ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Nguyễn Công Thuận
ĐỊA TẦNG PALEOZOI TRUNG - THƢỢNG
VÙNG HẠ LANG, MỐI QUAN HỆ VỚI CẤU
TRÚC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN
MANGAN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA CHẤT
Hà Nội - 2012
Hà Nội - 2012
ii
MỤC LỤC
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
i
Lời cam đoan
ii
Mục lục
iii
Danh mục các chữ viết tắt và ký hiệu.
v
Danh mục các bảng
vi
Danh mục các hình vẽ
vii
Danh mục ảnh minh họa
x
MỞ ĐẦU
3
Chƣơng 1. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA
CHẤT VÙNG HẠ LANG
9
1.1. Khái quát lịch sử nghiên cứu
9
1.2. Đặc điểm địa chất vùng Hạ Lang
12
1
nn)
54
Hệ tầng Mia Lé (D
1
ml)
63
Loạt Bản Páp
67
Hệ tầng Nà Quản (D
1
-D
2
e nq)
68
Hệ tầng Bản Cỏng (D
2
gv bcg)
78
Hệ tầng Nà Đắng (D
2
gv-D
3
fr nd)
83
Loạt Trùng Khánh
89
Hệ tầng Bằng Ca (D
3
fr bc)
5.4. Đặc điểm cấu trúc chứa quặng và ảnh hƣởng của cấu trúc đến việc đánh
giá tiềm năng quặng mangan
126
5.5. Hiện trạng tiềm năng mangan trong diện tích nghiên cứu
127
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
129
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN
131
TÀI LIỆU THAM KHẢO
133
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
TK.827
Ký hiệu và số hiệu điểm khảo sát của tác giả.
C.1629
Ký hiệu và số hiệu điểm khảo sát thu thập từ tài liệu Bản đồ địa
chất tỷ lệ 1:200.000 tờ Chinh Si - Long Tân.
H.3-BK
Hào và số hiệu hào, tên vùng: BK - Bản Khuông, NC- Nộc Cu,
BO- Búng Ổ.
DS.1-BMc
Công trình dọn sạch vỉa lộ và số hiệu, tên vùng: BMc- Bản Mặc,
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Chƣơng 1.
KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA
CHẤT VÙNG HẠ LANG
9
Bảng 1.1.
Các phân vị địa tầng Paleozoi ở Bắc Bắc Bộ
13
Bảng 1.2.
Các phân vị địa tầng Paleozoi ở Bắc Bộ
14
Chƣơng 4
ĐỊA TẦNG PALEOZOI TRUNG - THƢỢNG VÀ ĐẶC
vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Trang
Mở đầu
3
Hình 1
Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu
4
Chƣơng 1
KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA
CHẤT VÙNG HẠ LANG
9
Hình 1.1.
Sơ đồ địa chất vùng Hạ Lang
17
Hình 1.2.
Sơ đồ vị trí kiến tạo khu vực nghiên cứu
20
Chƣơng 3
ĐẶC ĐIỂM ĐỨT GÃY, UỐN NẾP VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA
CHÚNG TỚI CÁC THÀNH TẠO TRẦM TÍCH VÙNG HẠ
LANG
29
Hình 3.1.
Sơ đồ cấu trúc kiến tạo vùng Hạ Lang
30
Quan hệ chuyển tiếp từ bột kết hệ tầng Mia Lé lên đá vôi hệ tầng
Nà Quản, điểm khảo sát TK.372 vùng Thắng Lợi
56
Hình 4.8
Quan hệ chuyển tiếp từ bột kết xen đá phiến sét hệ tầng Mia Lé lên
đá vôi màu đen hệ tầng Nà Quản, tại điểm khảo sát TK.2781 vùng
Đức Quang
56
vii
Hình 4.9
Quan hệ chuyển tiếp từ bột kết hệ tầng Mia Lé lên đá vôi hệ tầng
Nà Quản, điểm khảo sát TK.4022 vùng Pò Tấu
56
Hình 4.10
Liên hệ các cột địa tầng trầm tích hệ tầng Nà Quản, Bản Cỏng, Nà
Đắng vùng Hạ Lang
70
Hình 4.11
Mặt cắt địa chất Nà Quản - Bằng Ca - Bản Thoang
70
Hình 4.12
Mặt cắt địa chất Nà Rƣờng
70
Hình 4.13
Mặt cắt địa chất Mốc 43 - Bản Lung
70
Hình 4.14
Mặt cắt địa chất Lũng Hoài - Sa Tao
70
Mặt cắt địa chất Đèo Khau Liêu
91
Hình 4.23
Mặt cắt địa chất Đèo Kang Ka
91
Hình 4.24
Mặt cắt địa chất Lũng Ngọc - Sông Bắc Võng
91
Hình 4.25
Mặt cắt địa chất Búng Ổ
91`
Hình 4.26
Mặt cắt địa chất khu vực Nộc Cu
91
Hình 4.27
Quan hệ chuyển tiếp từ đá sét silic chứa vỉa mỏng quặng mangan
91
viii
hệ tầng Bằng Ca lên đá vôi phân dải hệ tầng Tốc Tát, tại điểm
khảo sát TK.1222+90m
Hình 4.28
Quan hệ chuyển tiếp từ đá vôi phân dải hệ tầng Tốc Tát, tập 2 lên
hệ tầng Lũng Nậm, tập 1: silic, sét silic chứa vỉa quặng, lớp mỏng
thấu kính mangan chuyển lên tập 2: Đá vôi xen silic, ổ silic và hóa
thạch Endothyra sp.; Spinosprunsia sp. tại điểm khảo sát
TK.244/1.
91
Hình 4.29
Quan hệ chuyển tiếp từ đá vôi sét, đá vôi silic, đá vôi phân dải
ĐẶC ĐIỂM, VỊ TRÍ ĐỊA TẦNG CHỨA QUẶNG MANGAN
121
Hình 5.1
Thân quặng mangan trong đá silic sét thuộc hệ tầng Bằng Ca vùng
Bản Mặc
122
Hình 5.2
Vỉa quặng mangan trong đá vôi hệ tầng Tốc Tát, tập 2, vùng Mã
Phục
122
Hình 5.3
Quặng mangan trong đá silic hệ tầng Lũng Nậm , tại Rọng Tháy
122
ix
DANH MỤC ẢNH MINH HỌA
Trang
Chƣơng 3
ĐẶC ĐIỂM ĐỨT GÃY, UỐN NẾP VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA
CHÚNG TỚI CÁC THÀNH TẠO TRẦM TÍCH VÙNG HẠ LANG
29
Ảnh 3.1
Một phần của đới trƣợt của đứt gãy chờm nghịch nằm gần ranh giới
giữa các đá phiến và quaczit thuộc hệ tầng Thần Sa và đá thuộc hệ
tầng Nà Ngần tại điểm khảo sát TK.6514, vùng Hạ Lang.
31
Nếp uốn có góc liên cánh hẹp, kiểu tƣơng tự thế hệ 3 (U3) trong đá
vôi phân dải chứa mangan của hệ tầng Tốc Tát tại vùng Lũng
Luông. Điểm khảo sát TK. 6522.
34
Ảnh 3.8
Hình thái của địa hình vòm tạo bởi sự giao thoa của các nếp uốn thế
hệ thứ 4 (U4) và thứ 5 (U5) trong đá vôi, tại điểm khảo sát TK.6520,
phía đông thị trấn Trùng Khánh.
35
Ảnh 3.9
Cấu tạo phiến S
2
đi cùng sự uốn nếp ở của một nếp uốn nằm, đẳng
cánh thế hệ 2 (U2) tại điểm khảo sát TK.6515, vùng An Lạc.
36
Ảnh 3.10
Phần vòm của một nếp uốn nằm, đẳng cánh thế hệ 2 (U2) tại điểm
khảo sát TK.6502, đông bắc Bản Củn.
36
Ảnh 3.11
Nếp uốn đẳng cánh thế hệ 2 (U
2
) trong đá silic vôi chứa mangan của
36
x
hệ tầng Tốc Tát tại điểm khảo sát TK.6522, vùng Lũng Luông.
Ảnh 3.12
Một nếp lõm lớn thuộc thế hệ 3 (U3) trong đá vôi hệ tầng Nà Đắng
quan sát đƣợc ở đông bắc huyện Trùng Khánh.
Dƣới, hai nicon, phóng đại 90 lần.
58
Ảnh 4.2
Cuội sạn kết màu tím hệ tầng Nà Ngần (D
1
nn) nằm không chỉnh hợp
trên đá sét kết bị ép, biến chất yếu màu xám xanh hệ tầng Thần Sa,
tập 2 (
3
ts
2
), tại điểm khảo sát TK.360/5, mặt cắt Lũng Mán, vùng
An Lạc.
60
Ảnh 4.3
Các lớp đá vôi ở đáy hệ tầng Mia Lé (D
1
ml), mặt cắt Khuổi Tẩu, tại
điểm khảo sát TK.944/2.
64
Bản ảnh
4.4
Hoá thạch hệ tầng Mia Lé: A- Euryspirifer tonkinensis, thu thập tại
điểm khảo sát TK.115 vùng Nà Vƣờng; B- Acrospirife cf.
howershaensis, thu thập tại điểm khảo sát TK.4579 vùng Phi Hải
(phóng đại 1,5 lần).
67
Ảnh 4.5
Đá vôi sét phân lớp mỏng đến trung bình hệ tầng Nà Quản, tại điểm
77
87
Ảnh 4.10
Quan hệ chuyển tiếp giữa đá silic chứa vỉa mỏng quặng mangan
thuộc hệ tầng Bằng Ca (D
3
frbc) lên đá vôi phân dải thuộc hệ tầng
Tốc Tát (D
3
-C
1
ttt), tại điểm khảo sát TK.1222+90m, mặt cắt Nà
Quản - Bằng Ca - Bản Thoang, vùng Bằng Ca.
92
Ảnh 4.11
Đá silic phân dải màu xám đen hệ tầng Bằng Ca (D
3
frbc), tại điểm
khảo sát TK.826/3, tại mặt cắt Đèo Khau Liêu, vùng Bản Khuông.
93
Ảnh 4.12
Quan hệ chuyển tiếp từ đá vôi phân lớp mỏng thuộc hệ tầng Tốc
Tát, tập 2 (D
3
-C
1
ttt
2
) và đá silic thuộc hệ tầng Lũng Nậm, tập 1
(C
1
ln
1
), tại điểm khảo sát TK.764 trong mặt cắt Lũng
Ngọc-Sông Bắc Võng, vùng Trà Lĩnh.
Ảnh 4.16
Lm.TK.172, đá vôi trứng cá hệ tầng Đồng Đăng, kiến trúc vi hạt, hạt
nhỏ, cấu tạo trứng cá. Một nicon, phóng đại 24 lần.
111
Chƣơng 5
ĐẶC ĐIỂM, VỊ TRÍ ĐỊA TẦNG CHỨA QUẶNG MANGAN
121
Ảnh 5.1
Vỉa quặng mangan trong đá sét silic, hệ tầng Bằng Ca tại dọn sạch 1
Bản Mặc, vùng Trà Lĩnh
123
Ảnh 5.2
Vỉa quặng mangan trong đá vôi, hệ tầng Tốc Tát, tập 2, vùng Tốc
Tát.
123
Ảnh 5.3
Quặng mangan trong đá silic sét hệ tầng Lũng Nậm tập 1, Nộc Cu,
ở bản Khả Mong.
123
3
MỞ ĐẦU
Vùng Hạ Lang thuộc các tờ bản đồ 1:50.000 F-48-45-B, D, F-48-46 A, C, D
chiếm diện tích hơn 1400km
đến Tournais (D
1
em - C
1
t), là khoảng địa tầng chủ yếu bao gồm các trầm tích
carbonat và silic, trong đó có chứa các vỉa quặng mangan công nghiệp.
4
Vì những lý do nêu trên, việc rà soát lại nội dung và khối lƣợng các phân vị
địa tầng trong khoảng Devon - Permi, có tính đến ảnh hƣởng của các biến dạng là
việc làm cần thiết. Chỉ có xác lập chính xác trình tự và nội dung các phân vị địa
tầng mới tạo đƣợc tiền đề địa tầng cần thiết cho công tác tìm kiếm khoáng sản trong
vùng, cũng nhƣ cho các nghiên cứu khác về cấu trúc - kiến tạo v.v Đó là cơ sở để
nghiên cứu sinh chọn đề tài luận án có tên “Địa tầng Paleozoi trung - thượng vùng
Hạ Lang, mối quan hệ với cấu trúc địa chất và khoáng sản mangan”.
Tính cấp thiết của đề tài: Xuất phát từ những yêu cầu của công tác nghiên
cứu địa chất nhƣ đã nêu trên, vùng Hạ Lang có tiềm năng lớn về khoáng sản
mangan nhƣng đã trải qua thời gian dài và bị ảnh hƣởng mạnh mẽ bởi các chuyển
động kiến tạo sau này đã làm cho các đá bị uốn nếp, giập vỡ, đôi khi mất hẳn một
đoạn các phân vị địa tầng. Việc nghiên cứu phân chia địa tầng trong khu vực mới
chỉ đƣợc thực hiện bởi các đề tài nhỏ lẻ và các công trình sản xuất. Các công trình
đó đã góp nhiều những thành tựu lớn về nghiên cứu địa chất trong vùng nhƣng còn
nhiều vấn đề bất ổn trong luận giải các vấn đề địa chất thực tế.
Việc phân chia các trầm tích Devon trong vùng qua nhiều giai đoạn khác
nhau chƣa thống nhất. Do đó nghiên cứu và phân chia các phân vị địa tầng đúng sẽ
giúp cho việc lập lại lịch sử địa chất và luận giải các quá trình hoạt động magma,
kiến tạo hợp lý. Đồng thời cũng là cơ sở để tìm kiếm các loại khoáng sản liên quan.
Trong các công trình sản xuất việc phân chia các thành tạo tuổi Devon rất sơ
lƣợc. Công tác nghiên cứu của các đề tài chỉ trong khu vực nhỏ nên áp dụng cho
nghiên cứu chung còn có những khó khăn và có phần chƣa phù hợp.
(D
2
gv bcg); Nà Đắng (D
2
gv-D
3
fr nd); Bằng Ca (D
3
fr bc); Tốc Tát (D
3
-C
1
tt); Lũng
Nậm (C
1
ln); Bắc Sơn (C-P
2
bs) và Đồng Đăng (P
3
dd). Trong đó xác lập mới hệ
tầng Nà Đắng, khôi phục 2 hệ tầng Nà Ngần và Bản Cỏng.
3. Quặng mangan trong vùng Hạ Lang đƣợc hình thành liên quan chặt chẽ với 3
mức địa tầng Frasni, Famen và Tournais. Chúng phân bố trong một số cấu trúc nếp
lõm và phức nếp lõm trong vùng.
Các điểm mới của luận án
1. Đã xây dựng cơ sở khoa học để xác lập mới hệ tầng Nà Đắng.
2. Chứng minh hệ tầng Bản Cỏng tuổi Givet và có vị trí địa tầng giữa hệ tầng Nà
Quản và Nà Đắng.
3. Chứng minh phần thấp nhất của hệ tầng Tốc Tát có tuổi Frasni.
4. Thành lập 3 sơ đồ tƣớng đá - cổ địa lý ứng với 3 thời kỳ thành tạo các trầm
Chương 5. Đặc điểm và vị trí địa tầng quặng mangan.
Luận án gồm 127 trang đánh máy, 5 bảng, 35 ảnh và 43 hình vẽ minh họa, 66 tài
liệu tham khảo. 7
Luận án đƣợc hoàn thành tại Khoa địa chất - trƣờng Đại học Khoa học - Tự
nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội dƣới sự hƣớng dẫn của PGS.TS. Tạ Hòa Phƣơng
và PGS.TS. Nguyễn Văn Vƣợng, tác giả xin chân thành cảm ơn. Tác giả cũng chân
thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thế hệ lãnh đạo của Liên đoàn Bản đồ Địa chất
miền Bắc đã tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành luận án.
Tác giả xin chân thành cảm ơn GS.TSKH. Tống Duy Thanh, GS.TS. Trần
Nghi, TS. Đoàn Nhật Trƣởng, TS. Nguyễn Thùy Dƣơng,… đã giúp đỡ tác giả hoàn
thành luận án này.
Tác giả cũng xin cảm ơn sự quan tâm và giúp đỡ nhiều mặt của bạn bè,
ngƣời thân và đồng nghiệp gần xa.
Stringocephalus, đá phiến phân tấm mỏng ở phía đông Bằng Ca, “đá vôi vân đỏ”
tuy chƣa tìm thấy hoá thạch nhƣng ông đã coi là phần kết thúc của hệ Devon, sự
phân chia này của ông đã đƣợc nhiều công trình sau này kế thừa và cũng là cơ sở để
phân chia các phân vị thạch địa tầng hiện nay. Tuy nhiên do chƣa phát hiện hoá
thạch và quan hệ địa tầng đầy đủ nên ông đã gộp vào "seri" Bồng Sơn các đá thuộc
các mức tầng khác nhau và có quan hệ bất chỉnh hợp mà sau này đã đƣợc chứng
9
minh. Cũng nhƣ vậy đối với "seri" Hạ Lang ông cũng đã ghép cả đá phiến silic vào
với đá vôi, trong khi đó ở vùng Bằng Ca ông lại tách riêng.
Mansuy H. (1908) [65] đã sƣu tập nhiều hóa thạch nhƣ Rugosa: Zaphrentis
sp., Omphyma?, Cyathophyllum sp., Calceola sineneis sp.nov., Calceola sp., Động
vật dạng rêu: Fenestellidae; Tay cuộn Schellwienella lantenoisi, trên đƣờng từ Bản
Giốc đến Bằng Ca (Ban-Cra). Các hóa thạch đó tƣơng đối đặc trƣng cho tuổi
Devon.
Tiếp theo, các tác giả bản đồ địa chất tỷ lệ 1/500.000 phần Miền Bắc do
Đovjikov A.E. và nnk. (1965) [2] thành lập đã khẳng định thêm sự có mặt của các
trầm tích Devon. Cụ thể:
- Các trầm tích Devon hạ? - Eifel (gồm “điệp Bồng Sơn”).
- Các trầm tích Eifel.
- Các trầm tích Eifel-Givet.
Nhƣ vậy, các tác giả Bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam đã sử dụng chủ yếu
thang thời gian địa tầng trong phân chia các thành tạo Devon ở Đông Bắc Bắc Bộ,
trong đó có đới-tƣớng cấu trúc Hạ Lang. Các tác giản nhìn chung đã định tuổi các
phân vị địa tầng trẻ hơn tuổi thực của chúng, đƣợc chính xác hóa trong các công
trình nghiên cứu về sau. Trong các tầng đá vôi vân đỏ và đá phiến silic rất phổ biến
tại vùng Trùng Khánh chƣa phát hiện đƣợc hóa thạch định tuổi. Đáng lƣu ý là
Vaxilevxkaia E.D. (trong Đovjikov A.E và nnk 1965) [2] đã xác lập hệ tầng Bản
Cỏng gồm chủ yếu là các đá vôi màu xám sang và xám tro, hạt mịn, rất đặc trƣng
cho vùng này. Tuy nhiên, bà có nhầm lẫn khi xếp vào hệ tầng Bản Cỏng cả một số
còn phát hiện thêm nhiều điểm hoá thạch giúp cho việc phân chia địa tầng chính xác
hoá hơn về tuổi và khối lƣợng địa tầng của một số phân vị. Đáng chú ý là đã xác lập
điệp Nà Ngần (D
1
nn) đƣợc coi là bắt đầu hệ Devon trong vùng và có quan hệ không
chỉnh hợp với các đá của tuổi Cambri muộn; xác lập điệp Tốc Tát (D
3
frtt) đặc trƣng
là đá vôi vân đỏ và phần cao chứa vỉa mangan công nghiệp, và đã xác nhận trầm
tích hệ Devon liên tục từ Devon hạ tới Devon muộn. Trong Paleozoi thƣợng các tác
giả đã xác nhận hai phân vị là các trầm tích liên tục từ Carbon hạ đến Permi hạ và
trầm tích Permi thƣợng với quan hệ không chỉnh hợp. Trong quá trình đo vẽ các tác
giả đã xây dựng nhiều mặt cắt chuẩn cho các hệ tầng nhƣ Nà Quản, Tốc Tát, Sông
Hiến. Tuy nhiên do tài liệu cổ sinh có hạn, nên việc xếp tuổi còn có những phân vị
chƣa đƣợc hợp lý nhƣ tầng silic lục nguyên là hợp phần của các trầm tích Devon
muộn - Carbon sớm chứa mangan xếp vào tuổi Givet (D
2
gv). Hệ tầng Bằng Ca tuổi
Frasni và đƣợc vẽ chuyển tƣớng ngang với đá vôi Givet có chứa hoá thạch
Stringocephalus, yếu tố Famen trong điệp Tốc Tát chƣa đƣợc phát hiện. Các đá vôi
11
xám trắng chứa hoá thạch Stringocephalus thuộc hệ tầng Bản Cỏng lại đƣợc xếp
vào hệ tầng Bằng Ca và ghép cùng với tầng đá silic tuổi Givet vào hệ tầng Bằng Ca
là chƣa thật sự hợp lý. Quan hệ giữa trầm tích Devon và Carbon là quan hệ không
chỉnh hợp và vắng mặt bậc Famen. Trong đo vẽ bản đồ còn có sự nhầm lẫn giữa 2
loại đá lục nguyên silic có tuổi khác nhau ở phía đông bắc Trùng Khánh (thực chất
thuộc Devon muộn và Carbon sớm) song lại xếp vào hệ tầng Bằng Ca có tuổi
Givet Đồng thời ông cũng chƣa ghi nhận sự chuyển tiếp liên tục từ Devon lên các
trầm tích tuổi Carbon trong vùng.
Trong công trình tổng hợp về địa tầng Việt Nam, Vũ Khúc và Bùi Phú Mỹ
(1989) [14] đã mô tả các phân vị địa tầng Paleozoi, phần liên quan đến Devon ở
vùng Trùng Khánh đƣợc trích dẫn trong Bảng 3.1. Theo sơ đồ này có thể thấy, tại
vùng Trùng Khánh, phần thấp của Devon thuộc về “điệp” (= hệ tầng) Bắc Bun (theo
quan niệm của Hoàng Xuân Tình, 1976 [44], tƣơng ứng khối lƣợng 2 “điệp” Si Ka
12
và Bắc Bun gộp lại). Điều này đã đƣợc Tống Duy Thanh và nnk (1986) [34] nhận
xét là không phù hợp với thể thức của công tác địa tầng, phân vị gộp không đƣợc
mang tên một trong 2 phân vị hợp thành. Nằm trên “điệp” (= hệ tầng) Bắc Bun lần
lƣợt là các “điệp” Bản Páp và Tốc Tát của Devon trung và thƣợng. Cần lƣu ý, hệ
tầng Tốc Tát theo quan niệm của các tác giả bao gồm cả tầng đá phiến silic- lục
nguyên ở bên dƣới, vẫn đƣợc coi thuộc hệ tầng Bằng Ca (Bảng 1.1) [14].
Bảng 1.1. Các phân vị địa tầng Paleozoi ở Bắc Bắc Bộ
(Theo Vũ Khúc, Bùi Phú Mỹ, 1989 [14], phần liên quan đên Devon - Permi ở vùng Hạ Lang)
Thống
Hệ tầng, Điệp
Permi thƣợng
Hệ tầng Đồng Đăng
Carbon hạ - Permi trung
Hệ tầng Bắc Sơn
Devon thƣợng
Điệp Tốc Tát
Devon trung
Điệp Bản Páp
Devon hạ
Điệp Mia Lé
Điệp Bắc Bun
Cambri thƣợng-Ordovic
D
3
Tốc Tát Bản
Bằng Ca Cỏng
D
2
Bản Páp
D
1
Lƣợc Khiêu
Sông Cầu
Bắc Bun
Si Ka
CAMBRI
2-3
Thần Sa
1.1.2. Về cấu trúc kiến tạo
Đầu thế kỷ XX, các nhà địa chất Pháp [62, 64] đã nhận ra những biến dạng
của các tấm phủ chớm dƣới tên gọi các mảng địa di. Những năm 1950 trở lại đây
vùng nghiên cứu đƣợc nghiên cứu có hệ thống hơn đã phác họa đƣợc những nét cấu
tạo lớn của khu vực. Nói chung nhiều tác giả vẫn kế thừa quan điểm phân chia của
các tác giả Bản đồ địa miền Bắc Việt Nam, tỷ lệ 1:500.000 [2]. Trong bản đồ địa
chất tỷ lệ 1:200.000 [20] các tác giả đã thể hiện đứt gãy chờm nghịch Trùng Khánh
- Nộc Cu hoàn toàn phù hợp với kết quả đo vẽ hiện nay. Nhƣng thực tế cho thấy các
Hát Pan, Nộc Cu.
Từ năm 1990 đến 1994 Liên đoàn Địa chất Đông Bắc tìm kiếm đánh giá
mangan khu Bản Khuông tỷ lệ 1:5000 và tìm kiếm lập sơ đồ 1:25.000 các vùng lân
cận. Đặc biệt vào những năm 1989 đến 1991 nhân dân địa phƣơng đã ào ạt khai thác
mangan (chủ yếu là quặng lăn và các đầu lộ vỉa). Quặng khai thác đƣợc công ty
mangan Cao Bằng thu mua và chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc, một số đƣợc dân
khai thác tự do và bán trực tiếp qua biên giới (lƣợng tài nguyên khai thác không đƣợc
xác định). Từ năm 2000 đến 2004 Đoàn 913 thuộc Liên đoàn Địa chất Đông Bắc tiến
hành tìm kiếm đánh giá và thăm dò tại các khu Mã Phục, Lũng Riếc, Nộc Cu, Hát