BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
TÌM HIỂU VỀ ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY
VÀ XÂY DỰNG ỨNG DỤNG WEB THEO
HƯỚNG DỊCH VỤ Giảng viên hướng dẫn:
ThS. Ngô Văn CôngSinh viên thực hiện:
TRƯƠNG CÔNG CƯỜNG
Lớp: 51TH-2
MSSV: 51130187 Tháng 6/2013
1
LỜI CẢM ƠN
2
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
MỤC LỤC
4
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 9
1.1 Lý do chọn đề tài: 9
1.2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu: 10
5
3.2.1 Quản lý người dùng online: 64
3.2.2 Quản lý tài liệu online: 67
3.3 Kết quả cài đặt: 70
Chương 4: KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN 72
4.1 Ưu điểm và nhược điểm: 72
4.2 Hướng phát triển: 72
PHỤ LỤC 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
6
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ, HÌNH
Hình 2.1: Đám mây công cộng.
Hình 2.2: Đám mây riêng.
Hình 2.3: Đám mây lai.
Hình 2.4: Đám mây cộng đồng.
Hình 2.5: Các mô hình dịch vụ trong điện toán đám mây.
Hình 2.6: Phần mềm là dịch vụ (SaaS).
Hình 2.7: Mô Hình MVC.
Hình 2.8: Ví dụ sơ đồ hoạt động của mô hình MVC.
Hình 2.9: Mô hình MVC trong Zend Framework.
8 KÝ HIỆU CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Giải thích
Amazon S3
IT
ĐTĐM
Amazon EC2
BI
CNTT
BA
IaaS
PaaS
SaaS
ZF
MVC
tăng theo. Đối với các công ty lớn như Google, Microsoft hay IBM, việc khai thác các
nguồn tài nguyên như vậy khi họ cần không phải là một vấn đề lớn. Tuy nhiên, khi nói
đến các doanh nghiệp nhỏ hơn, các nguồn tài nguyên lớn như vậy trở thành một yếu tố
tác động rất lớn đến công việc kinh doanh của họ. Với những vấn đề lớn về cơ sở hạ
tầng công nghệ thông tin như máy hỏng, dữ liệu lớn, treo ổ cứng, lỗi phần mềm,… Đó
thật sự là những vấn đề rất đau đầu cho các doanh nghiệp. Điện toán đám mây cung
cấp một giải pháp cho tình trạng này.
Điện toán đám mây là một cuộc dịch chuyển cách mạng trong đó việc tính toán
sẽ được chuyển từ máy tính cá nhân và thậm chí cả các máy chủ ứng dụng doanh
nghiệp, cá nhân đến một đám mây máy tính. Đám mây là một hình tượng để chỉ đến
tập các máy chủ ảo hóa có thể cung cấp các nguồn tài nguyên của máy tính khác nhau
cho khách hàng của họ. Người sử dụng của hệ thống này chỉ cần quan tâm tới các dịch
vụ máy tính đang được yêu cầu, còn các chi tiết bên dưới hệ thống như thế nào thì họ
không cần quan tâm đến vì nó được ẩn khỏi người dùng. Các dữ liệu và các dịch vụ
cung cấp nằm trong các trung tâm dữ liệu của đám mây có khả năng mở rộng và có
thể được truy cập ở bất kỳ đâu, từ bất kỳ thiết bị nào được kết nối trên thế giới.
Điện toán đám mây là một kiểu tính toán mà ở đó các công việc công nghệ
thông tin được cung cấp như một dịch vụ trên internet đến nhiều khách hàng bên
ngoài và khách hàng được tính tiền tùy theo mức độ sử dụng dịch vụ của họ. Nhiều
nhà cung cấp đã xuất hiện và bắt đầu cung cấp dịch vụ điện toán đám mây như:
Amazon, Oracle, IBM, Microsoft, Google và Yahoo. Trong đó Amazon là nhà cung
cấp tiên phong trong lĩnh vực này. Các công ty nhỏ hơn như SmugMug đã tạo ra một
trang web lưu trữ hình ảnh trực tuyến sử dụng dịch vụ điện toán đám mây để lưu trữ
tất cả các dữ liệu và thực hiện một số dịch vụ của mình. Điện toán đám mây còn được
sử dụng trong các lĩnh vực khác nhau như web hosting, lập trình song song, dựng hình
đồ hoạ, các mô hình tài chính (IBM Clouds), các phương pháp duyệt và tìm kiếm trên
web (web spider), phân tích gen (Amazon Clouds), v.v
10
11
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
Phần nghiên cứu lý thuyết sẽ hệ thống hóa các khái niệm cơ bản về điện toán
đám mây, lịch sử phát triển, đặc điểm, ưu nhược điểm, các thành phần, các mô hình
triển khai và mô hình dịch vụ.
Ứng dụng Website quản lý danh sách liên lạc và tài liệu online để mang lại
hiệu quả kinh tế thiết thực cho người dùng và các doanh nghiệp.
12
sẵn để phục vụ cho nhóm người sử dụng trong một phạm vi lớn, trong doanh nghiệp
13
và trong một nền tảng chéo. Điện toán đám mây của các máy tính này mang tầm vóc
vượt ra ngoài một công ty hay một doanh nghiệp” [4].
Với mỗi người dùng, họ có thể đưa ra những định nghĩa riêng cho mình về điện
toán đám mây là gì tùy vào cách mà họ sử dụng và với mỗi nhà cung cấp dịch vụ điện
toán đám mây cũng vậy. Chung quy lại, có thể hiểu điện toán đám mây là một mô
hình máy tính dựa trên nền tảng phát triển của Internet mà ở đó mô hình máy chủ
mainframe được nâng cấp lên mô hình client-server, cụ thể hơn là người dùng sẽ
không còn phải có những kiến thức về chuyên môn để điều khiển các công nghệ, máy
móc và cơ sở hạ tầng mà các chuyên gia trong “đám mây” của các nhà cung cấp sẽ
thực hiện điều đó.
Thuật ngữ “đám mây” ở đây là cách nói ẩn dụ chỉ mạng Internet (dựa vào cách
nó được bố trí trong sơ đồ mạng máy tính) và như một liên tưởng về độ phức tạp của
các cơ sở hạ tầng chứa trong nó. Ở mô hình điện toán này, mọi khả năng liên quan đến
CNTT đều được cung cấp dưới dạng các “dịch vụ”, cho phép người sử dụng truy cập
các dịch vụ công nghệ từ một nhà cung cấp nào đó trong “đám mây” mà không cần
phải có các kiến thức, kinh nghiệm về công nghệ đó cũng như không cần quan tâm
đến các cơ sở hạ tầng phục vụ công nghệ đó ra sao [1].
Ví dụ nếu một website được chứa trên một máy chủ, người dùng sẽ phải lựa
chọn hệ điều hành để cài đặt (Linux/Windows/Mac) để tiến hành cấu hình cho máy
chủ và website có thể hoạt động. Tuy nhiên, nếu trang web được chứa trên “đám mây”
thì người dùng sẽ không cần phải thực hiện thêm bất cứ điều gì khác, điều này cũng
đảm bảo yếu tố đầu tư sẽ được giảm tải ở mức tối đa.
Các nguồn tài nguyên, phần mềm, dữ liệu và các thông tin liên quan đều được
chứa trên các server (chính là các “đám mây”).
Nói một cách đơn giản nhất “ứng dụng điện toán đám mây” chính là những ứng
dụng trực tuyến trên Internet. Trình duyệt là nơi ứng dụng hiển thị và vận hành còn dữ
Những năm 80 đã có sự bùng nổ lớn trong ngành công nghiệp máy tính,
đến năm 1980 đã có hơn 5 triệu máy tính được sử dụng, chủ yếu là trong
chính phủ hoặc trong các doanh nghiệp. Vào năm 1981, hãng IBM đã
đưa ra mẫu máy tính đầu tiên cho người dùng cá nhân và chỉ sau đó 1
năm, Microsoft tung ra hệ điều hành MS-DOS mà hầu hết những máy
tính ở thời điểm đó đều chạy trên nền này. Đến năm 1984 Macintosh ra
đời.
Tất cả những sự kiện trên như là những hạt giống đầu tiên cho sử nảy
mầm của Internet giai đoạn sau này [9].
Vào năm 1990, cả thế giới đã chiêm ngưỡng một phương thức kết nối
chưa từng có, đó chính là phương thức Word Wide Web được phát hành
bởi CERN và được đưa vào sử dụng năm 1991. Vào năm 1993, trình
duyệt đầu tiên đã xuất hiện và đã được cấp phép cho các công ty tư nhân
sử dụng để truy cập internet.
15
Khi đã có những bước tiến công nghệ lớn mạnh như vậy, các công ty
công nghệ trên thế giới đã bắt đầu nghĩ đến khả năng áp dụng internet để
làm thương mại, tiếp cận với mọi người một cách nhanh hơn. Điều đó đã
thúc đấy sự ra đời của một số công ty công nghệ có tiếng tăm sau này đó
như Netscape được thành lập năm 1994, 1 năm sau đó Amazon & Ebay
cũng chính thức ra đời.
Salesforce.com ra mắt vào năm 1999 và là trang web đầu tiên cung cấp
các ứng dụng kinh doanh từ một trang web "bình thường" - những gì bây
giờ được gọi là điện toán đám mây.
Bước vào đầu những năm 2000, cùng với những sự phát triển vượt trội
của công nghệ máy tính, điện toán đám mây đã có môi trường thích hợp
để phát triển mạnh mẽ và trong thời gian này đã có những tiêu chuẩn
nhất định được phát triển đó là tính phổ biến cao, băng thông lớn và có
Dự đoán cuối năm 2013 và về sau nữa, trên thế giới sẽ có khảng 1 tỷ
người sử dụng Smart Phone. Đến năm 2015 thị trường máy tính bảng sẽ
thu hút được khoảng 44 triệu người [9].
Điều này đã giúp cho các dịch vụ điện toán đám mây ngày càng phát triển vượt
bậc, mang đến nhiều trải nghiệm mới cho người dùng, kết nối ở khắp mọi nơi và mọi
lúc thông qua môi trường internet.
Sự đóng góp quan trọng nhất của điện toán đám mây tính đến nay đó là sự xuất
hiện của các ứng dụng sát thủ (killer apps) do 2 hãng công nghệ khổng lồ hàng đầu là
Microsoft và Google cung cấp. Khi các công ty này cung cấp dịch vụ một cách đáng
tin cậy, dễ chấp nhận và thúc đẩy hiệu quả cho các ngành công nghiệp dịch vụ trực
tuyến thì cũng là lúc chúng được chấp nhận rộng rãi hơn. Các nhân tố khác cũng rất
quan trọng thúc đẩy rõ rệt sự phát triển của điện toán đám mây bao gồm sự lớn mạnh
của công nghệ ảo hóa, sự phát triển phổ cập của băng thông tốc độ cao và các tiêu
chuẩn phần mềm có tính tương thích toàn cầu.
2.1.3 Đặc điểm:
Điện toán đám mây có sáu đặc điểm chính sau đây:
Truy cập diện rộng: Điện toán đám mây cung cấp các dịch vụ chạy trên
môi trường internet, do vậy khách hàng chỉ cần kết nối được với internet
là có thể sử dụng được các dịch vụ. Các thiết bị truy xuất thông tin
không yêu cầu cấu hình cao như: máy tính xách tay, điện thoại di động
hoặc máy kỹ thuật số… [3]
Độc lập thiết bị và vị trí: cho phép khách hàng truy cập hệ thống từ bất
kỳ nơi nào hoặc bằng bất kỳ thiết bị gì.
Dùng chung tài nguyên: tài nguyên của nhà cung cấp dịch vụ được dùng
chung và phục vụ cho nhiều người dùng dựa trên mô hình “multi-
tenant”. Mô hình này cho phép tài nguyên phần cứng và tài nguyên ảo
hóa sẽ được cấp phát động dựa vào nhu cầu của người dùng, giúp chia
17
những người khác [3].
Lấy nhiệm vụ làm trung tâm: thay vì tập trung vào ứng dụng và những
gì có thể làm thì nó tập trung vào những gì người dùng cần làm và làm
thế nào ứng dụng có thể đáp ứng điều đó cho người dùng như các ứng
dụng xử lý truyền thống như bảng tính excel, email…
18
Điện toán đám mây rất mạnh: nó kết nối hàng trăm hoặc hàng ngàn máy
tính lại với nhau trong một đám mây và tạo ra vô số sức mạnh tính toán
tường chừng như không thể đối với một máy tính để bàn duy nhất.
Tính dễ dàng truy cập: bởi vì dữ liệu được lưu trữ trong các đám mây
nên người dùng ngay lập tức có thể lấy nhiều thông tin từ các kho dữ
liệu mà không bị giới hạn vào một nguồn dữ liệu duy nhất.
Tính thông minh: với tất cả các dữ liệu khác nhau được lưu trữ trên các
máy tính trong một đám mây, việc khai thác dữ liệu và phân tích là rất
cần thiết để truy cập thông tin một cách thông minh.
Tính có thể lập trình: một nhiệm vụ cần thiết với điện toán đám mây là
phải có tính tự động. Ví dụ, để bảo vệ sự toàn vẹn của dữ liệu, thông tin
được lưu trữ trên một máy tính duy nhất trong các đám mây phải được
nhân rộng trên các máy tính khác trong các đám mây. Nếu máy tính đó
offline thì đám mây phải được lập trình tự động để tái phân phối dữ liệu
trong máy tính đó đến một máy tính mới trong các đám mây [3].
2.1.5 Những thuận lợi và khó khăn của điện toán đám mây:
a) Thuận lợi:
Giảm chi phí cho người dùng: đây là một lợi thế tài chính, người dùng không
cần phải bỏ ra chi phí cao để chạy các ứng dụng trên web của điện toán đám mây. Bởi
vì ứng dụng chạy trong các đám mây không giống như chạy trên một máy tính để bàn,
nghệ thông tin vẫn có thể tiết kiệm được chi phí cài đặt và duy trì các chương trình
trên tất cả các máy tính để bàn trong tổ chức. Chi phí của phần mềm có thể ở một số
công ty điện toán đám mây sẽ tính phí cao để cho "thuê" các ứng dụng của họ giống
như mua phần mềm từ những công ty phần mềm truyền thống. Tuy nhiên, dấu hiệu
ban đầu là dịch vụ đám mây sẽ có giá thấp hơn đáng kể hơn so với phần mềm máy
tính để bàn. Trong thực tế, nhiều công ty (chẳng hạn như Google) đang cung cấp các
ứng dụng web miễn phí cho các cá nhân và các tổ chức lớn, nó hấp dẫn hơn nhiều so
với các phần mềm chi phí cao của Microsoft và các nhà cung cấp phần mềm tương tự
cho máy tính để bàn.
Cập nhật phần mềm ngay lập tức: một ưu điểm khác liên quan đến phần mềm
trong điện toán đám mây là người dùng không còn phải đối mặt với sự lựa chọn giữa
các phần mềm đã lỗi thời và các chi phí để nâng cấp nó. Khi ứng dụng chạy trên web,
nó sẽ được cập nhật tự động và có sẵn trong thời gian người dùng đăng nhập vào các
đám mây. Bất cứ khi nào người dùng truy cập vào một ứng dụng web, bạn sẽ nhận
được phiên bản mới nhất mà không cần phải trả tiền hoặc tải về bản nâng cấp.
Tăng khả năng tính toán cho máy tính: đây là một trong những lợi ích rõ ràng
nhất. Khi người dùng kết nối vào một hệ thống điện toán đám mây, họ sẽ có sức mạnh
của toàn bộ các đám mây. Người dùng sẽ không còn bị giới hạn về những gì có thể
làm đối với một máy tính để bàn duy nhất mà bây giờ họ có thể thực hiện các nhiệm
vụ như một siêu máy tính sử dụng sức mạnh của hàng ngàn máy tính và máy chủ. Nói
cách khác, người dùng có thể làm được những việc “to tát” hơn trong các đám mây
ngay trên máy tính để bàn của mình.
20
Không giới hạn không gian lưu trữ: các đám mây cung cấp khả năng lưu trữ
hầu như vô hạn. Khi máy tính để bàn của hoặc máy tính xách tay của người dùng vượt
ra khỏi không gian lưu trữ, ổ cứng 200GB trong máy tính của họ là rất nhỏ so với
hàng trăm petabyte có sẵn trong các đám mây. Bất cứ điều gì người dùng cần lưu trữ,
họ đều có thể.
21
thể truy cập tài liệu của một dự án cùng một lúc, các chỉnh sửa của một trong những
người dùng sẽ được tự động phản ánh và hiển thị cho người dùng khác nhìn thấy trên
màn hình và tất cả những gì người dùng cần chỉ là một máy tính có kết nối Internet.
Tất nhiên, sự hợp tác nhóm dễ dàng hơn đồng nghĩa với việc các dự án nhóm sẽ hoàn
thành nhanh hơn, với sự tham gia đầy đủ từ tất cả mọi người. Nó cũng cho phép các
dự án nhóm trên những vị trí địa lý khác nhau. Không nhất thiết phải là nhóm có cư
trú tại cùng một văn phòng thì mới cho hiệu quả tốt nhất. Với điện toán đám mây, bất
cứ ai ở bất cứ nơi nào đều có thể hợp tác với nhau trong thời gian thực.
Tiếp cận phổ cập tài liệu: chắc hẳn mọi người dùng đã từng gặp những trường
hợp như để quên một tài liệu quan trọng tại văn phòng, làm mất một tài liệu trên
đường hoặc đi dự hội nghị nhưng quen mang theo báo cáo. Với điện toán đám mây,
người dùng sẽ không có một tài liệu nào bị phụ thuộc mà thay vào đó, chúng ở trong
đám mây, nơi người dùng có thể truy cập và lấy từ bất cứ nơi nào có kết nối Internet.
Tất cả các tài liệu đều luôn luôn có sẵn ngay lập tức và từ bất cứ nơi nào người dùng
đang đứng.
Luôn nhận được phiên bản mới nhất: đây là một lợi thế khác liên quan đến tài
liệu trong điện toán đám mây. Trong đám mây luôn luôn lưu trữ phiên bản mới nhất
của các tài liệu và những tài liệu đó sẽ không bao giờ gặp nguy hiểm về việc có một
phiên bản lỗi thời trên máy tính.
Loại bỏ các ràng buộc cho các thiết bị đặc biệt: đây là lợi thế cuối cùng của
điện toán đám mây. Khi người dùng di chuyển từ máy tính sang dùng một thiết bị di
động khác thì các ứng dụng và tài liệu vẫn có sẵn. Người dùng không cần phải mua
thêm một phiên bản đặc biệt của một chương trình nào đó cho một thiết bị cụ thể hoặc
lưu tài liệu của bạn trong một định dạng thiết bị cụ thể [3].
b) Khó khăn:
Đòi hỏi một kết nối Internet liên tục: điện toán đám mây không thể tồn tại nếu
người dùng không thể kết nối với Internet. Bởi vì sử dụng Internet để kết nối với tất cả
cấp cho Microsoft PowerPoint, có rất nhiều người có thể làm việc với PowerPoint trên
máy tính để bàn tốt hơn bạn so với phần mềm được cung cấp trên web của Google.
Các vấn đề cơ bản là giống nhau nhưng các ứng dụng đám mây thiếu nhiều tính năng
tiên tiến của PowerPoint. Vì vậy, đối với một người dùng cao cấp thì có thể không
muốn làm việc với điện toán đám mây. Điều đó nói rằng, nhiều ứng dụng web cần
phải thêm các tính năng tiên tiến hơn theo thời gian. Điều này đúng với 2 trường hợp
là Google Docs và Spreadsheets, cả hai đều bắt đầu hơi tệ nhưng sau đó có thêm rất
nhiều các chức năng thích hợp được tìm thấy trên Microsoft Word và Excel.
Dữ liệu lưu trữ có thể không được an toàn: tất cả các dữ liệu của người dùng
được lưu trữ trên đám mây nhưng làm thế nào để dữ liệu đó được an toàn trong các
đám mây. Hay nói cách khác, những người sử dụng trái phép có thể truy cập vào dữ
liệu bí mật của người dùng hay không? Đây là những câu hỏi quan trọng và cũng là
vấn đề lớn nhất của điện toán đám mây tính đến thời điểm hiện tại.
Nếu các đám mây bị mất, dữ liệu của người dùng cũng sẽ không còn nữa: Về
mặt lý thuyết, dữ liệu được lưu trữ trong các đám mây rất an toàn và được nhân rộng
trên nhiều máy tính. Tuy nhiên, nếu dữ liệu bị mất đi, người dùng sẽ không có một sự
23
dự phòng vật lý nào cả (trừ khi họ có phương pháp tải về tất cả các tài liệu trên đám
mây vào máy tính để bàn riêng) [3].
2.1.6 Các thành phần của điện toán đám mây:
Máy khách (clients): bao gồm phần cứng hoặc phần mềm máy tính, phụ thuộc
vào ứng dụng đám mây để phân phối các ứng dụng hoặc được thiết kế riêng để phân
phối các dịch vụ đám mây. Ví dụ: các thiết bị di động [5].
Dịch vụ (services): bao gồm “sản phẩm, dịch vụ, giải pháp”, là hệ thống phần
mềm được thiết kế để hỗ trợ tương tác giữa các máy trong mạng, dịch vụ này có thể
được truy cập bởi các thành phần của điện toán đám mây khác, các phần mềm hoặc
bởi người dùng cuối.
quan trọng của mình khi sử dụng dịch vụ đám mây [2].
HÌnh 2.1: Đám mây công cộng
Thông thường thì người dùng sẽ lựa chọn đám mây công cộng khi:
Phân bố khối lượng công việc cho các ứng dụng được sử dụng bởi nhiều
người, chẳng hạn như e-mail.
Người dùng cần phải thử nghiệm và phát triển các mã ứng dụng.
Người dùng có các ứng dụng SaaS từ một nhà cung cấp có một chiến
lược an ninh thực hiện tốt.
Người dùng cần tăng công suất làm việc cho máy tính (khả năng bổ
sung năng lực cho máy tính cao hơn nhiều lần).
Người dùng đang thực hiện các dự án hợp tác.
Người dùng đang làm một dự án phát triển phần mềm quảng cáo bằng
cách sử dụng PaaS cung cấp bởi các đám mây [2].