ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM - Pdf 25

1
LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế thế giới đang vận động phát triển không ngừng đòi hỏi từng
quốc gia phải từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới, để giảm khoảng
cách của sự nghèo nàn với các nước tư bản phát triển. Đặc biệt trong những
năm gần đây khu vực Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực kinh tế có thể nói
là năng động nhất trên thế giới. Việt Nam là một quốc gia nằm trong khu
vực này và cũng chịu ảnh hưởng của quy luật phát phát triển.
Trong mỗi một quốc gia thì vốn là không thể thiếu được, nó thúc đẩy nền
kinh tế của quốc gia đó phát triển. Đối với các nước phát triển thì có lượng
vốn vô cùng lớn và rất muốn đầu tư ra nước ngoài bằng cách có thể là đầu tư
trực tiếp và gián tiếp. Còn đối với các nước đang phát triển và các nước kém
phát triển là điêù kiện vô cùng thuận lợi để thu hút vốn đầu tư trong đó có Việt
Nam. Đầu tư là động lực quan trọng để tăng trưởng và phát triển kinh tế xã
hội. Trong đó vốn đầu tư trực tiếp có tầm quan trọng đặc biệt, bởi muốn công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước cần có giải pháp để thu hút vốn.
Thấy rõ tầm quan trọng của vấn đề này, Đảng và nhà nước ta đã ban
hành luật đầu tư nước ngoài vào năm 1987 và qua 3 lần sửa đổi vào các
năm 1990, 1992 và gần đây nhất là năm 1999. Để thực hiện ổn định kinh tế xã
hội tăng GDP, tạo công ăn việc làm cho người lao động và nhiều mục tiêu
khác thì nguồn vốn trong nườc mới chỉ đáp ứng được một nửa, cho nên
cần phải huy động vốn từ nước ngoài mà chủ yếu là vốn đầu tư trực tiếp.
Tuy nhiên từ khi ban hành và thực hiện luật đầu tư đến nay tuy không
phải là thời gian dài song chúng ta đã thu được một số kết quả khả quan.
Những kết quả ban đầu thể hiện là kết quả đúng đắn phù hợp với việc tiếp
nhận đầu tư nước ngoài. Cho đến nay đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt
2
Nam vẫn còn vấn đề mới cần phải được xem xét giải quyết. Do đó việc tìm hiểu
nghiên cứu để có được sự đánh giá về những kết quả đã đạt được tìm ra những
hạn chế khắc phục nhằm tăng cường hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
Việt Nam trong thời gian tới là thực sự cần thiết nhất là sau cuộc khủng hoảng

đầu
tư. Nước tiếp nhận FDI ít phải chịu những điều kiện ràng buộc kèm theo
4
của người cung ứng vốn như của ODA.
Thực hiện liên doanh với nước ngoài, việc bỏ vốn đầu tư của các
doanh nghiệp trong nước có thể giảm được rủi ro về tài chính, trong tình
huống xấu nhất khi gặp rủi ro thì các đối tác nước ngoài sẽ là người
cùng chia sẻ rủi ro với các công ty của nước sở tại.
Do vậy, FDI là hình thức thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước
ngoài tương đối ít rủi ro cho nước tiếp nhận đầu tư .
FDI không đơn thuần chỉ là vốn, mà kèm theo đó là công nghệ, kỹ
thuật, phương thức quản lý tiên tiến, cho phép tạo ra những sản phẩm
mới, mở ra thị trường mới… cho nước tiếp nhận đầu tư .
Đây là điểm hấp dẫn quan trọng của FDI, bởi vì hầu hết các nước
đang phát triển có trình độ khoa học và công nghệ thấp, trong khi phần lớn
những kỹ thuật mới xuất phát chủ yếu từ các nước công nghiệp phát triển,
do đó để rút ngắn khoảng cách và đuổi kịp các nước công nghiệp phát
triển, các nước này rất cần nhanh chóng tiếp cận với các kỹ thuật mới.
Tùy theo hoàn cảnh cụ thể của mình, mỗi nước có cách đi riêng để nâng
cao trình độ công nghệ, nhưng thông qua FDI là cách tiếp cận nhanh,
trực tiếp và thuận lợi. Thực tế đã cho thâý FDI là 1 kênh quan trọng đối
với việc chuyển giao công nghệ cho các nước đang phát triển. Đầu tư
trực tiếp nước ngoài có tác động mạnh đến quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế của nước tiếp nhận, thúc đẩy quá trình này trên nhiều phương
diện: chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu các
thành phần kinh tế, cơ cấu vốn đầu tư, cơ cấu công nghệ, cơ cấu lao
động….
Thông qua tiếp nhận FDI, nước tiễp nhận đầu tư có điều kiện thuận
lợi để gắn kết nền kinh tế trong nước với hệ thống sản xuất, phân phối,
trao đổi quốc tế, thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước này.

nước.
Thực tế đã cho thấy khi thực hiện các dự án liên doanh, các đối
tác nước ngoài đã tranh thủ góp vốn bằng các thiết bị và vật tư đã lạc
hậu, đã qua sử dụng, hoặc nhiều khi đã đến thời hạn thanh lý, gây ra thiệt
hại to lớn cho nền kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư.
Thông qua sức mạnh hơn hẳn về tiềm lực tài chính, sự có mặt của
các doanh nghiệp có vốn nước ngoài gây ra một số ảnh hưởng bất lợi về
kinh tế- xã hội như làm tăng chênh lệch về thu nhập, làm gia tăng sự phân
hóa trong các tầng lớp nhân dân, tăng mức độ chênh lệch phát triển giữa
các vùng.
Với những mặt bất lợi của FDI, nếu có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, đầy
đủ và có các biện pháp phù hợp, nước tiếp nhận FDI có thể hạn chế, giảm
thiểu những tác động tiêu cực này và sử lý hài hòa mối quan hệ của
nhà đầu tư nước ngoài với lợi ích quốc gia để tạo nên lợi ích tổng thể tích
cực.
III. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Xét theo mục đích đầu tư FDI đựơc phân thành 2 loại: đầu tư
theo chiều ngang và đầu tư theo chiều dọc:
-Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo chiều ngang: là việc 1 công
ty tiến hành đầu tư trực tiếp nước ngoài vào chính ngành sản xuất mà họ
đang có lợi thế cạnh tranh. Với lợi thế này họ muốn tìm kiếm lợi nhuận
cao hơn ở nước ngoài.
-Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo chiều dọc: khác với hình
thức đầu tư theo chiều ngang, hình thức đầu tư theo chiều dọc với mục
đích khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên và các yếu tố đầu vào rẻ như
7
lao động, đất đai của nước nhận đầu tư . Đây là hình thức khá phổ biến
của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các nước đang phát triển.
Xét về hình thức sở hữu, đầu tư trực tiếp nước ngoài thường có
các hình thức sau:

ngoài)với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xây dựng kinh doanh công
trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định, hết thời hạn nhà
đầu tư nước ngoài chuyển giao cho nước chủ nhà.
- Hợp đồng xây dựng- chuyển giao- kinh doanh : là phương thức
đầu tư dựa trên văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền
của nước chủ nhà và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh
công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước
ngoài chuyển giao công trình cho nước chủ nhà. Nước chủ nhà có thể
dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn
nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý.
. Hợp đồng xây dựng- chuyển giao (BT) : là một phương thức đầu
tư nước ngoài trên cơ sở văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm
quyền của nước chủ nhà và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công
trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài
chuyển giao công trình đó cho nước chủ nhà. Chính phủ nước chủ nhà
tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi
vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý.
IV.Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Ôn định chính trị: đây là yếu tố hấp dẫn hàng đầu đối với nhà đầu tư
nước ngoài, vì có ổn định chính trị thì các cam kết của chính phủ nước
9
chủ nhà đối với các nhà đầu tư về sở hữu vốn đầu tư, các chính sách ưu
tiên, định hướng phát triển mới được đảm bảo. Đây là những vấn đề có
thể nói là được nhà đầu tư quan tâm nhất vì nó tác động rất mạnh đến yếu
tố rủi ro trong đầu tư. Nếu nước chủ nhà có một hệ thống chính sách đầy
đủ và hợp lý, đảm bảo sự nhất quán về chủ trương thu hút đầu tư cũng
sẽ là những yếu tố quan trọng, hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài.
Về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên: đó là đặc điểm khí hậu,
tài nguyên thiên nhiên, dân số, vị trí địa lý gần… Đây cũng là những yếu
tố tác động nhiều đến tính sinh lãi hoặc rủi ro trong đầu tư.

giới thực chất diễn ra trào lưu cạnh tranh quyết liệt trong việc thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài.
Sở dĩ hầu hết các nước đang phát triển có nhu cầu lớn về đầu tư trực
tiếp nước ngoài là vì những lý do sau:
Thứ nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài có khả năng giải quyết có
hiệu quảnhững khó khăn về vốn cho công nghiệp hoá.Đối với các nước nghèo,
vốn đuợc xem là yếu tố cơ bản,là điều kiện khởi đầu quan trọng để thoát khỏi
đói nghèo và phát triển kinh tế. Thế nhưng, đã là nước nghèo thì khả năng tích
luỹ vốn hay huy động vốn trong nước để tập trung cho các mục tiêu cần ưu tiên
là rất khó khăn, thị trường vốn trong nước lại chưa phát triển. Trong điều kiện
của thời kỳ đầu tiến hành công nghiệp hoá, nhìn chung các nước đang phát
triển đều gặp rất nhiều khó khăn: mức sống thấp, khả năng tích luỹ thấp, cơ sở
hạ tầng chưa phát triển, công nghệ kỹ thuật chưa phát triển, mức đầu tư thấp
nên kém hiệu quả, ít có điều kiện để xâm nhập, mở rộng hợp tác kinh tế quốc
tế, thiếu khả năng tiếp cận với khoa học kỹ thuật tiên tiến của thế giới…
Giải pháp của các nước đang phát triển lúc này là tìm đến với các nguồn
đầu tư quốc tế. Nhưng trong số các nguồn đầu tư quốc tế thì vốn viện trợ tuy có
được một số vốn ưu đãi nhưng lại đi kèm với một số ràng buộc về chính trị, xã
hội, thậm chí cả về quân sự. Còn vốn vay thì thủ tục vừa khắt khe mà lại phải
chịu lãi xuất cao. Nguồn vốn đuợc đánh giá có hiệu quả nhất đối với giai đoạn
đầu tiến hành công nghiệp hoá của các nước đang phát triển là vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài. Khi nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư cũng đồng thời họ hoàn toàn chịu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status