các vấn đề kỹ thuật và kinh tế.
18
Trong các công trình có liên quan vói việc giải quyết những nhiệm vụ
kinh tế, nghiên cứu địa lý giữ vai trò quan trọng, trong đó đặc biệt là các công
trình đánh giá các tổng thể tự nhiên.
Đánh giá luôn liên quan với qui hoạch phát triển trong tương lai và với dự
báo các kết quả mong đợi. Để có qui hoạch đúng đắn cho các tổng thể lãnh thổ
cần phân tích chính xác các điều kiện tự nhiên mà trong đó các hệ thống này sẽ
hoạt động. Công việc này hiện nay không chi thuộc các nhà địa lý mà cả các nhà
kinh tế và qui hoạch nữa. Tuy nhiên, các nhà qui hoạch cần tham khảo những dữ
liệu cần thiết từ kết quả nghiên cứu của các nhà địa lý. Kết quả cùa những
nghiên cứu này không chỉ đề cập các thông tin cần thiết về các thành phần của
mỏi trường tự nhiên, các yếu tố và hiện tượng đặc thù của lãnh thổ mà phải cả
những đánh giá về mức độ thuận lợi của chúng cho một lĩnh vực hoạt động nào
đó của con người.
Đánh giá là nhận xét hoặc nhận định giá trị (nãng lực, phẩm chất, chất
lượng, số lượng ) của đối lượng đánh giá so với một tiêu chuẩn nào đó. Đánh
giá có thể hiểu là một quá trình, một hoạt động nhận định giá trị hoặc cũng có
thể được hiểu là kết quả của quá trình đó. Đánh giá phải dựa vào các chuẩn, tức
là những quy định hay đơn vị đo lường-hiểu theo nghĩa rộng, làm cãn cứ để so
sánh.
chủ thể (những điều kiện cần được đáp ứng) là các hệ thống kỹ thuật, các công
trình kỹ thuật, thì đó là đánh giá kỹ thuật.
Đánh giá các mối tác động trực tiếp giữa các tổng thể tự nhiên với sở
thích hay nhu cầu, nhận thức của con người, đó là đánh giá tlteo tâm lý. Một số
nhà khoa học như Pirojnik 1985 (Belarus), Mukhinna (1983), Nguyễn Minh Tuệ
1996 gọi là các đánh giá tâm ỉỷ-thẩm mỹ.
Khi đánh giá các dạng tài nguyên theo sự thích ứng của nó đối với sức
khoẻ, khả năng chịu đựng của con người Thí dụ như các yếu tố khí hậu đối với
20
con người thì gọi là đánh giá theo kiểu sinh học. Kiểu đánh giá này chủ yếu dựa
trên cơ sở thực nghiệm.
Đánh giá kinh tế là khi hoạt động đánh giá cho kết quả bằng tiền tệ.
So sánh giữa các kiểu đánh giá này cho thấy đánh giá cho các công trình
kỹ thuật hoặc cho cây trồng nồng nghiệp thường đom giản hơn vì những yêu cầu
của nhiều loại công trình kỹ thuật hoặc cây trồng nông nghiệp đã được nghiên
cưu và đã được xác định theo những chuẩn mực cụ thể. Còn đánh giá tâm lý-
thẩm mỹ hay y-sinh học thường khó khăn, phức tạp hơn nhiều bời nhu cầu, ý
thích của con người là hết sức đa dạng và trong nhiều lĩnh vực còn chưa được
nghiên cứu đầy đủ.
Trong tất cả các kiểu đánh giá đều nhất thiết phải nghiên cứu kỹ đặc điểm
của cả hai đối tượng tác động tương hỗ, một bên là các tổng thể tự nhiên, còn
bên kia là các công trình kỹ thuật, là con người hoặc cây trổng nông nghiệp. Khi
đánh giá, bất kỳ một đối tượng nào thuộc hệ thống đánh giá cũng có thể là chủ
thể hoặc khách thể, tuy nhiên, trong các khảo sát địa lý, khách thể thường là các
điều kiện địa lý hoặc tài nguyên, còn chủ thể là hệ thống kỹ thuật, con người,
cây trồng nông nghiệp. Như vậy, đánh giá bao giờ cũng gồm hai đối tượng.
Liên quan đến mức độ nghiên cứu, yêu cầu nghiên cứu của các đối tượng
khác nhau, có thể có nhiều loại nhiệm vụ khác nhau trong những công trình
đánh giá. Loại nhiệm vụ thường gặp nhất là tìm các yếu tố địa lý (tự nhiên, kinh
tế, xã hội) có điều kiện thuận lợi cho một loại công trình hay một loại hoạt
kết nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về lĩnh vực
này. Cùng với kinh nghiệm thực tế rút ra được từ các công trình nghiên cứu tập
thể mà bản thân đã tham gia, ông đã đưa ra những nguyên tắc và phương pháp
chung nhất để tiến hành một công trình đánh giá. Đây là một công trình có giá
trị về mặt phương pháp luận trong lĩnh vực đánh giá kỹ thuật các tổng thể tự
nhiên, là kim chỉ nam cho các công trình về đánh giá. Tuy nhiên, ông cũng đã
22
chỉ ra rằng đánh giá các đối tượng khác nhau, cho các mục đích khác nhau đều
có đặc thù riêng, nhung về nguyên tắc và phương pháp lại có những điểm chung.
Chính những điểm chung này là cơ sở để đưa ra một phương pháp luận khoa học
thống nhất cho việc đánh giá các tổng thể tự nhiên. Song, một phương pháp vạn
năng là không thể nào có được. Vì vậy, cần phải xây dựng phương pháp luận
đánh giá chung cũng như những nguyên tắc và phương pháp đánh giá riêng cho
từng loại mục đích khác nhau
Đánh giá lãnh thổ cho mục đích du lịch-nghỉ dưỡng là một hướng thuộc
lĩnh vực đánh giá các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên cho mục đích
kinh tế. Hướng này đã được nhiều nhà địa lý đề cập đến trong các công trình của
mình. Trước hết, phải kể đến công trình của các nhà địa lý Xô viết như
V.Xtauxkat.1969 nghiên cứu các chỉ tiêu đánh giá cảnh quan, phục vụ mục đích
qui hoạch du lịch, ông đã đề cập đến cả những yếu tố tự nhiên cũng như kinh tế
(rừng, sông, địa hình, đường sá ) khi đánh giá cho mục đích du lịch.
M.G.Bojcer, đánh giá các điều kiện cho việc phát triển du lịch nghỉ dưỡng. Đạc
biệt, công trình của Iu.A.Veđenhin và N.N.Mirósnhitrencồ đã đánh gía toàn bộ
các yếu tô' tự nhiên làm tiền đề cho việc tổ chức các vùng du lịch nghỉ dưỡng.
Công trình của L.I.Mukhina, 1973 về lĩnh vực này có vai trò quan trọng. Ông đã
xây dựng phương pháp luận đánh giá tổng thể tự nhiên cho một loại hình nghỉ
ngơi giải trí cụ thể, đó là nghỉ ngơi tĩnh tại cho những người cao tuổi.
E.A.Kôtliaiốp, 1978 tiến hành đánh giá lãnh thổ phục vụ hình thành và phát
triển các tổng thể lãnh thổ du lịch. Còn Pirôjnik, 1985 thì tiến hành phân vùng
du lịch toàn bộ lãnh thổ Liên xô trên cơ sở đánh giá tổng hợp các thành phần
lịch cho việc phát triển du lịch bền vững thì bằng các yếu tố như: giá trị của tài
nguyên du lịch, khả năng tiếp cận, các hoạt động du lịch, cơ sở hạ tầng và cơ sở
vật chất kỹ thuật du lịch, sự lôi cuốn cộng đồng địa phương và sự tham gia của
cộng đồng. Tuy nhiên các đánh giá này cũng chỉ là định tính chứ chưa có những
chỉ tiêu định lượng cụ thể.
24