i
MỐI QUAN HỆ GIỮA
CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ RỦI RO TRONG
HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VIỆT NAM
Mã số: …………….
i
TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
Lí do chọn đề tài
Một trong những nguyên nhân sâu xa của thực trạng bất ổn trong hệ thống NHTM Việt
Nam hiện này là do cấu trúc sở hữu khác nhau. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi đã lựa
chọn đề tài cho công trình của mình là: “Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu vốn và rủi
ro của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam”.
Mục tiêu nghiên cứu
Lƣợc khảo nền tảng lý thuyết về cấu trúc sở hữu, rủi ro và mối quan hệ giữa hai nhân tố
này; phân tích hoạt động của ngành NH trong thời gian vừa qua; kiểm định mối quan hệ
giữa cấu trúc vốn và rủi ro; đề xuất một số kiến nghị cho hệ thống NHTM Việt Nam.
Phƣơng pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp tổng hợp, so sánh; phƣơng pháp thống kê mô tả; phƣơng pháp kiểm tra định
lƣợng. Dữ liệu đƣợc lấy từ dữ liệu vĩ mô của nền kinh tế và dữ liệu nội tại của 11 NHTM
trong đó bao gồm 4 NHTMNN và 7 NHTMCP trong giai đoạn 2007 - 2012
Nội dung nghiên cứu
- Chƣơng 1: Giới thiệu tổng quan về công trình nghiên cứu.
- Chƣơng 2: Khung lý thuyết về cấu trúc sở hữu và rủi ro của ngân hàng thƣơng
mại.
- Chƣơng 3: Tổng quan về cấu trúc sở hữu và rủi ro của các NHTM Việt Nam
2.2.4 Các nghiên cứu về rủi ro tín dụng của ngân hàng 17
2.3 Rủi ro mất khả năng thanh toán của ngân hàng 18
2.3.1 Khái niệm rủi ro mất khả năng thanh toán 19
2.3.2 Nguyên nhân của rủi ro mất khả năng thanh toán 19
iii
2.3.3 Ảnh hƣởng của rủi ro mất khả năng thanh toán 21
2.3.4 Các nghiên cứu về rủi ro mất khả năng thanh toán trƣớc đây 21
2.4 Tổng quan các bài nghiên cứu trƣớc đây về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và
rủi ro của ngân hàng 22
Kết luận chƣơng 2 26
3. TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ RỦI RO CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƢƠNG MẠI VIỆT NAM 27
3.1 Thực trạng hoạt động của ngân hàng thƣơng mại Việt Nam 27
3.1.1 Hoạt động huy động vốn 28
3.1.2 Hoạt động cho vay 29
3.1.3 Diễn biến lãi suất 31
3.1.4 Năng lực tài chính 31
3.2 Thực trạng cấu trúc sở hữu ngân hàng thƣơng mại Việt Nam 33
3.3 Thực trạng về rủi ro tín dụng và rủi ro mất khả năng thanh toán của ngân hàng
thƣơng mại Việt Nam 40
3.3.1 Rủi ro tín dụng 40
3.3.2 Rủi ro mất khả năng thanh toán 43
Kết luận chƣơng 3 46
4. NGHIÊN CỨU VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ RỦI RO
CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VIỆT NAM 47
4.1 Phƣơng pháp nghiên cứu 47
4.1.1 Mô hình tác động cố định (Fixed effects model) 48
4.1.2 Mô hình tác động ngẫu nhiên (Random effects model) 49
4.1.3 Kiểm định lựa chọn mô hình 50 Viết tắt
Tên đầy đủ
MCLR
Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến cổ điển
FEM
Mô hình tác động cố định
REM
Mô hình tác động ngẫu nhiên
LSDV
Ƣớc lƣợng hồi quy biến giả tối thiểu
SDROA
Độ lệch chuẩn ROA
NHTM
Ngân hàng thƣơng mại
NHTMNN
Ngân hàng thƣơng mại nhà nƣớc
NHTMCP
Ngân hàng thƣơng mại cổ phần
TCTD
Tổ chức tín dụng
BĐS
Bất động sản
NHNN
Ngân hàng nhà nƣớc
ĐBSCL
1. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong nền kinh tế Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung, ngành ngân hàng đóng một
vai trò rất quan trọng trong việc dẫn vốn cho nền kinh tế. Một hệ thống ngân hàng khỏe
mạnh sẽ góp phần giúp nền kinh tế phát triển, và ngƣợc lại hệ thống ngân hàng suy yếu
sẽ ảnh hƣởng đến toàn bộ nền kinh tế. Thực tế điều này đã đƣợc kiểm chứng ở cuộc
khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2007 - 2008 vừa qua, với sự sụp đổ tín dụng ở Mỹ
cùng với sự phá sản của những tập đoàn, công ty lớn trong ngành ngân hàng nhƣ Lehman
Brothers, Merrill Lynch. Hậu quả tất yếu của điều này đã đẩy toàn bộ nền kinh tế rơi vào
thảm cảnh ảm đạm. Do vậy việc đảm bảo tính an toàn và ổn định hệ thống ngân hàng
đóng vai trò hàng đầu trong chính sách của mỗi quốc gia đặc biệt trong giai đoạn hậu
khủng hoảng hiện nay.
Việt Nam là một trong những quốc gia có nền kinh tế mới nổi và chịu ảnh hƣởng nặng nề
của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đặc biệt là hoạt động ngân hàng. Thực trạng hiện
nay của hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn còn rất nhiều bất ổn, đặc biệt là tỷ lệ nợ xấu
vẫn còn chiếm tỷ trọng tƣơng đối cao. Thật vậy, tháng 9/2012, trên tạp chí Wall Street,
Barclays - tập đoàn ngân hàng lớn của nƣớc Anh nhận định rằng tỷ lệ nợ xấu Việt Nam
đã ở mức 20%, tƣơng đƣơng con số 16 tỷ USD (nguồn: tapchitaichinh.vn, ngày
18/06/2012), ngoài ra trong hệ thống còn tồn tại rủi ro mất khả năng thanh toán của các
ngân hàng nhỏ đang hoạt động yếu kém. Một trong những nguyên nhân sâu xa của thực
trạng trên là vấn đề sở hữu chéo tràn lan ở giữa các ngân hàng với nhau và việc ảnh
hƣởng từ các cấu trúc vốn khác nhau. Vậy câu hỏi đƣợc đặt ra là làm thế nào để hệ thống
ngân hàng Việt Nam luôn đảm bảo đƣợc tính ổn định và hạn chế đƣợc các vấn đề rủi ro
một cách tốt nhất trong bối cảnh hội nhập kinh tế.
Xuất phát từ thực tế trên về hoạt động của hệ thống ngân hàng thƣơng mại Việt Nam, đề
tài nghiên cứu đƣợc lựa chọn là: “Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro của các
ngân hàng thƣơng mại Việt Nam”. Đề tài sử dụng mô hình cấu trúc sở hữu vốn để tiến
2
hành nghiên cứu cho các ngân hàng thƣơng mại ở Việt Nam, từ đó đƣa ra các đề xuất về
cá nhân và cổ đông là tổ chức trong nƣớc. Để nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu
trúc sở hữu và hành vi chấp nhận rủi ro ở các ngân hàng, đề tài đo lƣờng tác động
của cấu trúc sở hữu đến hai biến rủi ro là rủi ro tín dụng thông qua tỷ lệ nợ xấu và
rủi ro mất khả năng thanh toán thông qua hệ số Z-score.
1.4 Phạm vi nghiên cứu và dữ liệu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào NHTMNN và NHTMCP trong hệ thống các
tổ chức tín dụng ở Việt Nam giai đoạn 2007-2012. Cụ thể, để tìm hiểu về thực trạng hoạt
động của các NHTM, đề tài sử dụng các dữ liệu phản ảnh hoạt động của hệ thống ngân
hàng. Trong khi đó, để nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro của
NHTM, đề tài sử dụng dữ liệu nghiên cứu đƣợc thu thập từ 11 ngân hàng thƣơng mại
trong đó bao gồm 4 NHTMNN và 7 NHTMCP. Hai rủi ro chính trong hoạt động của hệ
thống ngân hàng thƣơng mại đƣợc đề cập trong để tài là rủi ro tín dụng và rủi ro mất khả
năng thanh toán.
Về dữ liệu, có ba nguồn dữ liệu chính đƣợc thu thập trong đề tài. Cụ thể:
Các dữ liệu vĩ mô về hoạt động của hệ thống NHTM đƣợc tham khảo từ báo cáo thƣờng
niên của Ngân Hàng Nhà nƣớc, trong khi đó, các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô nhƣ là tỉ lệ lạm
phát, lãi suất cơ bản đƣợc thu thập từ website của Tổng cục thống kê.
Các dữ liệu nội tại của ngân hàng nhƣ là cấu trúc sở hữu của NHTM, các chỉ tiêu phản
ảnh rủi ro cũng nhƣ tình hình họat động của ngân hàng đƣợc tham khảo từ các báo cáo
thƣờng niên của các ngân hàng thƣơng mại trong giai đoạn năm 2007-2012 và cơ sở dữ
liệu của Bankscope đƣợc cung cấp bởi công ty Bureau van Dijk.
4
1.5 Nội dung nghiên cứu
Để thực hiện những nội dung nghiên cứu đề cập ở trên, đề tài nghiên cứu đƣợc chia thành
5 phần, bao gồm:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về công trình nghiên cứu.
Nội dung chƣơng này trình bày một cách tổng quát nhất về đề tài bao gồm: lí do nghiên
cứu, mục tiêu nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, dữ liệu nghiên
mất khả năng thanh toán.
Thêm vào đó, bài nghiên cứu đã nêu đƣợc mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu vốn và rủi ro
của ngân hàng. Từ đó chúng tôi đã đề xuất một số kiến nghị dành cho các ngân hàng
thƣơng mại và cơ quan quản lý nhằm giảm thiểu rủi ro trong ngân hàng thông qua các
biện pháp thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài nhƣ xây dựng môi trƣờng cạnh tranh trong ngân
hàng Việt Nam, tăng hiệu quả hoạt động của ngân hàng….
Chúng tôi mong bài nghiên cứu sẽ đóng góp phần nào đó vào việc giải quyết vấn đề đang
đặt ra cấp thiết hiện nay của nƣớc ta là tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, giúp hệ thống
ngân hàng Việt Nam hoạt động hiệu quả, phát triển bền vững, nhất là trong thời kỳ mở
cửa của nƣớc ta hiện nay, việc tăng cƣờng tính cạnh tranh của Ngân hàng Việt Nam và
ngân hàng nƣớc ngoài là một vấn đề vô cùng quan trọng.
1.7 Định hƣớng phát triển đề tài
Đề tài nghiên cứu vẫn có những hạn chế nhất định nên cần phải hoàn thiện thêm theo một
vài định hƣớng sau để nâng cao giá trị bài nghiên cứu:
Thứ nhất, số lƣợng ngân hàng cũng nhƣ số năm nghiên cứu cần đƣợc mở rộng hơn trong
điều kiện thông tin minh bạch và thống nhất.
6
Thứ hai: chúng ta cần đƣa thêm vào bài nghiên cứu biến về cấu trúc sở hữu nhƣ phần
trăm cổ phần của các nhà quản trị để phân tích.
Thứ ba: bài nghiên cứu sẽ tiếp tục phát huy điểm mạnh của hồi quy dữ liệu bảng bằng
cách mở rộng mẫu nghiên cứu sang các quốc gia trong khu vực để từ đó có thể xem xét
và so sánh.
Thứ tƣ, đề cập thêm nhiều loại ngân hàng vào bài nghiên cứu nhƣ các ngân hàng liên
doanh, ngân hàng 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, để chúng ta có đƣợc kết quả mang tính
toàn diện hơn.
các nghiên cứu cho ngân hàng thƣơng mại, công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính.
2.1.1 Cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp phi tài chính
Trong nghiên cứu của Gerald R. Salancik và Jeffrey Pfeffer (1980) về ảnh hƣởng của sở
hữu và hiệu suất hoạt động công ty lên nhiệm kì điều hành của các tổng công ty ở Mỹ đã
khẳng định rằng: Rõ ràng là quyền sở hữu trung gian mối quan hệ giữa điều hành hoạt
động doanh nghiệp. Kết luận này đƣợc đƣa ra thông qua việc điểm định ba giả thuyết
sau:
8
Giả thuyết thứ nhất: quyền sở hữu và hiệu quả hoạt động tƣơng tác với nhau ảnh hƣởng
đến nhiệm kì điều hành của công ty. Nhiệm kì sẽ có tƣơng quan lớn nhất trong trƣờng
hợp công ty đƣợc điều hành từ phía ngoài, và ít tƣơng quan hơn với những doanh nghiệp
có chủ sở hữu quản lý doanh nghiệp.
Giả thuyết thứ hai: tỉ lệ ban giám đốc bên trong công ty càng cao thì nhiệm kì của giám
đốc điều hành càng dài.
Giả thuyết thứ ba: tỉ lệ ban giám đốc bên trong công ty càng cao, nhiệm kì càng ít bị ảnh
hƣởng bởi biểu hiện yếu kém của công ty
Bài nghiên cứu về cấu trúc sở hữu và giá trị của những công ty niêm yết tại Việt Nam
trên tạp chí Tài Chính của Phạm Hữu Hồng Thái (2013) cũng đề cập đến vấn đề này .
Ông cho rằng tỷ lệ sở hữu tƣ nhân của doanh nghiệp càng cao thì giá trị của doanh nghiệp
đó càng cao. Do đó, để nâng cao giá trị doanh nghiệp, việc cần thiết là giảm tỉ trọng sở
hữu nhà nƣớc và nâng cao tỉ trọng sở hữu tƣ nhân. Tuy nhiên, chính phủ Việt Nam muốn
bảo vệ các công ty trong nƣớc trƣớc quá trình hội nhập sau và rộng nên đã hạn chế vai trò
của các chủ sở hữu nƣớc ngoài thông qua việc giới hạn số vốn tối đa họ đƣợc sở hữu
trong một công ty. Điều này đã làm giảm hiệu quả của cấu trúc vốn nƣớc ngoài trong việc
góp phần tạo nên giá trị lớn hơn cho công ty.
2.1.2 Cấu trúc sở hữu của ngân hàng
Theo điều 6 luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì ngân hàng thƣơng mại Việt Nam có
thể đƣợc tổ chức dƣới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc công
ty cổ phần. Cũng tại khoản 6 điều 52 luật này đã quy định, các tổ chức tín dụng hoạt động
trong các ngân hàng trong những năm trƣớc đây, cụ thể có thể thấy năm 1995, tỉ trọng sở
hữu của khu vực nhà nƣớc đối với ngành công nghiệp ngân hàng trên toàn thế giới xấp xỉ
41.6% (khoảng 38.5% nếu không bao gồm ngành ngân hàng của các nƣớc xã hội chủ
10
nghĩa). Có thể thấy sự ảnh hƣởng to lớn của sở hữu nhà nƣớc đến hoạt động cho vay của
các ngân hàng qua bài nghiên cứu của Paola Sapienza (2002). Trong cùng một điều kiện
huy động vốn nhất định giữa ngân hàng sở hữu nhà nƣớc và ngân hàng tƣ nhân thì điều
khác biệt là ngân hàng có sở hữu nhà nƣớc có xu hƣớng cho vay với lãi suất thấp hơn khu
vực sở hữu tƣ nhân với cùng những đối tƣợng khách hàng nhƣ nhau. Mặc khác, hoạt
động tín dụng của các ngân hàng có sở hữu nhà nƣớc còn bị tác động bởi các hoạt động
bầu cử ở địa phƣơng, các khu vực có hoạt động của các đảng phái liên quan đến ngân
hàng càng mạnh thì lãi suất cho vay ở khu vực đó càng thấp.
Nghiên cứu của Nicolò và Loukoianova (2007) tìm hiểu về ảnh hƣởng của sở hữu đến
cấu trúc thị trƣờng và rủi ro. Các tác giả đã tập trung nghiên cứu ngành ngân hàng ở các
quốc gia đang phát triển_nơi mà hoạt động của ngành ngân hàng đang trên quá trình đổi
mới cả về hình thức hoạt động cũng nhƣ cấu trúc sở hữu. Với 10.000 quan sát cho 133
quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1993-2004, mô hình hồi quy đã đƣa ra 4 kết quả
đáng chú ý.
Thứ nhất, có một mối quan hệ cùng chiều giữa sự tập trung quyền lực trong ngân hàng và
rủi ro phá sản của nó. Tƣơng quan này sẽ lớn nhất khi các ngân hàng nhà nƣớc sở hữu
một thị phần đáng kể thị trƣờng tài chính trong nƣớc.
Thứ hai, tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể của các quốc gia và doanh nghiệp mà rủi ro
của các ngân hàng sở hữu nhà nƣớc sẽ cao hơn rất nhiều so với rủi ro của các ngân hàng
sở hữu tƣ nhân trong nƣớc.
Thứ ba, khi tiến hành mở rộng thị phần, các ngân hàng nƣớc ngoài và ngân hàng sở hữu
nhà nƣớc sẽ gặp phải rủi ro cao hơn các ngân hàng tƣ nhân.
Thứ tƣ, các ngân hàng nhà nƣớc và nƣớc ngoài sẽ có tầm ảnh hƣởng lớn hơn và chi phi
phá sản thấp hơn đối với các ngân hàng thƣơng mại sở hữu tƣ nhân.
Ngoài ra, bài nghiên cứu còn cho thấy tác động của từng loại sở hữu khác nhau đến thị
12
ngân hàng sẽ lớn hơn rất nhiều đối với các nƣớc công nghiệp phát triển. Một vấn đề nữa
đƣợc đề cập trong bài nghiên cứu đó là đối với các quốc gia đang phát triển, nên đẩy
mạnh tỉ lệ sở hữu tƣ nhân và sở hữu nƣớc ngoài trong ngân hàng. Bởi sở hữu nhà nƣớc
tồn tại bấy lâu nay đã đƣa các ngân hàng hoạt động theo hƣớng lợi nhuận thấp trong khi
chi phí quá cao. Khu vực tƣ nhân và nƣớc ngoài sẽ đón vai trò quan trọng trong việc nâng
cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng, tạo ra một nền công nghiệp ngân hàng năng động
hơn với tỉ suất sinh lợi cao và chi phí hoạt động giảm đáng kể.
Tăng trƣởng tín dụng của các ngân hàng cũng là vấn đề rất đƣợc quan tâm. Burcu Aydın
đã cho thấy ảnh hƣởng của cấu trúc sở hữu đến sự phát triển trong hoạt động tín dụng của
các ngân hàng ở các quốc gia CEE, nơi có nền tài chính và kinh tế cực kì phát triển. Tác
giả đã chú trọng phân tích tác động của sở hữu nhà nƣớc và sở hữu nƣớc ngoài trong bài
nghiên cứu này.
Tác giả cũng đã chỉ ra các xu hƣớng tích cực của các ngân hàng sở hữu nƣớc ngoài trong
khâu tín dụng. Thứ nhất, tốc độ tăng trƣởng tín dụng của các ngân hàng nƣớc ngoài khá
cao so với khối sở hữu nhà nƣớc. Thêm vào đó, hoạt động cho vay của các ngân hàng
nƣớc ngoài khá linh hoạt, họ không gặp phải hạn chế về vốn của thị trƣờng trong nƣớc.
Tác động tích cực thứ ba là các ngân hàng nƣớc ngoài cạnh tranh khá tốt với nhau cùng
nhau giảm chi phí huy động vốn. Loại hình ngân hàng nƣớc ngoài thật sự phát triển mạnh
ở CEE là bởi sự phát triển tốt của nền kinh tế cũng nhƣ mức lãi suất khá hấp dẫn. Mỗi
nhà nghiên cứu khi thực hiện các phân tích của mình đều phân chia cấu trúc sở hữu thành
các thành phần khác nhau, phù hợp với mục đích và mô hình mà họ hƣớng đến.
Mayers và các cộng sự (1990) khi nghiên cứu về nhu cầu bảo hiểm của các doanh nghiệp
đã đƣa ra các biến giả trong mô hình để thể hiện cho các loại cấu trúc sở hữu mà họ
nghiên cứu bao gồm: sở hữu Lloyd’s, công ty cổ phần, sở hữu lẫn nhau và sở hữu đối
ứng. Hơn nữa, loại hình công ty cổ phần còn đƣợc xem xét dƣới góc độ chủ sở hữu của
công ty là hiệp hội, hộ gia đình, tổ chức đóng (từ 100 cổ đông trở xuống) hay tổ chức mở
13
khoản 1 điều 3, rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là “tổn thất có khả năng xảy ra
đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài do khách hàng không
thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình
theo cam kết.” Theo Thomas P.Fitch (2000) trong “Từ điển thuật ngữ chuyên ngành
Ngân Hàng Barron” rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi bên đi vay không thể thanh toán
các khoản nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng dẫn đến việc không thực hiện nghĩa vụ trả
nợ đúng hạn. Trong cuốn “Phân tích và quản trị rủi ro Ngân Hàng”, Greuning và
Bratanovic (2003) cho rằng rủi ro tín dụng là nguy cơ mà ngƣời đi vay không có khả
năng chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc đã đƣợc qui định trong hợp đồng tín dụng.
Việc hoàn trả đó có thể sẽ bị trì hoãn hoặc thậm chí không đƣợc thực hiện và điều này sẽ
dẫn đến những vấn đề liên quan đến dòng tiền và gây ảnh hƣởng cho thanh khoản của
ngân hàng. Vậy nói một cách tổng quát, rủi ro tín dụng là việc ngƣời đi vay không trả
đƣợc nợ khi đến hạn phải thanh toán theo hợp đồng.
2.2.2 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng
Dựa vào tiêu chí đối tƣợng gây ra rủi ro, nguyên nhân hình thành rủi ro tín dụng ngân
hàng có thể chia thành nguyên nhân từ phía khách hàng hay cụ thể là các doanh nghiệp
và nguyên nhân từ phía bản thân ngân hàng.
Từ phía khách hàng
Nguyên nhân hình thành rủi ro tín dụng thƣờng bắt nguồn từ việc các doanh nghiệp vay
tiền ngân hàng cho các hoạt động đầu tƣ, kinh doanh nhƣng sau đó bị thua lỗ dẫn đến mất
khả năng thanh toán khoảng tiền đã vay.
Kinh tế vĩ mô là một trong những yếu tố dẫn đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.
Những yếu tố vĩ mô của nền kinh tế trong nƣớc nhƣ GDP, lạm phát, FPI, FDI… có sự
15
ảnh hƣởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Ví dụ nhƣ khi các
dòng vốn nƣớc ngoài đổ vào Việt Nam giảm do khủng hoảng tài chính toàn cầu hoặc lạm
phát đang nằm ở mức khá cao sẽ khiến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bị
đình trệ, thua lỗ, từ đó dẫn đến khó khăn trong việc hoàn trả các khoản đã vay cho ngân
hàng khi đến hạn thanh toán. Trong giai đoạn gần đây cũng đã có rất nhiều công trình
cách khác là nguyên nhân dẫn đến việc thua lỗ và không thanh toán đƣợc nợ của doanh
nghiệp cho ngân hàng.
Từ phía ngân hàng
Rủi ro tín dụng không chỉ bắt nguồn từ phía các doanh nghiệp, tổ chức vay vốn mà còn
bắt nguồn từ chính bản thân ngân hàng. Nhiều ngân hàng do muốn tranh giành thị trƣờng
với các ngân hàng khác hoặc gấp gáp trong việc giải ngân đã nới lỏng chính sách cho vay
quá mức khiến cho các quy trình thẩm định tín dụng trở nên lỏng lẻo dẫn đến việc tỉ lệ nợ
quá hạn trên tổng dƣ nợ ngày càng lớn. Hơn nữa, chất lƣợng đội ngũ cán bộ tín dụng ở
nƣớc ta vẫn chƣa cao, một số do thiếu trình độ chuyên môn, thiếu kinh nghiệm trong
nghiệp vụ thẩm định nên không đánh giá chính xác đƣợc hồ sơ vay vốn của doanh
nghiệp, một số khác do vi phạm đạo đức nghề nghiệp, thông đồng với doanh nghiệp đi
vay để chiếm đoạt tài sản ngân hàng và kèm theo đó là công tác quản lý, kiểm soát còn
hời hợt nên hệ quả cuối cùng là nợ xấu trong hệ thống ngày càng tăng cao. Thông tin bất
cân xứng cũng là một trong những yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng thẩm định của ngân
hàng. Các ngân hàng Việt Nam hầu hết vẫn chƣa có một hệ thống dữ liệu đầy đủ về
khách hàng, những thông tin đƣợc ngân hàng phân tích trƣớc khi đƣa ra quyết định cho
vay hầu hết đều dựa trên thông tin đƣợc cung cấp từ khách hàng và thƣờng không đƣợc
thông qua bất kì kênh kiểm tra chéo nào.
2.2.3 Ảnh hƣởng của rủi ro tín dụng
Là một trong những loại rủi ro chủ yếu của ngân hàng nên rủi ro tín dụng có thể dẫn đến
rất nhiều hậu quả cho hoạt động của ngân hàng. Đầu tiên, rủi ro tín dụng có thể làm giảm
17
lợi nhuận của ngân hàng thông qua việc ngân hàng phải trích lập các khoản dự phòng tùy
theo mực độ nợ xấu và tài sản đảm bảo. Thứ hai, uy tín của ngân hàng có thể bị ảnh
hƣởng khi tồn tại một tỉ lệ nợ xấu cao trong hệ thống. Mỗi năm, các ngân hàng đều phải
thống kê và thể hiện các chỉ số tài chính lên báo cáo thƣờng niên và công bố cho mọi cá
nhân, tổ chức trong nền kinh tế nói chung cũng nhƣ cổ đông nói riêng biết. Việc có một tỉ
lệ nợ xấu trên tổng dƣ nợ lớn sẽ tác động không nhỏ đến tâm lý của ngƣời dân cũng nhƣ
các cổ đông, mọi ngƣời sẽ không còn tin tƣởng ngân hàng dẫn đến chữ tín của ngân hàng
này sẽ bị sàn lọc kĩ lƣỡng hơn (cho dù lãi suất cho vay lúc này có thể thấp hơn do sự cạnh
tranh ngày càng gay gắt) khiến rủi ro tín dụng của ngân hàng giảm.
Không chỉ chịu sự chi phối của các yếu tố bên ngoài, rủi ro tín dụng còn chịu ảnh hƣởng
không nhỏ từ các yếu tố bên trong của ngân hàng. Haq và Heaney (2012) đã nghiên cứu
sự ảnh hƣởng của nguồn vốn chủ sở hữu, vốn điều lệ, hoạt động ngoại bảng, tỉ lệ chi trả
cổ tức và quy mô của ngân hàng đối với rủi ro ngân hàng nói chung và rủi ro tín dụng nói
riêng. Bài nghiên cứu dựa trên dữ liệu số liệu của 117 tổ chức tín dụng tại 15 quốc gia
châu Âu từ năm 1996 đến năm 2010 và đã đƣa ra một số nhận định. Nguồn vốn chủ sở
hữu cũng nhƣ vốn điều lệ của ngân hàng có mối quan hệ phi tuyến tính với rủi ro tín
dụng, đồng thời trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu, tác động ngƣợc chiều
của hai yếu tố này đối với rủi ro tín dụng càng đƣợc thể hiện rõ nét hơn . Việc gia tăng
các hoạt động ngoại bảng có thể làm tăng rủi ro tín dụng và ngân hàng với qui mô càng
lớn sẽ có xu hƣớng chịu rủi ro tín dụng càng thấp.
2.3 Rủi ro mất khả năng thanh toán của ngân hàng
Bên cạnh rủi ro tín dụng, tuy không thƣờng xuyên xảy ra nhƣng rủi ro mất khả năng
thanh toán lại giữ một vị trí rất quan trọng trong các loại rủi ro do nó liên quan đến sự
sống còn của một ngân hàng và đôi khi là cả hệ thống tài chính của một quốc gia.