ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG CHUYÊN ĐỀ PHÂN TÍCH LỢI ÍCH – CHI PHÍ (TÀI LIỆU DÙNG CHO SINH VIÊN NGÀNH KINH TẾ ĐẦU TƯ) - Pdf 25

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
Chuyên đề 1. Giới thiệu chung về CBA và các khái niệm cơ bản liên quan 2
1.1. Giới thiệu chung 2
1.2. Các khái niệm cơ bản liên quan đến CBA 3
1.3. Đối tượng sử dụng CBA chuẩn 6
Chuyên đề 2. Xác định chi phí, lợi ích và tỷ lệ chiết khấu xã hội 8
2.1. Xác định chi phí 8
2.2. Xác định lợi ích 8
2.3. Tỷ lệ chiết khấu xã hội 9
Chuyên đề 3. Phân tích tài chính CBA, kinh tế CBA và kinh tế mở rộng CBA 15
3.1 Phân tích tài chính CBA 15
3.2 Phân tích kinh tế CBA 15
3.3 Phân tích kinh tế mở rộng CBA 16
Chuyên đề 4. Phân tích CBA trong một số trường hợp cụ thể 19
Chuyên đề 1. Giới thiệu chung về CBA và các khái niệm cơ bản liên quan
Số tiết: 3 (Lý thuyết)
A) MỤC TIÊU
- Về kiến thức: Sinh viên nắm chắc khái niệm về CBA.
- Về kỹ năng: Sinh viên có khả năng vận dụng khái niệm CBA vào phân tích lợi ích
chi phí.
- Về thái độ: Sinh viên yêu thích bài học, ham thích tìm hiểu các vấn đề liên quan đến
CBA.
B) NỘI DUNG
1.1. Giới thiệu chung
Phân tích lợi ích chi phí là một kỹ thuật phân tích để đi đến quyết định xem đây có nên
tiến hành các dự án đã triển khai hay không hay hiện tại có nên cho triển khai các dự án được
đề xuất hay không. Phân tích lợi ích chi phí cũng được dùng để đưa ra quyết định lựa chọn
giữa hai hay nhiều các đề xuất dự án loại trừ lẫn nhau.
Người ta tiến hành CBA thông qua việc gắn giá trị tiền tệ cho mỗi một đầu vào cũng
như đầu ra của dự án. Sau đó so sánh các giá trị của các đầu vào và các đầu ra. Cơ bản mà nói,

Những vấn đề công bằng, bình đẳng trong các trường hợp này có thể sẽ thế chỗ cho
thậm chí là những nguồn lợi ròng lớn về kinh tế. Nhưng ít nhất cũng có thể hy vọng rằng một
CBA có thể tác động tới quyết định của một người còn đang do dự hay có thể đưa chúng ta
đến với lựa chọn tối ưu giữa các dự án có tác động chính trị, xã hội tương tự như nhau.
1.2. Các khái niệm cơ bản liên quan đến CBA
Phân tích lợi ích-chi phí là việc xác định và so sánh lợi ích và chi phí của một chương
trình, chính sách, dự án để đánh giá dự án, chương trình, chính sách làm tăng hay giảm phúc
lợi kinh tế của xã hội.
Một số cách định nghĩa khác
Frances Perkins đưa ra định nghĩa phân tích lợi ích – chi phí từ góc độ phân tích tài
chính: “Phân tích kinh tế, còn gọi là phân tích lợi ích – chi phí, là phân tích mơ rộng của phân
tích tài chính, được sử dụng chủ yếu bởi các chính phủ và các cơ quan quốc tế để xem xét
một dự án hay chính sách có làm tăng phúc lợi cộng đồng hay không” (Frances Perkins, 1994).
Tevfik F.Nas định nghĩa “Phân tích lợi ích – chi phí là một phướng pháp được dùng để
nhận dạng, lượng hóa bằng tiền tất cả cái ‘được’ và ‘mất’ tiềm năng từ một dự án nhất định
nhằm xem xét dự án đó có đáng mong muốn hay không trên quan điểm xã hội nói chung”
(Tevfix F.Nas, 1996).
Boardman định nghĩa “Phân tích lợi ích – chi phí là một phương pháp đánh giá chính
sách mà phương pháp này lượng hóa bằng tiền giá trị của tất cả các kết quả của chính sách đối
với tất mọi thành viên trong xã hội nói chung. Lợi ích xã hội ròng (NSB = B – C) là thước đo
giá trị của chính sách” (Boardman, 2001).
J.A. Sinden định nghĩa “Phân tích lợi ích – chi phí là một phương pháp đánh giá sự
mong muốn tương đối của các phương án có tính cạnh tranh lẫn nhau, trong đó sự mong
muốn được đo lường bằng giá trị kinh tế đối với xã hội nói chung” (Giáo trình, 2003).
2
Harry Campbell định nghĩa “Phân tích lợi ích – chi phí là một quá trình nhận dạng, đo
lường và so sánh các lợi ích và chi phí xã hội của một dự án đầu tư hay một chương trình”
(Campbell, 2003).
Tóm lại, dù có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng tất cả đều đề cập đến bốn
vấn đề sau đây: (1) Phân tích lợi ích – chi phí là phương pháp đánh giá để thực hiện quyết

3
trường, thời hạn hay các mức lãi sất. Trong một phân tích được tiến hành một cách có trách
nhiệm, những giả định này được nêu một cách rõ ràng. Nếu có thể chúng được phân bổ cho
những nguồn lực đáng tin cậy. Nếu đưa ra một diện giá trị giả định thì phải có quy định rõ
ràng về diện giá trị được đưa ra.
4. Lập danh sách các tác động của mỗi dự án thay thế
Nên liệt kê các tác động tiềm tàng của mỗi dự án một cách đầy đủ nhất có thể. Có thể
liệt kê tác động của một hay nhiều dự án cụ thể được xem xét cũng như tác động của các lựa
chọn thay thế: giữ nguyên hiện trạng hay không triển khai bất kỳ dự án nào.
Điều quan trọng là tiến hành số lượng hóa các tác động nếu có thể. Để đánh giá chuẩn
xác một dự án đòi hỏi phải biết được lượng đầu vào và đầu ra cần có. Khi không thể số lượng
hóa được một tác động thì ít nhất ta cũng phải đề cập đến tác động đó. Một dự án hạn chế
quyền tự do cá nhân nên đề cập đến tác động này ngay cả khi không có nỗ lực nào được đưa
ra để định giá quyền tự do cá nhân.
5. Quy các giá trị cụ thể cho những tác động này
Có thể quy mỗi tác động này ra một giá trị tiền tệ nhất định nếu có thể.
6. Xử lý các tác động không được số lượng hóa
Cần phải kiệt kê rõ ràng bất kỳ tác động nào chưa được quy ra giá trị vật chất cụ thể .
Chỉ bằng cách này, chúng ta mới có thể cân nhắc giữa chúng với những chi phí và lợi ích đã
được định giá cụ thể.
Một cách tiếp cận với các lợi ích phi số lượng hóa là tính toán xem các lợi ích này lớn
đến mức độ nào thì đủ để đảo ngược các kết quả của CBA. Thông thường người ta có thể đưa
ra một đánh giá chung chung về việc những lợi ích này có khả năng đảo ngược quyết định hay
không. Bằng cách xem xét rõ ràng những tác động như vậy theo cách này, chúng ta sẽ tránh
được tình trạng lâm vào phân tích bị chi phối bởi các dữ liệu cứng.
Ví dụ như, khi cân nhắc một dự án hạn chế quyền tự do cá nhân, có thể dùng các lợi
ích và chi phí khác để tính mức lợi ích ròng của dự án đó, bỏ qua bất kỳ một cân nhắc về
quyền tự do cá nhân nào. Sau đó, có thể dành cho độc giả quyền tự quyết định xem những lợi
ích ròng khác có đủ để bù đắp hạn chế về quyền tự do cá nhân hay không, việc tiến hành dự
án có phải là một quyết định đúng đắn hay không.

- Thẩm định các dự án công: các dự án cung cấp vốn vật chất như cơ sở hạ tầng (cầu,
đường, thủy điện, truyền thông), phát triển nông nghiệp; các dự án làm tăng trữ lượng vốn
môi trường (cải tạo đất, kiểm soát ô nhiễm, quản lý và khai thác thủy sản, xây dựng các công
viên quốc gia); các dự án đầu tư phát triển vốn nhân lực như sức khỏe, giáo dục, kỹ năng; và
phát triền vốn xã hội như ngăn chặn tội phạm, cai nghiện ma túy, và giảm thất nghiệp.
- Ảnh hưởng của những thay đổi chính sách, chương trình của chính phủ như bãi bỏ
quy định của ngành, chính sách phi tập trung hóa, kế hoạch đào tạo, tái định cư, kiểm soát
môi trường, thuế, trợ cấp, …
C. TÀI LIỆU HỌC TẬP
[1] Allen S. Bellas và Richard O. Zerbe (2006), A Primer for Benefit-cost Analysis (Giới
thiệu Phân tích Chi phí và Lợi ích).
5
[2] Phùng Thanh Bình và Trương Đăng Thụy (2006), Phân tích lợi ích – chi phí, trường Đại
học Kinh tế TP Hồ Chí Minh.
6
Chuyên đề 2. Xác định chi phí, lợi ích và tỷ lệ chiết khấu xã hội
Số tiết: 4 (Lý thuyết)
A) MỤC TIÊU
- Về kiến thức: Sinh viên nắm chắc kiến thức về chi phí, lợi ích và tỷ lệ chiết khấu xã
hội.
- Về kỹ năng: Sinh viên có khả năng vận dụng tỷ lệ chiết khấu xã hội vào phân tích lợi
ích chi phí.
- Về thái độ: Sinh viên yêu thích bài học, ham thích tìm hiểu các vấn đề liên quan đến
CBA.
B) NỘI DUNG
2.1. Xác định chi phí
Khi dự án ra đời gây ra tác động: Làm tăng cầu yếu tố đầu vào; Giá thị trường của yếu
tố này tăng lên; Lượng cung tăng; Lượng cầu của những người tiêu dùng cũ giảm.
Tổng chi phí kinh tế của dự án (dt Q
D

0
E
1
Q
S
1
) = Tổng chi phí tài chính của dự án
(dtQ
D
1
AE
1
Q
S
1
)-Thay đổi phúc lợi ròng của xã hội (dt AE
0
E
1
)
2.2. Xác định lợi ích
Khi dự án ra đời gây ra tác động: Làm tăng cung sản phẩm; Giá thị trường của sản
phẩm này giảm xuống; Lượng cầu tăng; Lượng cung của những nhà sản xuất cũ giảm.
7
Tổng lợi ích kinh tế của dự án (dt Q
S
1
AE
0
E

D
1
) = Tổng lợi ích tàichính của dự án (dt
Q
S
1
AE
1
Q
D
1
) +Thay đổi phúc lợi ròng của xã hội (dt AE
0
E
1
)
2.3. Tỷ lệ chiết khấu xã hội
Bản chất của các dự án đầu tư là lợi ích và chi phí của chúng thường xảy ra vào các
giai đoạn khác nhau. Bởi vì một số tiền có được hiện tại được coi là có giá trị cao hơn cùng
một số tiền như vậy nhận được trong tương lai, các chi phí và lợi ích đến sớm hơn về mặt thời
gian cần phải được được coi như có trọng lượng lớn hơn và các chi phí và lợi ích đến muộn
hơn có trọng lượng thấp hơn. Sở dĩ giá trị lớn hơn được đặt vào có lợi ích và chi phí hiện tại
hơn là tương lai là bởi vì tiền có được bây giờ cho phép sử dụng để đầu tư có lãi hay tiêu dùng
trong khoảng thời gian giữa hiện tại và tương lai. Do đó, người đi vay sẵn sàng trả lãi suất
dương để có thể sử dụng được vốn, còn người cho vay đòi phải trả được lãi.
Bởi vì $1, nếu đem đầu tư, sẽ tăng lên thành $(1+r) sau một năm, tức là một khoản tiền
B trong năm tới sẽ có giá trị hiện tại (hiện giá) là B/(1+r). Tương tư như vậy, một khoản đầu
tư trị giá $1 hiện nay sẽ tăng lên thành $(1+r)
n
trong n năm, và một khoản tiền B sẽ nhận được

Tỷ lệ chiết khấu xã hội
Chi phí và lợi nhuận liên quan đến một dự án điển hình thường phát sinh tại những
thời điểm khác nhau. Quan trọng là việc có thể so sánh các chi phí và lợi nhuận phát sinh tại
những thời điểm khác nhau.
Thực hiện điều này trong một nền kinh tế đơn giản, có một người và có hai giai đoạn
là tương đối dễ. Một người sẽ có vài cơ hội tiêu dùng giữa hai giai đoạn và sẽ tối đa hoá độ
thoả dụng tiêu dùng giữa hai giai đoạn. Tỷ lệ thay thế biên (Marginal Rate of Substituion ~
MRS) sẽ bằng với Tỷ lệ chuyển đổi biên (Marginal Rate of Transformation ~ MRT) và đây sẽ
là tỷ lệ lãi suất phù hợp để áp dụng tính chiết khấu chi phí và lợi nhuận tương lai.
9
Nhìn từ góc độ quan điểm xã hội, tồn tại một đường biên các xác suất tiêu dùng liên
quan đến mức tiêu dùng giai đoạn này với mức tiêu dùng giai đoạn tiếp theo. Độ dốc của
đường cong này là Tỷ lệ chi phí cơ hội xã hội (Social Opportunity Cost Rate ~ SOCR).
Xã hội cũng sẵn sàng từ bỏ tiêu dùng hiện tại để đổi lấy đầu tư dẫn đến tiêu dùng lớn
hơn trong tương lai. Sự sẵn lòng này được thể hiện bởi độ dốc của đường cong đẳng dụng xã
hội, độ dốc của đường cong này là Tỷ lệ ưu tiên thời gian của xã hội (Societal Rate of Time
Prefence ~ SRTP).
Nếu tất cả các thị trường đều hoàn hảo, chúng ta có sự cân bằng liên thời gian xã hội
(societal intertemporal equilibrium):
Tại một điểm giống như X, tỷ lệ chi phí cơ hội xã hội SOCR bằng với tỷ lệ ưu tiên
thời gian của xã hội SRTP, do đó tỷ lệ mà tại đó xã hội có thể trao đổi cái này lấy cái kia giữa
X
Future Consumption
Current Consumption
Social Indifference Curve
Z
Consumption
Possibilities
Frontier
10

Tỷ lệ ưu tiên thời gian cá nhân (PRTP) = Tỷ lệ chi phí cơ hội cá nhân (POCR)
Đối với tổng thể xã hội
Tỷ lệ ưu tiên thời gian xã hội (SRTP) = Tỷ lệ chi phí cơ hội xã hội (SOCR)
Và chừng nào mà
SRTP=PRTP và
PRTP=POCR và
SOCR=POCR,
thì bạn có tính hiệu dụng năng động và tỷ lệ lãi suất thật sự và chính thức bằng với tất
cả những tỷ lệ này.
Có rất nhiều lý do giải thích tại sao điều này có thể không đúng như vậy.
a. Những thị trường vốn có hoàn hảo không? Nghĩa là, PRTP=i=POCR hay không?
Có thể ở những thành phố lớn có nhiều khoản tiền lớn, nhưng không phải ở những thị
trường có số lượng hạn chế những phương tiện tài chính hay ngân hàng.
Những người tiêu dùng tiết kiệm được thêm nhiều tiền cho đến khi tỷ lệ ưu tiên thời
gian của họ bằng với tỷ lệ lãi suất họ có thể kiếm được từ các khoản tiền tiết kiệm của mình
(PRTP=i
tiền tiết kiệm
) trong khi đó các thể chế tài chính tiến hành cho vay bổ sung cho đến khi
chi phí cơ hội của họ bằng với lợi nhuận họ thu lại được từ các khoản cho vay đó
(POCR=i
khoản cho vay
).
Nếu i
tiền tiết kiệm
= i
khoản cho vay
thì tính hiệu dụng năng động có giá trị. Điều này không
đúng, nhưng đối với hầu hết người dân ở Mỹ và ở một số nước phát triển khác, điều này có
thể gần sát. Đối với những người sống ở các thị trấn hay các nước nhỏ không có các thể chế
tài chính vững chắc, đó có thể không phải là một phép xấp xỉ hợp lý. Nghĩa là, tỷ lệ lãi suất áp

áp dụng để chiết khấu lợi nhuận ròng từ một dự án.
(PRTP thường thì tỷ lệ này nhỏ hơn SOCR)
Nói chung, các tỷ lệ lãi suất thị trường (mà có thể bằng với các tỷ lệ chi phí cơ hội cá
nhân) sẽ quá cao. Điều này có nghĩa là các tỷ lệ đó sẽ chiết khấu tương lai quá nhiều, hoặc
gắn giá trị quá thấp cho các chi phí và lợi nhuận tương lai.
C. TÀI LIỆU HỌC TẬP
[1] Allen S. Bellas và Richard O. Zerbe (2006), A Primer for Benefit-cost Analysis (Giới
thiệu Phân tích Chi phí và Lợi ích).
[2] Phùng Thanh Bình và Trương Đăng Thụy (2006), Phân tích lợi ích – chi phí, trường Đại
học Kinh tế TP Hồ Chí Minh.
13
Chuyên đề 3. Phân tích tài chính CBA, kinh tế CBA và kinh tế mở rộng CBA
Số tiết: 3 (Lý thuyết)
A) MỤC TIÊU
- Về kiến thức: Sinh viên nắm chắc kiến thức về phân tích tài chính, kinh tế và kinh tế
mở rộng CBA
- Về kỹ năng: Sinh viên có khả năng vận dụng kiến thức về phân tích tài chính, kinh tế
và kinh tế mở rộng CBA vào phân tích lợi ích chi phí.
- Về thái độ: Sinh viên yêu thích bài học, ham thích tìm hiểu các vấn đề liên quan đến
CBA.
B) NỘI DUNG
3.1 Phân tích tài chính CBA
Phân tích tài chính được sử dụng chủ yếu trong khu vực tư nhân để xác định xem kết
quả nào tốt nhất theo quan điểm tư nhân (quan điểm chủ sở hữu hoặc quan điểm tổng đầu tư).
Các dòng tiền và doanh thu kỳ vọng được coi là các dòng lợi ích, và các khoản tiền chi trả
trực tiếp để mua các yếu tố sản xuất được xem như chi phí bất kể ảnh của xuất lượng ở các
khu vực khác trong nền kinh tế. Chi phí gây ra cho nhóm cá nhân thứ ba, như thiệt hại môi
trường, … không được tính đến .
Phân tích tài chính chỉ đề cập đến lợi ích của cơ quan hay công ty thực hiện. Đối với
một doanh nghiệp trong khu vực tư nhân thì mục tiêu theo đuổi quan trọng nhất là tối đa lợi

gia hay không.
- Chi phí được đo bằng chi phí cơ hội hoặc giá ẩn (giá bóng).
Đối với nhiều loại lợi ích và chi phí không có giá cả thị trường như ngoại tác, hàng
hóa công.
Giá cả thị trường có thể bị biến dạng do thất bại thị trường hay các chính sách can
thiệp của chính phủ nên chúng không phản ánh đúng giá trị thực của nguồn lực khan hiếm.
Thậm chí nếu giá sẵn có và không có bất kỳ loại biến dạng nào, thì vẫn có thể có vấn
đề là liệu dự án có gây tác động không biên tế lên cung - cầu trong các thị trường liên quan
hay không (dự án lớn).
Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo giá cả bằng chi phí xã hội biên (marginal social
cost) và bằng lợi ích xã hội biên (marginal social benefit) của một đơn vị hàng hóa và dịch vụ
tăng thêm. Khi có thất bại thị trường hay không tồn tại thị trường sẽ có sự khác biệt giữa giá
thị trường với chi phí và lợi ích xã hội biên.
Điều này có nghĩa khi giá cả thị trường không phản ánh đúng giá trị xã hội của hàng
hóa hoặc không tồn tại giá cả thị trường, thì phương pháp định giá ẩn (shadow pricing)
thường được sử dụng để đo lường các lợi ích và chi phí. Định giá ẩn là việc điều chỉnh lại bất
kỳ sự khác biệt nào giữa giá thị trường và giá kinh tế do thất bại thị trường, can thiệp chính
phủ, ngoại tác, hàng hóa công, thặng dư tiêu dùng, thặng dư sản xuất. Giá được ước tính từ
phương pháp này gọi là giá ẩn.
3.3 Phân tích kinh tế mở rộng CBA
Là phân tích kinh tế nhưng bao gồm cả các vấn đề ngoại ứng của tài nguyên và môi
trường
15
Bảng 3.1. So sánh phân tích tài chính và phân tích kinh tế mở rộng
Chỉ tiêu
Phân tích lợi ích chi phí (CBA)
Phân tích tài chính (FA)
Phạm vi
Toàn xã hội
Cá nhân , doanh nghiệp

Nguyên tắc 2 : Loại trừ các kết quả chìm
- Các chi phí đã phát sinh hoặc các lợi ích đã nhận được trước khi dự án bắt đầu thì
không thể thay đổi được nữa nên không được tính trong chi phí, lợi ích của dự án
Nguyên tắc 4 : Tính tất cả các thay đổi lợi ích
- Bao gồm lợi ích trực tiếp, gián tiếp
Nguyên tắc 5: Tính tất cả thay đổi về chi phí
- Bao gồm : chi phí trực tiếp của dự án, chi phí gián tiếp do tác động của dự án
- Lưu ý : sử dụng khái niệm chi phí cơ hội khi tính toán chi phí
Nguyên tắc 6: Kiểm tra các khoản lệ phí của dịch vụ độc quyền : thu gom rác, điện Cần tính
chi phí thực của các dịch vụ này
Nguyên tắc 7: Tránh tính trùng
Nguyên tắc 8 : Loại trừ chi phí và kết quả phát sinh ngoài biên giới quốc gia
Nguyên tắc 9 : Xem xét đến các thay đổi về giá trị tài sản như chi phí bảo trì, thay thế
16
Nguyên tắc 10 : Tính đến các tác động ra ngoài ( ngoại ứng)
Nguyên tắc 11 : Xem xét các chi phí và lợi ích khi thị trường là độc quyền
Nguyên tắc 12 : Cân nhắc đến các chi phí – lợi ích không thể lượng hóa thành tiền
Nguyên tắc 13 : Lựa chọn tỷ lệ chiết khấu
Lựa chọn lãi suất trái phiếu dài hạn hoặc lãi suất tiết kiệm dài hạn làm tỷ suất tham
chiếu
Tỷ suất lợi nhuận trung bình của các dự án tương tự
Nguyên tắc 14: Cơ sở quyết định:
NPV> 0 hay IRR > r ( dự kiến)
Lợi ích – Chi phí> 0 hoặc tính hệ số Lợi ích/ Chi phí> 1
C. TÀI LIỆU HỌC TẬP
[1] Allen S. Bellas và Richard O. Zerbe (2006), A Primer for Benefit-cost Analysis (Giới
thiệu Phân tích Chi phí và Lợi ích).
[2] Phùng Thanh Bình và Trương Đăng Thụy (2006), Phân tích lợi ích – chi phí, trường Đại
học Kinh tế TP Hồ Chí Minh.
17

là 4.000 người. Một cuộc khảo sát được tiến hành dự đoán khi dự án hoàn thành số lượng
khách du lịch đến vùng này là 22.000 người trung bình một năm. Mỗi người chi tiêu trung
bình khoảng 150 USD.
18
6. Khấu hao máy móc thiết bị và cơ sở vật chất của dự án là 8 phần trăm một năm.
7. Nhiều lao động được tuyển dụng làm ở mỏ, vận chuyển và du lịch hơn trước. Có hai loại
lao động: (1) 1.000 chuyên gia và nhân viên có trình độ chủ yếu đến từ các thành phố lân cận
với mức lương trung bình là 7.200 USD/người/năm; và (2) 6.000 lao đông phổ thông trong
vùng và ở các vùng lân cận với mức lương trung bình 1.800 USD/người/năm, biết rằng trong
số này có 30% trước đây thất nghiệp, 40% làm trong lĩnh vực nông nghiệp.
8. Chương trình phát triển làm thiệt hại rạn san hô vào khoảng 1000 USD/năm (rạn san hô
này là khu vực đa dạng sinh học biển được công nhận là di sản thế giới và thu hút lượng lớn
khách du lịch).
9. Khu vực đầm lầy xung quanh cảng Hải Đăng là nơi xuất phát của dịch bệnh sốt rét. Chi
phí phòng chống và chữa bệnh sốt rét cho dân cư địa phương hàng năm vào khoảng 1 triệu
USD. Hàng năm Chính phủ hỗ trợ dân cư địa phương 0.5 triệu USD để phòng/chữa bệnh sốt
rét. Khi có dự án, Chính phủ không còn tài trợ khoản tiền này nữa.
10. Chất thải của mỏ khai thác đổ thẳng xuống sông Cái có hạ lưu gây thiệt hại ước tính 0.8
triệu USD mỗi năm, trong đó 0.3 triệu USD là do dân cư xung quanh chịu (ô nhiễm một số
dòng kênh dẫn ra sông, giảm lượng cá đánh bắt do một số loài di chuyên đi nơi khác) và tại
dân cư nước láng giềng chịu thiệt hại ước tính là 0.5 triệu USD mỗi năm.
19
(1) ÁP DỤNG KỸ THUẬT PHÂN TÍCH CHI PHÍ - LỢI ÍCH CHO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
1. Tác giả: Nguyễn Thế Chinh
2. Phương pháp nghiên cứu
PGS.TS. Nguyễn Thế Chinh - Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môi
trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng: Phân tích chi phí-lợi ích-CBA (Cost-Benefit
Analysis) là công cụ kỹ thuật cho phép đưa ra một tính toán định lượng, quy đổi tất cả các chi
phí và lợi ích về một đơn vị đo lường thống nhất là giá trị tiền tệ giúp cho người ra quyết định
dễ dàng lựa chọn phương án của mình trong quyết định chính sách công và đối với những

Áp dụng kỹ thuật phân tích chi phí - lợi ích cho biến đổi khí hậu
Thứ hai, 30 Tháng 11 2009 03:18
Biến đổi khí hậu (BĐKH) mang tính đặc trưng riêng, đó là những vấn đề liên quan đến sự
nóng lên toàn cầu, mực nước biển dâng, tính chất khắc nghiệt của thời tiết, làm đảo lộn
mùa gây nhiễu loạn…
Đặt vấn đề.
Trong việc đưa ra các chính sách công, người ra quyết định thường phải cân nhắc lựa
chọn giữa cái giá phải trả cho thực hiện chính sách và lợi ích thu về từ chính sách đó
mang lại. Tuy nhiên, thực tế cho thấy sự lựa chọn quyết định của các nhà ra chính sách
gặp rất nhiều khó khăn vì những sự lựa chọn mang tính chất định tính hay trực quan,
thiếu một tính toán có tính định lượng, cũng tương tự như vậy đối với vấn đề biến đổi khí
hậu, để thích ứng với biến đổi khí hậu và đưa ra những chính sách nhằm giảm thiểu tác
động tiêu cực của biến đổi khí hậu đòi hỏi phải cân nhắc kỹ lưỡng giữa chi phí bỏ ra và
lợi ích thu về, thường những đề xuất định tính khó thuyết phục người ra quyết định,
nhưng nếu có một tính toán cho thấy được lợi ích ròng của việc ra quyết định, hay hiệu
quả của việc chi phí đó sẽ dễ thuyết phục nhà quản lý hay người làm chính sách. Phân
tích chi phí-lợi ích-CBA (Cost-Benefit Analysis) là công cụ kỹ thuật cho phép đưa ra một
tính toán định lượng, quy đổi tất cả các chi phí và lợi ích về một đơn vị đo lường thống
nhất là giá trị tiền tệ giúp cho người ra quyết định dễ dàng lựa chọn phương án của mình
trong quyết định chính sách công và đối với những chính sách liên quan đến biến đổi khí
hậu. Như vậy thông qua phân tích chi phí-lợi ích, một chính sách hay một hoạt động được
thực hiện khi và chỉ khi lợi ích của chính sách hay hoạt động đó thu về lớn hơn so với chi
phí bỏ ra. Trong trường hợp có nhiều chính sách hay hoạt động phải lựa chọn trong hoàn
cảnh nguồn lực có hạn thì chính sách hay hoạt động nào có lợi ích ròng lớn nhất sẽ được
lựa chọn.
I. Phân tích chi phí-lợi ích với những vấn đề liên quan đến biến đổi khí hâu.
Đối với biến đổi khí hậu, CBA có thể đóng góp cho những câu hỏi trọng tâm mà các nhà
hoạch định chính sách đang đòi hỏi cần phải giải quyết như (1) Nên giảm bao nhiêu
lượng khí thải (GHGs) gây hiệu ứng nhà kính hiện nay để tránh những thiệt hại trong
tương lai do biến đổi khí hậu? (2) Khi nào nên giảm bớt khí xả thải gây hiệu ứng nhà

phương pháp phân tích đa mục tiêu và phân tích chi phí hiệu quả, trường hợp này vận
dụng rất tốt cho biến đổi khí hậu khi lựa chọn công nghệ cho giảm thiểu lượng khí thải
gây hiệu ứng nhá kinh như CO2 và CH4, bởi lẽ việc tính toán cho giảm một đơn vị phát
thải tiến hành dễ dàng nhưng lợi ích của việc giảm thải đó có tính xã hội không thể định
lượng được.
Tuy nhiên trong nhiều trường hợp sử dụng CBA là kỹ thuật rất hiệu quả để đưa ra quyết
định chính sách ngay, chẳng hạn thông qua các kịch bản của biến đổi khí hậu đã được
khẳng định đối với mực nước biển dâng buộc chúng ta phải xây dựng hệ thống đê biển
ngăn sự xâm nhập của nước biển trong dài hạn, chi phí và lợi ích cho mỗi kịch bản đều có
thể xác định được về giá trị tiền tệ, từ đó chúng ta có thể quyết định nên chọn phương án
nào là hiệu quả nhất cho nhà ra quyết định về mặt chính sách.
Trong trường hợp sử dụng CBA cho phân tích biến đổi khí hậu, về cơ bản các chỉ tiêu
truyền thống sau đây vẫn được sử dụng:
Gia trị hiện tại ròng (NPV)
Chỉ tiêu này hay sử dụng nhất trong phân tích kinh tế là giá trị hiện tại ròng (Net Present
Value). Đại lượng này xác định giá trị lợi nhuận ròng hiện thời khi chiết khấu dòng lợi
ích và chi phí trở về với năm cơ sở bắt đầu (năm thứ nhất). Hai công thức được sử dụng:
hoặc
Phương án được quyết định là phương án có NPV dương, trong trường hợp có nhiều
phương án lựa chọn thì phương án nào có NPV lớn nhất sẽ là phương án được ưu tiên để
quyết định.
Tỷ lệ lợi ích - chi phí (BCR)
Tỷ lệ lợi ích - chi phí là tỷ lệ của tổng giá trị hiện tại của lợi ích so với tổng giá trị hiện tại
của chi phí
22
Tỷ lệ này so sánh lợi ích và chi phí đã được chiết khấu. Trong trường hợp này, lợi ích
được xem là lợi ích thô bao gồm cả lợi ích môi trường và xã hội, còn chi phí bao gồm
vốn cộng với các chi phí vận hành, bảo dưỡng và thay thế cũng như những chi phí cho
môi trường và xã hội.
Phương án được quyết định là phương án có BCR lớn hơn 1, trong trường hợp có nhiều

tối ưu hoá lợi ích ròng sẽ xuất hiện một số dạng không chắc chắn mà người làm CBA cần
phải tính tới như sau.
Thứ nhất, tính không chắc chắn trong việc xem xét tỷ lệ khí thải thực tế. Các nghiên cứu
về mặt kỹ thuật đều giả thiết về tỷ lệ khí thải hiện nay so sánh với tương lai và cho thấy
có sự tiến triển thông thường ngày càng tăng xét từ điểm khởi đầu. Những tính toán về
lượng khí CO2 hiện nay do sử dụng nhiên liệu hoá thạch, hay nạn phá rừng giảm khả
năng hấp thụ CO2 là nguồn gôc làm cho tăng lượng khí nhà kinh trong bầu khí quyển.
Vậy đối với CBA chọn phương án tỷ lệ nào cần phải xem xét kỹ lưỡng.
Thứ hai, tính không chắc chắn về giảm thiểu khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Liên quan
tới vấn đề này là tồn tại sự khác biệt đáng kể giữa việc ước lượng chi phí trong hệ thống
sản xuất điện sử dụng phổ biến nhiên liệu hoá thạch và việc tái tạo rừng.
Thứ ba, tính không chắc chắn về sự liên kết khoa học. Vấn đề biến đổi khí hậu hiện nay
trong giới khoa học còn có nhiều tranh cãi, tuy nhiên những biểu hiện thực tế của biến
đổi khí hậu đều được xã hội thừa nhận. Do vậy việc thực hiện CBA cũng cần phải lưu ý
tới tính khẳng định và tranh luận của các nhà khoa học liên quan đến biến đổi khí hậu để
có tính toán phù hợp.
Thứ tư, tính không chắc chắn trong đánh giá chi phí và lợi ích. Đây là vấn đề cần phải
xem xét kỹ lưỡng và có phương pháp xác định và tính toán phù hợp. Ví dụ như việc tính
toán tác động của mực nước biển dâng và sự cần thiết phải xây dựng hệ thống đê điều để
ngăn chặn dâng cao của nước biển dễ dàng hơn so với tính toán ảnh hưởng tới nông
nghiệp hay đa dạng sinh học. Mặt khác việc tính toán thiệt hại do thời tiêt khắc nghiệt và
bão lũ đảm bảo chính xác là không đơn giản.
Thứ năm, tính không chắc chắn trong những giả thiết và lựa chọn chính sách. Điều này
liên quan đến nhiều vấn đề kinh tế như ước tính ảnh hưởng của việc thải khí nhà kinh liên
quan đến trợ cấp than đá hay điện năng. Đối với mô hình cân bằng chung, cần phải tính
tới độ co giãn của hàng hoá thay thế-giá trị của chúng cần sử dụng trong mô phỏng số
liệu hoặc dựa trên độ co giãn ước tính qua lịch sử hoặc phán đoán của người làm mô
hình. Tính không chắc chắn và sự phù hợp với thực tế.
Thứ sáu, tính không chắc chắn về hiệu quả của chính sách. Điều này cần xem xét tới
những tác động của chính sách đưa ra, ví dụ khi sử dụng một mức thuế các bon nhất định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status