GVHD: GS. Nguyễn Như Bình
MỤC LỤC
SV: Cù Trung Kiên MSSV: CQ491436
GVHD: GS. Nguyễn Như Bình
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ thế giới
WB World Bank Ngân hàng thế giới
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
SDR Special Drawing Right Quyền rút vốn đặc biệt
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
PPP Purchasing Power Parity Thuyết ngang giá sức mua
NHNN: Ngân Hàng Nhà Nước
NHTM: Ngân Hàng Thương Mại
NHTW: Ngân Hàng Trung Ương
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
SV: Cù Trung Kiên MSSV: CQ491436
GVHD: GS. Nguyễn Như Bình
LỜI MỞ ĐẦU
• Tính cấp thiết của đề tài
Như chúng ta đã biết thế giới đang bước vào kỷ nguyên của hội nhập kinh tế
và xu hướng toàn cầu hoá diễn ra rộng khắp. Quá trình toàn cầu hóa là quá trình
chứa đựng nhiều mâu thuẫn, có sự xung đột lợi ích giữa các nước, các nhóm nước
và là một quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh nhằm thiết lập một trật tự kinh tế thế
giới hợp lý hơn, công bằng hơn. Khi gia nhập vào các tổ chức thương mại trong khu
vực và trên thế giới, mỗi quốc gia đều có những mục đích riêng, nhưng nhìn chung
thì các nước đều muốn hướng tới một nền kinh tế phát triển, một xã hội văn minh,
hiện đại, đời sống xã hội được cải thiện. Tham gia vào tiến trình toàn cầu hoá, tiến
cùng thời đại tuy thách thức là rất lớn, nhưng cơ hội cũng rất nhiều: tiếp cận thị
trường về hàng hoá, dịch vụ và đầu tư Các hoạt động giao dịch về thương mại,
dịch vụ, các giao giao dịch quốc tế diễn ra rất sôi động và với số lượng ngày một
thì em sẽ tập trung nghiên cứu chính sách tỷ giá và những tác động của việc điều
chỉnh tỷ giá đến nền kinh tế trong giai đoạn gần đây. Trong quá trình nghiên cứu
chắc chắn sẽ có nhiều khó khăn, em xin được sự hướng dẫn của thày.
• Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về tỷ giá hối đoái để làm luận cứ
cho việc xây dựng chế độ tỷ giá hối đoái sao cho phù hợp với nền kinh tế Việt Nam
hiện nay và trong tương lai.
Nghiên cứu cơ sở hình thành và tác động của tỷ giá hối đoái đến các hoạt
động xuất khảu của Việt Nam thời gian qua. Từ đó tìm ra những vấn đề còn tồn tại
để giải quyết.
Đưa ra một số kiến nghị và giải pháp để hoàn thiện hệ thống tỷ giá hôi đoái
của Việt Nam thời gian tới và góp phần mở rộng và nâng cao hiệu quả của hoạt
động xuất khẩu của Việt Nam trong tương lai.
• Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu sự hình thành, các cơ chế quản lý, diễn biến của tỷ giá hối đoái
và tác động của tỷ giá hối đoái đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam. Từ đó đưa
ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tỷ giá hối đoái phù hợp với tình hình
kinh tế xã hội Việt Nam hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu: Tỷ giá hối đoái là một vấn đề rộng lớn, rất phức tạp, có
tác động đến nhiều mặt của hoạt động kinh tế xã hội. Tuy nhiên, đề tài này chỉ đi
sâu nghiên cứu tác động của tỷ giá đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ
sau đổi mới.
• Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử kết hợp với các phương pháp thu thập số liệu, thống kê, phân tích và tổng
hợp để nghiên cứu.
• Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Phân tích tổng hợp các vấn đề điều hành chính sách tỷ giá hối đoái của
Việt Nam.
Đánh giá thực trạng về công tác quản lý tỷ giá, chỉ ra những tồn tại và hạn
tệ. Đây chính là giá cả của ngoại tệ trên thị trường và được xác định dựa trên quan
hệ cung cầu về ngoại tệ. Được coi là mấu chốt trong quản lý kinh tế vĩ mô, TGHĐ
có tác động ngược trở lại đến các mối quan hệ kinh tế, lên cán cân thanh toán quốc
tế, lên giá cả hàng hoá trong nước và lưu thông tiền tệ Nhìn chung, TGHĐ được
chia thành nhiều loại khác nhau tuỳ vào mục đích xem xét, nghiên cứu mà chúng ta
quyết định sử dụng loại tỷ giá nào.
1.1.2 Cơ sở hình thành tỷ giá hối đoái .
Thuyết ngang giá vàng
Trong thời kỳ bản vị kim loại, nhất là bản vị vàng (và bạc), các đồng tiền quốc
gia đều được so sánh, quy đổi với nhau trên cơ sở hàm lượng kim loại (vàng) chứa
đựng trong đồng tiền của mình hay do đơn vị đồng tiền của mình đại diện. Trong
giai đoạn này, đặc biệt từ năm 1870 đến thời kỳ đầu đại chiến thế giới lần thứ nhất,
người ta xác định tỷ giá giữa các đồng tiền bằng cách so sánh hàm lượng vàng chứa
trong mỗi đơn vị tiền tệ của từng nước.
Ví dụ: Hàm lượng vàng của một bảng Anh (GBP) là 2,488281 gam và của một
đô la Mỹ là 0,888671 gam. Do đó, tỷ giá hối đoái của GBP và USD là:
GBP/USD = 2,488281/0,888671= 2.80
Trong chế độ bản vị vàng, tỷ giá hối đoái của một nước cũng như trên thế
giới khá ổn định và thường chỉ biến động theo mức tăng giảm hàm lượng vàng chứa
đựng trong mỗi đơn vị tiền tệ.
Do hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới sau Chiến tranh thế giới
lần thứ nhất, đặc biệt là do những bất lợi của chế độ bản vị vàng (kiềm chế sự phát
triển kinh tế và giao lưu kinh tế quốc tế ) nên phần lớn các nước đã từ bỏ chế độ
SV: Cù Trung Kiên MSSV: CQ491436
4
GVHD: GS. Nguyễn Như Bình
bản vị vàng vào đầu những năm 30. Đến năm 1971, các nước hoàn toàn bãi bỏ chế
độ bản vị vàng.
Thuyết ngang giá sức mua ( Purchasing Power Parity - PPP )
Khi tỷ lệ lạm phát của một nước tăng tương đối so với lạm phát của một nước
giữa hai đồng tiền của hai nước sẽ bằng tỷ số mức giá của hai nước đó tại
cùng thời điểm.
SV: Cù Trung Kiên MSSV: CQ491436
5
GVHD: GS. Nguyễn Như Bình
Ví dụ: Thép Nhật tăng giá 11.000 JPY/tấn, thép Mỹ vẫn ở giá 100 USD/tấn,
tỷ giá cũ là 100 JPY/USD, thì lúc đó thuyết PPP nói rằng tỷ giá sẽ được điều chỉnh
theo hướng giảm giá đồng JPY, tức là bằng 110 JPY/USD. Việc vận dụng thuyết
PPP chỉ cung cấp cho ta một hướng dẫn lâu dài về sự vận động của tỷ giá.
Tuy nhiên, trong ngắn hạn nó không được hoàn hảo, thậm chí còn bị sai lệch
đáng kể vì thị trường là không hoàn hảo, tồn tại chi phí vận chuyển, bảo hiểm, thanh
toán, thông tin và nhiều hàng rào thương mại khác, do đó, thuyết PPP tuyệt đối
hiếm khi thấy trong thực tế, nhưng thuyết PPP tương đối lại khá phổ biến.
Thuyết PPP tương đối được duy trì, dù cho sức mua của đồng tiền không
giống nhau ở mọi nơi, thay đổi mức giá cả giữa hai quốc gia được hấp thụ bởi sự
biến động của tỷ giá, do đó, quan hệ PPP được duy trì không thay đổi. Nếu nước A
có tỷ lệ lạm phát bằng 0% và nước B có tỷ lệ lạm phát bằng 10% thì đồng tiền của
nước B phải giảm giá 10% so với đồng tiền của nước A. Sự biến động của tỷ giá sẽ
duy trì tỷ lệ giá cả giữa hai nước trước và sau khi lạm phát xảy ra là không thay đổi.
Nếu thuyết PPP tương đối hoạt động, có hiệu lực ngay lập tức và chính xác,
thì chính sách tiền tệ sẽ không có tác dụng cải thiện cán cân thương mại. Bất cứ sự
thay đổi nào trong các mức giá cả giữa hai nước do thay đổi mức cung ứng tiền sẽ
được hấp thụ ngay lập tức bởi sự thay đổi của tỷ giá. Trong thực tế thuyết PPP
tương đối có ảnh hưởng tương đối tới sự biến động của tỷ giá, nhưng xảy ra chậm
hơn. Xu hướng là rõ ràng nhưng nhiều yếu tố có thể làm méo mó quan hệ này trong
ngắn hạn. Một trong những nguyên nhân chủ yếu là do trong giai đoạn ngắn hạn đối
với cả thị trường trong nước và thị trường quốc tế thì giá cả hàng hoá được coi như
là cố định. Trong khi đó tỷ giá trao đổi thì được điều chỉnh thường xuyên do sự cập
nhật thông tin và do sự thay đổi của chính sách kinh tế. Điều đó có nghĩa, sự thay
đổi của tỷ giá đã tạo ra sự sai lệch lớn và kéo dài so với thuyết PPP.
đồng tiền quốc gia: USD, GBP và hai tiền tệ quốc tế: SDR, EURO (trước đây là
ECU) là dùng cách yết giá trực tiếp (Certain quotation), các tiền tệ còn lại dùng
cách yết giá gián tiếp (incertain quotation):
Ví dụ: USD/DEM, GBP/FRF, SDR/FRF, SDR/FRF
Có nghĩa là giá của USD, GBP hay của SDR, EURO được thể hiện trực tiếp
ra bên ngoài, còn các tiền tệ khác như DEM, FRF, VND mới thể hiện gián tiếp ra
bên ngoài.
Ví dụ: USD/VND = 15.000
Tức là giá của một USD bằng 15.000 VND, còn giá của một VND chưa thể
hiện trực tiếp ra bên ngoài; muốn xác định ta làm phép chia như sau:
1 VND = 1/15000 ≈ 0,00007 USD
Nếu xét ở góc độ thị trường tiền tệ quốc gia, thì nước Anh và nước Mỹ dùng cách
yết giá gián tiếp để thể hiện giá cả ngoại hối, còn các quốc gia khác lại dùng cách
yết giá trực tiếp để thể hiện giá cả ngoại hối.
1.1.4 Các loại tỷ giá hối đoái.
Có nhiều loại tỷ giá hối đoái khác nhau.Tuy nhiên, ta có thể phân chia theo
một số tiêu thức chính như sau:
Căn cứ vào các nghiệp vụ trên thị trường ngoại hối
Tỷ giá thường được niêm yết tại ngân hàng là tỷ giá điện hối, tức là tỷ giá
chuyển ngoại hối bằng điện. Đây là tỷ giá cơ sở để xác định các mức tỷ giá khác.
Bên cạnh đó còn có tỷ giá thư hối, tức là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư. Khi
niêm yết tỷ giá hối đoái, ngân hàng thường công bố tỷ giá bán và tỷ giá mua. Tỷ giá
SV: Cù Trung Kiên MSSV: CQ491436
7
GVHD: GS. Nguyễn Như Bình
bán bao giờ cũng cao hơn tỷ giá mua và khoản chênh lệch này là lợi nhuận kinh
doanh ngoại hối của ngân hàng.
Thông thường ngân hàng không công bố tất cả tỷ giá của các hợp đồng đã ký
kết trong một ngày mà chỉ công bố tỷ giá của hợp đồng ký kết cuối vùng trong ngày
hôm đó, người ta gọi đó là tỷ giá đóng cửa. Tỷ giá đóng cửa được coi là chỉ tiêu chủ
sở có chỉ số tỷ giá là 100%, tại thời điểm (t+1) chỉ số tỷ giá sẽ là: (15.000 :14.000) x
100% = 107,14%. Như vậy, khi tỷ giá danh nghĩa tăng thì chỉ số tỷ giá danh nghĩa
SV: Cù Trung Kiên MSSV: CQ491436
8
GVHD: GS. Nguyễn Như Bình
cũng tăng, điều này bao hàm ý rằng đồng tiền yết giá lên giá và đồng tiền định giá
giảm giá (trong ví dụ trên USD lên giá còn VND giảm giá).
Đối với mỗi quốc gia, khi tỷ giá danh nghĩa tăng lên hay giảm xuống không
nhất thiết phải đồng nghĩa với sự tăng hay giảm sức cạnh tranh thương mại quốc tế
của quốc gia này. Do đó, để đo sự thay đổi trong sức cạnh tranh thương mại quốc tế
người ta sử dụng khái niệm tỷ giá thực.
Tỷ giá thực bằng tỷ giá danh nghĩa được điều chỉnh bởi thay đổi trong tương
quan giá cả trong nước và nước ngoài. Tương quan giữa tỷ giá thực E
R
và tỷ giá
danh nghĩa E được biểu diễn như sau:
E
R
= E.P
*
/P
Trong đó:
P
*
- mức giá cả ở nước có đồng tiền yết giá.
P - mức giá cả ở nước có đồng tiền định giá.
Công thức trên cho thấy: tỷ giá thực bằng tỷ giá danh nghĩa đã được điều
chỉnh bởi tỷ số giữa mức giá cả ở nước ngoài và mức giá cả ở trong nước. Tỷ giá
thực là thước đo đầy đủ sức cạnh tranh hàng hoá của Việt Nam (hay của nước có
đồng tiền định giá) so với hàng hoá nước ngoài (hay của nước có đồng tiền yết giá),
b. Tỷ giá hối đoái thả nổi tự do
Theo chế độ tỷ giá hối đoái này, mức tỷ giá hối đoái được quyết định hoàn
toàn bởi các lực lượng cung cấp cầu về ngoại tệ. Trong hệ thống này chính phủ giữ
thái độ thụ động, để cho thị trường ngoại tệ đánh giá giá trị của ngoại tệ - loại tỷ giá
hối đoái này ít được áp dụng vì các thị trường tiền tệ thường không hoàn hảo và do
vậy luôn cần có vai trò can thiệp của nhà nước.
c. Tỷ giá hối đoái thả nổi có điều tiết
Theo chế độ này, chính phủ không cam kết duy trì một tỷ lệ cố định với
ngoại tệ, mà thả nổi đồng tiền của mình và có biện pháp can thiệp mỗi khi thị
trường trở nên (mất trật tự) , hoặc khi tỷ giá hối đoái đi chệch xa mức thích hợp loại
tỷ giá hối đoái này hiện đang được áp dụng tại các nước Tư Bản Chủ Nghĩa, nơi mà
lạm phát đạt thấp, các thị trường phát triển ở trình độ cao.
d. Tỷ giá hối đoái ổn định có điều tiết
Theo chế độ này, chính phủ không để ngoại tệ trôi nổi tự do, mà can thiệp
vào thị trường ngoại tệ bằng cách mua bán ngoại tệ nhằm ổn định tỷ giá qui định.
Sau mỗi thời gian nhất định, mức tỷ giá hối đoái lại được điều chỉnh cho phù hợp và
duy trì ổn định.
Luận cứ lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái
Sự quản lý tối ưu của tỷ giá hối đoái phụ thuộc vào các mục tiêu kinh tế của
các nhà hoạch định chính sách, vào nguồn gốc của các cơn sốc đối với nền kinh tế
và đặc trưng cơ cấu của nền kinh tế đang xét. Vì vậy các giả thiết khác nhau về
nhân tố đó có thể dẫn đến sự thay đổi về mức độ tối ưu của chế độ tỷ giá hối đoái.
Các yêu cầu khi lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái:
Một số tiêu chuẩn quy định tỷ giá phụ thuộc vào bản chất của cơn sốc lên
nền kinh tế cũng như đặc trưng cơ cấu của nền kinh tế. Tuy vậy trong thực tế khó
mà áp dụng đó cho các trường hợp cụ thể. Các khó khăn đó không những lên quan
đến các vấn đề thực tiễn, sự nhận biết nguồn gốc các cơn sốc và các đặc trưng cơ
cấu mà còn liên quan đến mâu thuẫn tiềm tàng giữa các mục tiêu chính sách khác
nhau. Tiêu chuẩn để lựa chọn một chế độ tỷ giá hối đoái thích hợp còn phụ thuộc
vào các mục tiêu chính sách do chính phủ đặt ra.
động làm cho tỷ lệ lạm phát giảm). Muốn kích thích lạm phát gia tăng, NHTW có
thể sử dụng chính sách phá giá đồng nội tệ. Muốn duy trì giá cả ổn định, NHTW
phải sử dụng chính sách tỷ giá ổn định và cân bằng.
b. Về mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm đầy đủ.
Khi các yếu tố khác là không đổi, thì việc phá giá nội tệ sẽ làm cho:
Kích thích tăng xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, trực tiếp làm tăng thu nhập
quốc dân và tăng số lượng công ăn việc làm. Điều này được thể hiện qua công thức
tính thu nhập quốc dân:
Y = C + I + G +X - M
SV: Cù Trung Kiên MSSV: CQ491436
11
GVHD: GS. Nguyễn Như Bình
Phá giá nội tệ làm cho những ngành sản xuất không sử dụng hoặc sử dụng ít
đầu vào là hàng nhập khẩu sẽ tăng được lợi thế cạnh tranh về giá so với những
ngành sử dụng nhiều đầu vào là hàng nhập khẩu, từ đó có thể mở rộng sản xuất,
tăng thu nhập và tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động.
Tuy nhiên, để có được một cuộc phá giá thành công, thì trong nền kinh tế
phải có sẵn các điều kiện cần thiết như năng lực sản xuất và thị trường cho hàng
xuất khẩu, năng lực sản xuất hàng hóa thay thế hàng nhập khẩu. Đồng thời tránh
vòng xoáy của (phá giá – lạm phát và lạm phát – phá giá) thì phải áp dụng một
chính sách tiền tệ thắt chặt và một quỹ dự trữ ngoại tệ đủ mạnh để can thiệp trong
thời gian đầu. Có như vậy phá giá nội tệ mới làm cho các biến số thực trong nền
kinh tế thay đổi theo hướng có lợi cho nền kinh tế.
Ngược lại, khi nâng giá nội tệ (các yếu tố khác không đổi), sẽ tác động làm
giảm tăng trưởng kinh tế, gây gia tăng thất nghiệp.
c. Về mục tiêu cân bằng cán cân vãng lai.
Như đã phân tích ở trên, chính sách tỷ giá tác động trực tiếp đến hoạt động
xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, là hai bộ phận củ yếu cấn thành cán cân
vãng lai. Do đó, có thể nói chính sách tỷ giá ảnh hưởng trực tiếp đến cán cân vãng
nào đó. Để công cụ này có hiệu quả thì quốc gia phải có lượng dự trữ ngoại tệ lớn.
Trong lưu thông khi mà ngoại tệ bị thừa dẫn đến ảnh hưởng đến đồng VND bị định
giá cao làm ảnh hưởng đến xuất khẩu thì NHTW tiến hành mua mua ngoại tệ vào và
đẩy VND ra nhằm làm tỷ giá ổn định.
Biện pháp kết hối.
Việc chính phủ quy định với các thể nhân và pháp nhân có nguồn thu ngoại tệ
phải bán một tỷ lệ nhất định trong một thời hạn nhất định cho các tổ chức được
phép kinh doanh ngoại hối. Biện pháp này được áp dụng trong thời kỳ khan hiếm
ngoại tệ giao dịch trên thị trường ngoại hối. Mục đích chính của biện pháp này là
tăng cung ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho thị trường, hạn chế hành vi đầu
cơ và giảm áp lực phá giá đồng nội tệ .
Ví dụ: Năm 1997 do ảnh hưởng của khủng hoản tiền tệ nên các doanh nghiệp
đều giữ ngoại tệ làm cho cung cầu ngoại tệ mất cân đối. Chính phủ ra quyết định
197/QĐ-TTg về nghĩa vụ bán và quyền mua ngoại tệ của người cu trú là các tổ chức
với tỷ lệ kết hối bắt buộc là 80%.Sau một thời gian khi tình hình ngoại tệ đã bớt
căng thẳng hơn thì 30/8/1999 Chính phủ đã có quyết định giảm tỷ lệ kết hối xuống
còn 50% sau đó xuống 30%.
Quy định hạn chế đối tượng được mua ngoại tệ, quy định hạn chế mục đích sử
dụng ngoại tệ, quy định hạn chế số lượng người mua ngoại tệ, quy định hạn chế thời
điểm mua ngoại tệ. Tất cả các biện pháp này để giảm áp lực thiếu hụt ngoại tệ, tránh
đầu cơ và giữ cho tỷ giá cố định. Tuy nhiên các biện pháp này có tính chất hành
chính không phù hợp với xu thế tự do hóa và thương mại hóa nền kinh tế .
b. Nhóm công cụ gián tiếp.
Lãi suất tái chiết khấu.
Phương pháp lãi suất tái chiết khấu để điều chỉnh tỷ giá hối đoái là phương
pháp được sử dụng vừa mang tính cấp bách vừa mang tính chiến lược lâu dài trong
mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế.
Khái niệm: Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất mà NHTW đánh vào các khoản
tiền cho các NHTM vay để đáp ứng nhu cầu tiền mặt ngắn hạn hoặc bất thường của
SV: Cù Trung Kiên MSSV: CQ491436
giá của đồng nội tệ về lâu dài làm giảm tỷ giá đẩy giá trị đồng nội tệ lên cao.
Thuế quan cao có tác dụng hạn chế nhập khẩu ,cầu ngoại tệ giảm nội tệ lên giá
, làm giảm sức ép lên tỷ giá. Do đó kéo tỷ giá đi xuống dần dẫn đến thế cân bằng
trên thị trường hối đoái. Khi thuế quan thấp có tác dụng ngược lại Vì vậy cho nên
không nên áp đặt một mức thuế quá cao sẽ dẫn tới khả năng xuất khẩu bị giảm sút (do
nội tệ lên giá), thuế quan cũng gây ra tệ nạn buôn lậu, thuế càng cao buôn lậu càng tăng
và những điều này làm giảm phúc lợi chung do đó làm giảm hiệu quả khai thác nguồn
lực của nền kinh tế. Đối với những nước có nền sản suất non trẻ thì thuế quan cũng là
một cách để bảo hộ trước sự tấn công của hàng hoá các nước khác.
SV: Cù Trung Kiên MSSV: CQ491436
14
GVHD: GS. Nguyễn Như Bình
Hạn ngạch.
Hạn nghạch (hạn chế số lượng) là quy định một nước về số lượng cao nhất
của một mặt hàng hay một nhóm hàng được phép xuất hoặc nhập từ một thị trường
trong một thời gian nhất định thông qua hình thức giấy phép. Hạn nghạch có tác
dụng hạn chế nhập khẩu do đó có tác dụng lên tỷ giá tương tự như thuế quan.Dỡ bỏ
hạn nghạch có tác dụng làm tăng nhập khẩu, do đó có tác dụng lên tỷ giá giống như
thuế quan thấp .
Hiện nay các nước ít sử dụng hạn nghạch mà sử dụng thuế quan để thay thế
cho hạn nghạch và đây cũng là quy định khi gia nhập WTO.
Giá cả.
Thông qua hệ thống giá cả, chính phủ có thể trợ giá cho những mặt hàng xuất
khẩu chiến lược hay đang trong giai đoạn đầu sản xuất.Trợ giá xuất khẩu làm cho
khối lượng xuất khẩu tăng, làm tăng cung ngoại tệ, nội tệ lên giá. Chính phủ cũng
có thể bù giá cho một số mặt hàng nhập khẩu thiết yếu, bù giá làm tăng nhập khẩu
nội tệ giảm giá.
Trợ cấp chia làm 2 loại: trực tiếp bổ trợ tức là trực tiếp chi tiền cho nhà xuất
khẩu và gián tiếp bổ trợ tức là ưu đãi về tài chính về một số mặt hàng cho nhà xuất
khẩu như ưu đãi về thuế trong nước, thuế xuất khẩu…
hàng hóa, dịch vụ vật chất giữa các nước trong phe XHCN. Nó được xác định dựa
trên cơ sở so sánh giá hàng hóa xuất khẩu tính bằng VND và tính bằng ngoại tệ ở
nước ngoài.
Tỷ giá phi mậu dịch: Là tỷ giá dùng trong thanh toán, chi trả hàng hóa hoặc
dịch vụ vật chất không mang tính thương mại giữa các nước trong phe XHCN, như
chi về ngoại giao, đào tạo, hội thảo, hội nghị… Nó được xác định trên cơ sở giá bán
lẻ của một số mặt hàng tại 2 nước tính theo đồng tiền của 2 nước. Tại VN trong 1
thời kỳ dài đã quy định tỷ giá phi mậu dịch thấp hơn rất nhiều so với tỷ giá mậu
dịch để điều tiết lại phần “chênh lệch giá” do những người nước ngoài được mua rẻ
ở VN. Trong thời kỳ này nếu tỷ giá mậu dịch là 3,27 VND/SUR thì tỷ giá phi mậu
dịch là 1,7 VND/SUR cùng thời điểm. Tất cả các tỷ giá phi mậu dịch giữa VN với
các nước đều dần dần hết hiệu lực trong năm 1989 và cuối cùng là ngày
31/12/1999.
Tỷ giá kết toán nội bộ: Được xác định trên cơ sở tỷ giá chính thức cộng thêm
hệ số phần trăm để bù lỗ cho các đơn vị xuất khẩu. Tỷ giá này không công bố ra
ngoài mà chỉ áp dụng trong thanh toán nội bộ (nên gọi là kết toán nội bộ). Tỷ giá
chính thức (tỷ giá mậu dịch) do Nhà nước công bố và cố định trong một thời gian
dài. Tại thời điểm công bố, tỷ giá chính thức thường thấp hơn tỷ giá thị trường (tức
VND bị định giá cao), do đó hoạt động xuất khẩu tính theo tỷ giá chính thức bị lỗ.
Để bù lỗ cho xuất khẩu, Nhà nước dùng tỷ giá kết toán nội bộ bằng tỷ giá chính
SV: Cù Trung Kiên MSSV: CQ491436
16
GVHD: GS. Nguyễn Như Bình
thức cộng thêm một tỷ lệ phần trăm quy định cho từng nhóm hàng.
Đối với hàng nhập khẩu như vật tư nguyên liệu, thiết bị, Nhà nước đứng ra
phân phối cho các ngành trong nền KTQD tính theo tỷ giá chính thức (giá phân
phối). Như vậy các ngành, các địa phương được phân phối các loại vật tư, nguyên
liệu thì được lợi, còn Nhà nước không thu được chênh lệch giá. Để hạn chế nhập
khẩu hàng hóa tiêu dùng hoặc hàng xa xỉ phẩm, Nhà nước áp dụng mức tỷ giá cao
hơn rất nhiều so với tỷ giá chính thức.
ngân sách Nhà nước càng phải bù lỗ nhiều. Nếu bù lỗ không đủ hay chậm trễ sẽ dẫn
SV: Cù Trung Kiên MSSV: CQ491436
17
GVHD: GS. Nguyễn Như Bình
đến tình trạng nợ chồng chất lẫn nhau và thiếu vốn kinh doanh. Bên cạnh đó, do tỷ
giá chính thức quy định thấp, các tổ chức kinh tế và cá nhân có ngoại tệ lại tìm cách
không bán cho ngân hàng, các tổ chức đại diện nước ngoài hoặc cá nhân nước ngoài
cũng hạn chế việc chuyển tiền vào tài khoản ở ngân hàng để chi tiêu mà thường đưa
hàng từ nước ngoài vào hay sử dụng trực tiếp tiền mặt trên thị trường. Thực tế này
vừa gây thiệt hại về kinh tế cho Nhà nước vừa làm phát sinh những tiêu cực trong
đời sống kinh tế xã hội, thúc đẩy mạnh mẽ những hoạt động phi pháp và chính điều
này tác động ngược trở lại làm tình hình tỷ giá trong thị trường càng diễn biến phức
tạp. Đối với nhập khẩu, Nhà nước thường đứng ra phân phối nguyên vật liệu, trang
thiết bị, máy móc nhập khẩu cho các nghành đơn vị trong nền kinh tế với giá rẻ
( theo tỷ giá chính thức). Như vậy, các nghành, các đơn vị được phân phối hàng
nhập khẩu thì được chênh lệch giá. Do đó, cách thức xây dựng và điều hành tỷ giá
cùng cơ chế ngoại thương như vậy đã được xem là một trong những nguyên nhân
cơ bản dẫn đến những thâm hụt trầm trọng trong ngân sách Nhà nước ở giai đoạn
này. Tóm lại, tỷ giá hối đoái được xác lập và vận hành ở Việt Nam trong giai đoạn
trước tháng 3/1989 là một hệ thống khá phức tạp, được xác lập theo ý đồ phục vụ
cho kế hoạch do Nhà nước quyết định, không xuất phát từ luật thực tại trong nền
kinh tế trong và ngoài nước mà hậu quả là làm cho việc tính toán,phản ánh thu chi
ngân sách Nhà nước bị sai lệch, công tác điều hành ngân sách Nhà nước gặp khó
khăn, cản trở các quan hệ kinh tế cả trong và ngoài nước. Đây cũng là vừa một biểu
hiện và cũng vừa là kết quả của một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung.
2.1.2 Giai đoạn 1989 – 1992: tỷ giá thả nổi.
2.1.2.1 Chính sách tỷ giá.
Giai đoạn này có thể được coi là cái mốc quan trọng trong phát triển TGHĐ ở
nước ta khi quan hệ ngoại thương được bao cấp với các thị trường truyền thống
Đông Âu và Liên Xô(cũ) bị gián đoạn, khiến chúng ta phải chuyển sang buôn bán
giá đồng dola đã kích thích tâm lý nắm giữ đồng dola , nhằm đầu cơ ăn chênh lệch
giá. Ngoại tệ vốn đã khan hiếm lại không được dùng cho hoạt động xuất nhập khẩu
mà còn bị buôn bán vòng vèo giữa các tổ chức trong nước . Mọi cố gắng quản lý
ngoại tệ của chính phủ ít đem lại hiệu quả . Giai đoạn này Ngân hàng không kiểm
soát được lưu thông tiền tệ. Trong các năm 1991-1992 do ảnh hưởng của sự đổ vỡ
các mối quan hệ ngoại thương với LiênXô và Đông Âu , nhập khẩu giảm sút một
cách nghiêm trọng ( năm 1991 là 357.0 triệu USD đến năm 1992 chỉ còn 91,1 triệu
USD ). Các doanh nghiệp tiến hành nhập khẩu theo hình thức trả chậm và phải chịu
một lãi suất cao do thiếu dollar, dollar đã thiếu lại càng thiếu dẫn đến các cơn sốt
dollar theo chu kỳ vào giai đoạn này.
Hoạt động giao dịch ngoại hối ở 2 trung tâm không phản ánh hết tình hình
cung cầu ngoại tệ toàn nền kinh tế, tính thiết thực đối với cái thành viên tham gia thị
trường giao dịch ngoại tệ thấp, dự trữ ngoại tệ của NHNN mỏng nên khả năng điều
tiết kém. Đồng thời với chính sách tỷ giá thả nổi, tỷ giá trên thị trường bị thay đổi
liên tục bởi hoạt động đầu cơ thao túng, gây lao đao cho thị trường ngoại hối và
hoạt động xuất nhập khẩu, cán cân thương mại thâm hụt. (Chúng ta có thể thấy rõ
điều nay qua đồ thị 1) năm 1990-1991 giá trị xuất khẩu là -10%. Do đó, ở giai đoạn
sau, Nhà nước quyết định thi hành chính sách tỷ giá thả nổi có điều tiết.
2.1.3 Giai đoạn 1992 – 1996: tỷ giá thả nổi có điều tiết
2.1.3.1 Chính sách tỷ giá.
Vào thời điểm cuối năm 1992 , do kết quả sự can thiệp của Ngân hàng Nhà
nước vào thị trường ngoại tệ, tỷ giá dần ổn định khiến cho lượng ngoại tệ đầu cơ
trong các doanh nghiệp được tung ra , hướng mạnh vào kinh doanh xuất nhập khẩu.
Đồng thời có một lượng ngoại tệ được chuyển về do người Việt Nam ở nước ngoài
gửi về cho người thân tăng lên khoảng 300-400 triệu USD làm cung ngoại tệ lớn
SV: Cù Trung Kiên MSSV: CQ491436
20
GVHD: GS. Nguyễn Như Bình
hơn cầu ngoại tệ và kéo theo tỷ giá VND/USD giảm mạnh. Lĩnh vực tài chính tiền
tệ bắt đầu trở ngại. Bên cạnh đó, cùng với việc quản lý các đại lý thu đổi ngoại tệ
trên thị trường Việt Nam, điều này cho thấy biện pháp can thiệp của chính phủ mà
đặc biệt là Ngân hàng nhà nước thật sự phát huy tác dụng một cách mạnh mẽ. Trong
bối cảnh nến kinh tế thế giới và thị trường tiền tệ quốc tế đầy biến động mà nền
kinh tế xã hội Việt Nam lại đạt được sự ổn định và tăng trưởng cao, điều này đã thể
hiện tính hợp lý về cơ bản của các tỷ số kinh tế vĩ mô và tất yếu là có biến số
SV: Cù Trung Kiên MSSV: CQ491436
21
GVHD: GS. Nguyễn Như Bình
TGHĐ.Tuy nhiên, khi đánh giá về mối quan hệ giữa TGHĐ và ngoại thương của
Việt Nam từ cuối năm 1992 đến đầu năm 1997, tất cả các công trình nghiên cứu
trong những năm gần đây và cũng theo nhận định chung của các nhà kinh tế thì đây
là giai đoạn tăng giá mạnh của đồng tiền Việt Nam. Các kết luận thường cho rằng:
Chính điều này là nguyên nhân gây ra tình trạng thâm hụt lớn trong ngoại thương
của Việt Nam. Ví dụ: Nếu ước tính một cách tương đối và lấy gốc là năm 1992 thì
đầu năm 1997, chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam đã tăng 36.8% trong khi ở Mỹ là
16,5% thì theo thuyết ngang giá sức mua, nếu tỷ giá chính thức vào đầu năm 1993,
là 1 USD = 10500VND thì đàu năm 1997 tỷ giá phải là 1USD = 103000(1+ 16,5%)
= 12095VND. Trong khi đó, tỷ giá chính thức trên thị trường Việt Nam thực tế chỉ
khoảng 1USD = 1100VND. Như vậy theo ngang giá sức mua, đồng Việt Nam đã
tăng giá thực tế xấp xỉ 9%. và số liệu thực tế cho thấy nếu xét về giá trị tuyệt đối
bằng tiền tệ thì thâm hụt trong cán cân thương mại của Việt Nam đã có sự tăng liên
tục qua các năm (1993 là 547, 1994 là 1170, 1995 là 2345, 1996 là 3150 triệu
Dollar Mỹ). Nếu so sánh mức thâm hụt này với tổng kim ngạch xuất khẩu thì con số
cũng có chiều hướng tăng lên (năm 1993 là 8,4% năm 1994 là 12,8% năm 1995 là
18,4% và năm 1996 là 17,7%)
Bên cạnh đó sự thâm hụt trong cán cân thương mại của Việt Nam phải
đặc biệt nghiêm trọng trong 3 năm liên tiếp 1994,1995, 1996, có thể nói phần lớn là
do tác động trực tiếp của việc Trung Quốc phá giá mạnh của đồng NDT vào đầu
năm 1994. Số liệu thực tế cho thấy, ngay sau cuộc phá giá kim ngạch nhập khẩu từ
Trung Quốc (chính ngạch) tăng lên rất nhanh. Nếu như trong năm 1992 kim ngạch
Thời điểm Biên độ giao động Tỷ giá chính thức
Quy mô điều
chỉnh(%)
27/02/1997 Từ +/-1% lên +/-5% Không đổi 4
13/10/1997 Từ +/-5% lên +/-10% Không đổi 5
16/02/1998 Không đổi 11.175 lên 11.800 5.6
07/08/1998 Từ +/-10% xuống +/-7% 11.815 lên 12.998 7
Nguồn: www.gso.gov.vn
Thời kỳ 1997 - 1998 cũng ghi nhận ba lần điều chỉnh tỷ giá
Tháng 7-1997 bình quân 11.690 VND/USD
Tháng 2-1998 bình quân 12.664 VND/USD
Tháng 8-1998 bình quân 13.715 VND/USD
2.1.4.2 Tác động của chính sách tỷ giá.
Việc Ngân hàng nhà nước điều chỉnh liên tục tỷ giá chính thức cùng biên độ
trong giai đoạn này có nhiều lý do, do gạt bỏ những lý do khác và chỉ đứng trên góc
độ lựa chọn chế độ tỷ giá thì có thể thấy. Nếu phân loại chế độ tỷ giá gồm 3 chế độ
chính là chế độ tỷ giá cố định, chế độ tỷ giá thả nổi thuần tuý và nằm giữa hai thái
cực này gọi chung là chế độ tỷ giá bán thẩ nổi hay thả nổ có quản lý, thì việc có
nhiều những điều chỉnh trong tỷ giá chính thức cùng biên độ tuy không làm thay đổi
về cơ bản mà hoàn toàn phù hợp với lý thuyết về lựa chọn chế độ tỷ giá: "Một chế
độ tỷ giá thả nổi sẽ góp phần hạn chế những cơn sốc và xuất phát từ thị trường thế
giới ( khủng hoàng tài chính Đông Nam á).
SV: Cù Trung Kiên MSSV: CQ491436
23