TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NÔI
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
BÀI TẬP LỚN
MÔN HỌC: KIẾN TRÚC MÁY TÍNH
Đề tài: Nghiên cứu và tìm hiểu về thiết bị lưu trữ dữ liệu từ tính
( ổ đĩa cứng, đĩa mềm, băng từ)
Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Tuấn Tú
Lớp : KTPM2 – K6
Thành viên trong nhóm: NHÓM 12
1. Nguyễn Văn Lợi.
2. Đỗ Đức Long.
3. Nguyễn Trần Long.
4. Trần Văn Luận.
5. Nguyễn Đồng Nam.
Hà Nội, ngày 01 tháng 05 năm 2012
N
h
ó
m
1
2
Nhóm12 – KTPM2 – K6.
Đề Tài:
Nghiên cứu và tìm hiểu về thiết
bị lưu trữ dữ liệu từ tính
( ổ đĩa cứng, đĩa mềm, băng từ )
Trêng §¹i Häc C«ng NghiÖp Hµ Néi.
Page 2
- Các hãng sản xuất.
3. Các tài liệu tham khảo khác.
- Tài liệu Tiếng Việt
- Tài liệu nớc ngoài.
III Nhiệm vụ của từng thành viên trong
nhóm:
Cỏc vn v a cng:Nguyn vn li, c Long.
Trờng Đại Học Công Nghiệp Hà Nội.
Page 3
Khoa Công Nghệ Thông Tin.
N
h
ó
m
1
2
Nhóm12 – KTPM2 – K6.
Các vấn đề về ổ đĩa mềm, đĩa mềm: Nguyễn Trần Long.
Các vấn đề về băng từ : Trần Văn Luận , Nguyễn Đồng
Nam.
Trêng §¹i Häc C«ng NghiÖp Hµ Néi.
Page 4
Khoa C«ng NghÖ Th«ng Tin.
N
h
ú
m
s xut hin ca cỏc a cng lai giỳp cho h iu hnh hot ng ti
u hn, gim thi gian khi ng ca h thng, tit kim nng lng,
s thay i phng thc ghi d liu trờn cỏc a t lm cho dung
lng mi a cng tng lờn ỏng k.
Trờng Đại Học Công Nghiệp Hà Nội.
Page 5
Khoa Công Nghệ Thông Tin.
N
h
ó
m
1
2
Nhóm12 – KTPM2 – K6.
III – LÞch sö ph¸t triÓn:
Năm 1955
Ổ cứng đầu tiên trên thế giới có là IBM 350 Disk File được chế tạo bởi
Reynold Johnson ra mắt năm 1955 cùng máy tính IBM 305. Ổ cứng này có tới
50 tấm đĩa kích thước 24" với tổng dung lượng là 5 triệu kí tự. Một đầu từ được
dùng để truy nhập tất cả các tấm đĩa khiến cho tốc độ truy nhập trung bình khá
thấp.
Năm 1961
Thiết bị lưu trữ dữ liệu IBM 1301 ra mắt năm 1961 bắt đầu sử dụng mỗi đầu
từ cho một mặt đĩa.
Ổ đĩa đầu tiên có bộ phận lưu trữ tháo lắp được là ổ IBM 1311. Ổ này sử
dụng đĩa IBM 1316 có dung lượng 2 triệu kí tự.
Năm 1973
IBM giới thiệu hệ thống đĩa 3340 "Winchester", ổ đĩa đầu tiên sử dụng kĩ
1
2
Nhóm12 – KTPM2 – K6.
đầu xuất hiện. Các công ty chế tạo ổ đĩa cứng bắt đầu tiếp thị với người dùng
cuối bên cạnh OEM và đến giữa thập niên 1990, ổ đĩa cứng bắt đầu xuất hiện
trong các cửa hàng bán lẻ.
Ổ đĩa lắp trong ngày càng được sử dụng nhiều trong PC trong khi các ổ đĩa lắp
ngoài tiếp tục phổ biến trên máy Macintosh của hãng Apple và các nền tảng
khác. Mỗi máy Mac sản xuất giữa giữa các năm 1986 và 1998 đều có một cổng
SCSI phía sau khiến cho việc lắp đặt thêm phần cứng mới trở nên dễ dạng; tương
tự như vậy, "toaster" (máy nướng bánh) Mac không có chỗ cho ổ đĩa cứng (hay
trong Mac Plus không có chỗ lắp ổ đĩa cứng), các đời tiếp theo cũng vậy thế nên
ổ SCSI lắp ngoài là có thể hiểu được. Các ổ đĩa SCSI lắp ngoài cũng phổ biến
trong các máy vi tính cổ như loạt Apple II và Commodore 64, và cũng được sử
dụng rộng rãi trong máy chủ cho đến tận ngày nay. Sự xuất hiện vào cuối thập
niên 1990 của các chuẩn giao tiếp ngoài như USB và FireWire khiến cho ổ đĩa
cứng lắp ngoài trở nên phổ biến hơn trong người dùng thông thường đặc biệt đối
với những ai cần di chuyển một khối lượng lớn dữ liệu giữa hai địa điểm. Vì thế,
phần lớn các ổ đĩa cứng sản xuất ra đều có trở thành lõi của các vỏ lắp ngoài.
Ngày nay
Dung lượng ổ đĩa cứng tăng trưởng theo hàm mũ với thời gian. Đối với
những máy PC thế hệ đầu, ổ đĩa dung lượng 20 megabyte được coi là lớn. Cuối
thập niên 1990 đã có những ổ đĩa cứng với dung lượng trên 1 gigabyte. Vào thời
điểm đầu năm 2005, ổ đĩa cứng có dung lượng khiêm tốn nhất cho máy tính để
bàn còn được sản xuất có dung lượng lên tới 40 gigabyte còn ổ đĩa lắp trong có
dung lượng lớn nhất lên tới một nửa terabyte (500 GB), và những ổ đĩa lắp ngoài
đạt xấp xỉ một terabyte. Cùng với lịch sử phát triển của PC, các họ ổ đĩa cứng lớn
là MFM, RLL, ESDI, SCSI, IDE và EIDE, và mới nhất là SATA. Ổ đĩa MFM
cao thờm. cú th va nõng cao hiu sut ca EIDE va khụng lm tng chi
phớ cho cỏc linh kin in t khụng cú cỏch no khỏc l phi thay giao din kiu
"song song" bng kiu "ni tip", v kt qu l s ra i ca giao din SATA.
Tuy nhiờn, hiu sut lm vic ca cỏc a cng SATA th h u v cỏc a
PATA khụng cú s khỏc bit ỏng k.
IV Vai trò và chức năng:
- a cng l mt thit b rt quan trng trong h thng bi chỳng
cha d liu thnh qu ca mt quỏ trỡnh lm vic ca nhng ngi s
dng mỏy tớnh. Nhng s h hng ca cỏc thit b khỏc trong h thng
mỏy tớnh cú th sa cha hoc thay th c, nhng d liu b mt do
yu t h hng phn cng ca a cng thng rt khú ly li c.
- a cng l mt khi duy nht, cỏc a cng c lp rỏp c nh
trong ngay t khi sn xut nờn khụng th thay th c cỏc "a
cng" nh vi cỏch hiu nh i vi a mm hoc a quang.
V Cấu tạo:
a cng gm cỏc thnh phn, b phn cú
th lit kờ c bn v gii thớch s b nh sau:
Cm a: Bao gm ton b cỏc a, trc
quay v ng c.
a t.
Trc quay: truyn chuyn ng ca
a t.
ng c: c gn ng trc vi trc quay v cỏc a.
Cm u c
u c (head): u c/ghi d liu
Cn di chuyn u c (head arm hoc
actuator arm).
Cm mch in
H2: cấu tạo bên trong của ổ đĩa cứng
Mch iu khin: cú nhim v iu khin ng c ng trc, iu khin
Ngoài ra, vỏ đĩa cứng còn có tác dụng chịu
đựng sự va chạm (ở mức độ thấp) để bảo vệ ổ đĩa
cứng.
H3
Do đầu từ chuyển động rất sát mặt đĩa nên nếu có bụi lọt vào trong ổ đĩa cứng
cũng có thể làm xước bề mặt, mất lớp từ và hư hỏng từng phần (xuất hiện các
khối hư hỏng (bad block)) Thành phần bên trong của ổ đĩa cứng là không khí
có độ sạch cao, để đảm bảo áp suất cân bằng giữa môi trường bên trong và bên
ngoài, trên vỏ bảo vệ có các hệ lỗ thoáng đảm bảo cản bụi và cân bằng áp suất.
H3: Là một ổ đĩa cứng 5,25” có dung lượng 110 MB (bên phải), bên trái là
một ổ đĩa cứng 2,5” thông dụng cho máy tính xách tay ngày nay với dung lượng
có thể lên tới 160 GB hoặc cao hơn (đồng xu bên cạnh có giá trị so sánh về kích
thước thực của các loại ổ đĩa cứng)
1.Đĩa từ:
Đĩa từ (platter): Đĩa thường cấu tạo bằng nhôm
hoặc thuỷ tinh, trên bề mặt được phủ một lớp vật liệu
từ tính là nơi chứa dữ liệu. Tuỳ theo hãng sản xuất mà
các đĩa này được sử dụng một hoặc cả hai mặt trên và
dưới. Số lượng đĩa có thể nhiều hơn một, phụ thuộc
vào dung lượng và công nghệ của mỗi hãng sản xuất
khác nhau.
Trêng §¹i Häc C«ng NghiÖp Hµ Néi.
Page 9
Khoa C«ng NghÖ Th«ng Tin.
N
h
ó
m
1
0 720 368.640 44,24
1 704 360.448 43,25
2 696 356.352 42,76
3 672 344.064 41,29
4 640 327.680 39,32
5 614 314.368 37,72
6 592 303.104 36,37
7 556 284.672 34,16
8 528 270.336 32,44
9 480 245.760 29,49
Trêng §¹i Häc C«ng NghiÖp Hµ Néi.
Page 10
Khoa C«ng NghÖ Th«ng Tin.
N
h
ó
m
1
2
Nhóm12 – KTPM2 – K6.
10 480 245.760 29,49
11 456 233.472 28,02
12 432 221.184 26,54
13 416 212.992 25,56
14 384 196.608 23,59
15 360 184.320 22,12
Trên track chia thành những phần nhỏ bằng các đoạn hướng tâm thành các
sector. Các sector là phần nhỏ cuối cùng được chia ra để chứa dữ liệu. Theo
Trục quay là trục để gắn các đĩa từ lên nó, chúng được nối trực tiếp với động
cơ quay đĩa cứng. Trục quay có nhiệm vụ truyền chuyển động quay từ động cơ
đến các đĩa từ.
Trục quay thường chế tạo bằng các vật liệu nhẹ (như hợp kim nhôm) và được
chế tạo tuyệt đối chính xác để đảm bảo trọng tâm của chúng không được sai lệch
- bởi chỉ một sự sai lệch nhỏ có thể gây lên sự rung lắc của toàn bộ đĩa cứng khi
làm việc ở tốc độ cao, dẫn đến quá trình đọc/ghi không chính xác.
3.Đầu đọc/ghi:
Đầu đọc đơn giản được cấu tạo gồm lõi ferit (trước đây là lõi sắt) và cuộn dây
(giống như nam châm điện). Gần đây các công nghệ mới hơn giúp cho ổ đĩa
cứng hoạt động với mật độ xít chặt hơn như: chuyển các hạt từ sắp xếp theo
phương vuông góc với bề mặt đĩa nên các đầu đọc được thiết kế nhỏ gọn và phát
triển theo các ứng dụng công nghệ mới.
Đầu đọc trong đĩa cứng có công dụng đọc dữ liệu dưới dạng từ hoá trên bề
mặt đĩa từ hoặc từ hoá lên các mặt đĩa khi ghi dữ liệu.
Số đầu đọc ghi luôn bằng số mặt hoạt động được của các đĩa cứng, có nghĩa
chúng nhỏ hơn hoặc bằng hai lần số đĩa (nhỏ hơn trong trường hợp ví dụ hai đĩa
nhưng chỉ sử dụng 3 mặt).
4.Cần di chuyển đầu đọc/ghi:
Cần di chuyển đầu đọc/ghi là các thiết bị mà đầu đọc/ghi gắn vào nó. Cần có
nhiệm vụ di chuyển theo phương song song với các đĩa từ ở một khoảng cách
nhất định, dịch chuyển và định vị chính xác đầu đọc tại các vị trí từ mép đĩa đến
vùng phía trong của đĩa (phía trục quay).
Các cần di chuyển đầu đọc được di chuyển đồng thời với nhau do chúng được
gắn chung trên một trục quay (đồng trục), có nghĩa rằng khi việc đọc/ghi dữ liệu
trên bề mặt (trên và dưới nếu là loại hai mặt) ở một vị trí nào thì chúng cũng hoạt
động cùng vị trí tương ứng ở các bề mặt đĩa còn lại.
Sự di chuyển cần có thể thực hiện theo hai phương thức:
• Sử dụng động cơ bước để truyền chuyển động.
• Sử dụng cuộn cảm để di chuyển cần bằng lực từ.
dữ liệu (nó sẽ hỏi tuần tự các bộ nhớ khác trước khi đến đĩa cứng mà thứ tự
thường là cache L1-> cache L2 ->RAM) và đĩa cứng cần truy cập đến các dữ liệu
chứa trên nó. Không đơn thuần như vậy CPU có thể đòi hỏi nhiều hơn một tập
tin dữ liệu tại một thời điểm, khi đó sẽ xảy ra các trường hợp:
2.Ổ đĩa cứng chỉ đáp ứng một yêu cầu truy cập dữ liệu trong một thời điểm,
các yêu cầu được đáp ứng tuần tự.
3.Ổ đĩa cứng đồng thời đáp ứng các yêu cầu cung cấp dữ liệu theo phương
thức riêng của nó.
Trước đây đa số các ổ đĩa cứng đều thực hiện theo phương thức 1, có nghĩa là
chúng chỉ truy cập từng tập tin cho CPU. Ngày nay các ổ đĩa cứng đã được tích
hợp các bộ nhớ đệm (cache) cùng các công nghệ riêng của chúng (TCQ, NCQ)
giúp tối ưu cho hành động truy cập dữ liệu trên bề mặt đĩa nên ổ đĩa cứng sẽ thực
hiện theo phương thức thứ 2 nhằm tăng tốc độ chung cho toàn hệ thống.
4.Đọc và ghi dữ liệu trên bề mặt đĩa:
Sự hoạt động của đĩa cứng cần thực hiện đồng thời hai chuyển động: Chuyển
động quay của các đĩa và chuyển động của các đầu đọc.
Trêng §¹i Häc C«ng NghiÖp Hµ Néi.
Page 13
Khoa C«ng NghÖ Th«ng Tin.
N
h
ú
m
1
2
Nhúm12 KTPM2 K6.
S quay ca cỏc a t c thc hin nh cỏc ng c gn cựng trc (vi tc
rt ln: t 3600 rpm cho n 15.000 rpm) chỳng thng c quay n nh ti
cng lai (hybrid hard disk drive) l cỏc a cng thụng thng c gn
thờm cỏc phn b nh flash trờn bo mch ca a cng. Cm b nh ny hot
ng khỏc vi c ch lm vic ca b nh m (cache) ca a cng: D liu
cha trờn chỳng khụng b mt i khi mt in.
Trờng Đại Học Công Nghiệp Hà Nội.
Page 14
Khoa Công Nghệ Thông Tin.
N
h
ó
m
1
2
Nhóm12 – KTPM2 – K6.
Trong quá trình làm việc của ổ cứng lai, vai trò của phần bộ nhớ flash như
sau:
• Lưu trữ trung gian dữ liệu trước khi ghi vào đĩa cứng, chỉ khi máy tính đã
đưa các dữ liệu đến một mức nhất định (tuỳ từng loại ổ cứng lai) thì ổ đĩa
cứng mới tiến hành ghi dữ liệu vào các đĩa từ, điều này giúp sự vận hành
của ổ đĩa cứng tối hiệu quả và tiết kiệm điện năng hơn nhờ việc không
phải thường xuyên hoạt động.
• Giúp tăng tốc độ giao tiếp với máy tính: Việc đọc dữ liệu từ bộ nhớ flash
nhanh hơn so với việc đọc dữ liệu tại các đĩa từ.
• Giúp hệ điều hành khởi động nhanh hơn nhờ việc lưu các tập tin khởi
động của hệ thống lên vùng bộ nhớ flash.
• Kết hợp với bộ nhớ đệm của ổ đĩa cứng tạo thành một hệ thống hoạt động
hiệu quả.
Những ổ cứng lai được sản xuất hiện nay thường sử dụng bộ nhớ flash với
2
Nhóm12 – KTPM2 – K6.
Theo thói quen trong từng thời kỳ mà người ta có thể sử dụng đơn vị nào,
trong thời điểm năm 2007 người người ta thường sử dụng GB. Ngày nay dung
lượng ổ đĩa cứng đã đạt tầm đơn vị TB nên rất có thể trong tương lai – theo thói
quen, người ta sẽ tính theo TB.
Đa số các hãng sản xuất đều tính dung lượng theo cách có lợi (theo cách tính 1
GB = 1000 MB mà thực ra phải là 1 GB = 1024 MB) nên dung lượng mà hệ điều
hành (hoặc các phần mềm kiểm tra) nhận ra của ổ đĩa cứng thường thấp hơn so
với dung lượng ghi trên nhãn đĩa (ví dụ ổ đĩa cứng 40 GB thường chỉ đạt khoảng
37-38 GB).
2.Tốc độ quay của ổ đĩa cứng:
Tốc độ quay của đĩa cứng thường được ký hiệu bằng rpm (viết tắt của từ tiếng
Anh: revolutions per minute) số vòng quay trong một phút.
Tốc độ quay càng cao thì ổ càng làm việc nhanh do chúng thực hiện đọc/ghi
nhanh hơn, thời giam tìm kiếm thấp.
Các tốc độ quay thông dụng thường là:
• 3.600 rpm: Tốc độ của các ổ đĩa cứng đĩa thế hệ trước.
• 4.200 rpm: Thường sử dụng với các máy tính xách tay mức giá trung bình
và thấp trong thời điểm 2007.
• 5.400 rpm: Thông dụng với các ổ đĩa cứng 3,5” sản xuất cách đây 2-3
năm; với các ổ đĩa cứng 2,5” cho các máy tính xách tay hiện nay đã
chuyển sang tốc độ 5400 rpm để đáp ứng nhu cầu đọc/ghi dữ liệu nhanh
hơn.
• 7.200 rpm: Thông dụng với các ổ đĩa cứng sản xuất trong thời gian hiện
tại (2007)
• 10.000 rpm, 15.000 rpm: Thường sử dụng cho các ổ đĩa cứng trong các
máy tính cá nhân cao cấp, máy trạm và các máy chủ có sử dụng giao tiếp
SCSI
Tham số: Các ổ đĩa cứng sản xuất gần đây (2007) có thời gian truy cập ngẫu
nhiên trong khoảng: 5 đến 15 ms.
Thời gian làm việc tin cậy:
Thời gian làm việc tin cậy MTBF: (Mean Time Between Failures) được tính
theo giờ (hay có thể hiểu một cách đơn thuần là tuổi thọ của ổ đĩa cứng). Đây là
khoảng thời gian mà nhà sản xuất dự tính ổ đĩa cứng hoạt động ổn định mà sau
thời gian này ổ đĩa cứng có thể sẽ xuất hiện lỗi (và không đảm bảo tin cậy).
Một số nhà sản xuất công bố ổ đĩa cứng của họ hoạt động với tốc độ 10.000
rpm với tham số: MTBF lên tới 1 triệu giờ, hoặc với ổ đĩa cứng hoạt động ở tốc
độ 15.000 rpm có giá trị MTBF đến 1,4 triệu giờ thì những thông số này chỉ là
kết quả của các tính toán trên lý thuyết. Hãy hình dung số năm mà nó hoạt động
tin cậy (khi chia thông số MTBF cho (24 giờ/ngày × 365 ngày/năm) sẽ thấy rằng
nó có thể dài hơn lịch sử của bất kỳ hãng sản xuất ổ đĩa cứng nào, do đó người sử
dụng có thể không cần quan tâm đến thông số này.
4.Bộ nhớ đệm:
Bộ nhớ đệm (cache hoặc buffer) trong ổ đĩa cứng cũng giống như RAM của
máy tính, chúng có nhiệm vụ lưu tạm dữ liệu trong quá trình làm việc của ổ đĩa
cứng.
Độ lớn của bộ nhớ đệm có ảnh hưởng đáng kể tới hiệu suất hoạt động của ổ
đĩa cứng bởi việc đọc/ghi không xảy ra tức thời (do phụ thuộc vào sự di chuyển
của đầu đọc/ghi, dữ liệu được truyền tới hoặc đi) sẽ được đặt tạm trong bộ nhớ
đệm.
Đơn vị thường bính bằng kB hoặc MB.
Trong thời điểm năm 2007, dung lượng bộ nhớ đệm thường là 2 hoặc 8 MB
cho các loại ổ đĩa cứng dung lượng đến khoảng 160 GB, với các ổ đĩa cứng dụng
lượng lớn hơn chúng thường sử dụng bộ nhớ đệm đến 16 MB hoặc cao hơn. Bộ
nhớ đệm càng lớn thì càng tốt, nhưng hiệu năng chung của ổ đĩa cứng sẽ chững
Trêng §¹i Häc C«ng NghiÖp Hµ Néi.
Page 17
Khoa C«ng NghÖ Th«ng Tin.
ATA
Advanced
Technology Attachment
Max = 133 MBps
SATA 150 Serial ATA 150 150 MBps
SATA 300 Serial ATA 300 300 MBps
SATA 600 Serial ATA 600 600 MBps
Có nhiều chuẩn giao tiếp khác nhau giữa ổ đĩa cứng với hệ thống phần cứng,
sự đa dạng này một phần xuất phát từ yêu cầu tốc độ đọc/ghi dữ liệu khác nhau
giữa các hệ thống máy tính, phần còn lại các ổ giao tiếp nhanh có giá thành cao
hơn nhiều so với các chuẩn thông dụng.
Trước đây, các chuẩn ATA và SATA thế hệ đầu tiên được sử dụng phổ biến
trong máy tính cá nhân thông thường trong khi chuẩn SCSI và Fibre Channel có
tốc độ cao hơn được sử chủ yếu nhiều trong máy chủ và máy trạm. Gần đây, các
chuẩn SATA thế hệ tiếp theo với tốc độ giao tiếp cao hơn đang được sử dụng
rộng rãi trong các máy tính cá nhân sử dụng các thế hệ chipset mới.
Bảng dưới đây so sánh các chuẩn ATA thường sử dụng nhiều với ổ đĩa cứng
trong thời gian gần đây.
Trêng §¹i Häc C«ng NghiÖp Hµ Néi.
Page 18
Khoa C«ng NghÖ Th«ng Tin.
N
h
ó
m
1
2
Nhóm12 – KTPM2 – K6.
Faster PIO
modes;
CHS/LBA BIOS
translation
defined up to
8.4GB; PC-Card
ATA-3 1995 1997 2002 04 02 16,67
SMART;
improved signal
integrity;
LBA support
mandatory;
eliminated single-
word DMA
modes
ATA-4 1996 1998 04 02 02 33,33
Ultra-DMA
modes; ATAPI
Packet Interface;
BIOS hỗ trợ tới
136.9GB
ATA-5 1998 2000 04 02 04 66,67
Faster UDMA
modes; 80-pin
cable with
autodetection
ATA-6 2000 2002 04 02 05 100 100MBps UDMA
mode; extended
drive and BIOS
support up to
đúng theo tốc độ của nó, đa phần tốc độ truyền dữ liệu trên các chuẩn giao tiếp
thấp hơn so với thiết kế của nó bởi chúng gặp các rào cản trong vấn đề công nghệ
chế tạo.
Các thông số sau ảnh hưởng đến tốc độ truyền dữ liệu của ổ đĩa cứng:
• Tốc độ quay của đĩa từ.
• Số lượng đĩa từ trong ổ đĩa cứng: bởi càng nhiều đĩa từ thì số lượng đầu
đọc càng lớn, khả năng đọc/ghi của đồng thời của các đầu từ tại các mặt
đĩa càng nhiều thì lượng dữ liệu đọc/ghi càng lớn hơn.
• Công nghệ chế tạo: Mật độ sít chặt của các track và công nghệ ghi dữ liệu
trên bề mặt đĩa (phương từ song song hoặc vuông góc với bề mặt đĩa): dẫn
đến tốc độ đọc/ghi cao hơn.
• Dung lượng bộ nhớ đệm: Ảnh hưởng đến tốc độ truyền dữ liệu tức thời
trong một thời điểm.
Bảng so sánh sau tốc độ giữa các vùng ở các ổ cứng khác nhau dưới đây sẽ
giúp chúng ta nhận ra một số yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ truyền dữ liệu của ổ
đĩa cứng.
Trêng §¹i Häc C«ng NghiÖp Hµ Néi.
Page 20
Khoa C«ng NghÖ Th«ng Tin.
N
h
ó
m
1
2
Nhóm12 – KTPM2 – K6.
Ổ đĩa cứng Ultra-ATA/100 Hitachi (IBM) Deskstar 120GXP
Vùng Sectors/Track
ghi rõ các thông số về dòng điện tiêu thụ của mỗi loại điện áp sử dụng để đảm
bảo cho người sử dụng tính toán công suất chung.
Trêng §¹i Häc C«ng NghiÖp Hµ Néi.
Page 21
Khoa C«ng NghÖ Th«ng Tin.
N
h
ó
m
1
2
Nhóm12 – KTPM2 – K6.
Ổ đĩa cứng thường tiêu thụ điện năng lớn nhất tại thời điểm khởi động của hệ
thống (hoặc thời điểm đĩa cứng bắt đầu hoạt động trở lại sau khi tạm nghỉ để tiết
kiệm điện năng) bởi sự khởi động của động cơ đồng trục quay các đĩa từ, cũng
giống như động cơ điện thông thường, dòng điện tiêu thụ đỉnh cực đại của giai
đoạn này có thể gấp 3 lần công suất tiêu thụ bình thường.
Ổ cứng thông thường lấy điện trực tiếp từ nguồn máy tính, với các ổ đĩa cứng
ngoài có thể sử dụng các bộ cung cấp điện riêng kèm theo hoặc chúng có thể
dùng nguồn điện cung cấp qua các cổng giao tiếp USB
9.Các thông số khác:
KÍCH THƯỚC VỎ CÁC LOẠI Ổ CỨNG
CAO RỘNG DÀI THỂ TÍCH
Loại5,25
Dùng trong các máy tính các thế hệ trước
3,25" (82,6mm) 5,75" (146,0mm) 8" (203,2mm) 149,5 ci (2449,9 cc)
1,63" (41,3mm) 5,75" (146,0mm) 8" (203,2mm) 74,8 ci (1224,9 cc)
Loại3,5”
Loại 1,0" Micro Device
5,0mm (0,20") 42,8mm (1,69") 36,4mm (1,43") 7,8 cc (0,5 ci)
Các thông số dưới đây những người sử dụng thường ít chú ý bởi chúng
thường không ảnh hưởng nhiều đến hiệu suất làm việc của ổ cứng. Các thông số
này không nên lấy làm chỉ tiêu so sánh giữa các ổ đĩa cứng trong sự lựa chọn
trong sự sử dụng thông thường.
Độ ồn:
Độ ồn của ổ đĩa cứng là thông số được tính bằng dB, chúng được đo khi ổ
đĩa cứng đang làm việc bình thường.
Ổ đĩa cứng với các đặc trưng hoạt động là các chuyển động cơ khí của các
đĩa từ và cần di chuyển đầu đọc, do đó chúng không tránh khỏi phát tiếng ồn. Do
ổ đĩa cứng thường có độ ồn thấp hơn nhiều so với bất kỳ một quạt làm mát hệ
thống nào đang làm việc nên người sử dụng có thể không cần quan tâm đến
thông số này.
Những tiếng “lắc tắc” nhỏ phát ra trong quá trình làm việc của ổ cứng một
cách không đều đặn được sinh ra bởi cần đỡ đầu đọc/ghi di chuyển và dừng đột
ngột tại các vị trí cần định vị để làm việc. Âm thanh này có thể giúp người sử
dụng biết được trạng thái làm việc của ổ đĩa cứng mà không cần quan sát đèn
trạng thái HDD.
Chu trình di chuyển:
Chu trình di chuyển của cần đọc/ghi (Load/Unload cycle) được tính bằng số
lần chúng khởi động từ vị trí an toàn đến vùng làm việc của bề mặt đĩa cứng và
ngược lại. Thông số này chỉ một số hữu hạn những lần di chuyển mà có thể sau
số lần đó ổ đĩa cứng có thể gặp lỗi hoặc hư hỏng.
Trêng §¹i Häc C«ng NghiÖp Hµ Néi.
Page 23
Khoa C«ng NghÖ Th«ng Tin.
N
h
ó
nhiệt độ là một yếu tố ảnh hưởng đến quá trình làm việc của ổ đĩa cứng nhất là
bên trong nó các chuyển động cơ khí cần tuyệt đối chính xác.
Nhiệt độ làm việc của ổ đĩa cứng thường là từ 0 cho đến 40 độ C, điều này
thường phù hợp với nhiều môi trường khác nhau, tuy nhiên không chỉ có vậy: độ
ẩm là yếu tố liên quan và kết hợp với môi trường tạo thành một sự phá hoại ổ đĩa
cứng.
Ổ cứng thường có các lỗ (chứa bộ lọc không khí) để cân bằng áp suất với bên
ngoài, do đó nếu như không khí trong môi trường chứa nhiều hơi nước, sự ngưng
tụ hơi nước thành các giọt hoặc đóng băng ở đâu đó bên trong ổ đĩa cứng có thể
làm hư hỏng ổ nếu ta hình dung được tốc độ quay của nó lớn thế nào và khoảng
cách giữa đầu từ với bề mặt làm việc của đĩa từ nhỏ đến đâu.
Chính vì vậy trước khi đưa một ổ đĩa cứng vào làm việc lần đầu tiên (tháo bỏ
vỏ nhựa bọc kín nó khi sản xuất) trong thiết bị hoặc ổ đĩa cứng đã sử dụng được
Trêng §¹i Häc C«ng NghiÖp Hµ Néi.
Page 24
Khoa C«ng NghÖ Th«ng Tin.
N
h
ó
m
1
2
Nhóm12 – KTPM2 – K6.
đưa đến từ một môi trường khác đến một nơi làm việc mới (có nhiệt độ môi
trường cao hơn), nên đặt nó vào khoang chứa trong một số thời gian nhất định
trước khi kết nối các dây cấp nguồn và cáp dữ liệu để chúng làm việc.
Thời gian thích nghi đủ lớn để để đảm bảo cho:
- Các giọt nước bị bay hơi hoặc các cụm băng
Trêng §¹i Häc C«ng NghiÖp Hµ Néi.
Page 25
Khoa C«ng NghÖ Th«ng Tin.
Nhiệt độ
trước khi
hoạt động
Thời gian
cần thích
nghi (giờ)
+40°F (+4°C) 13
+30°F (-1°C) 15
+20°F (-7°C) 16
+10°F (-12°C) 17
0°F (-18°C) 18
-10°F (-23°C) 20
-20°F (-29°C) 22
-30°F (-34°C)
hoặc nhỏ hơn
27