Cơ sở khoa học cho tổ chức lãnh thổ phát triển kinh tế và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên huyện Sóc Sơn, Hà Nội - Pdf 25

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Giang Văn Trọng
CƠ SỞ KHOA HỌC CHO TỔ CHỨC LÃNH THỔ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
VÀ SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
HUYỆN SÓC SƠN, HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC Năm 2012

2


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ VÀ SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN 6
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu 6
1.2. Cơ sở khoa học của tổ chức lãnh thổ phát triển kinh tế và sử dụng hợp lý tài
nguyên thiên nhiên 15
1.2.1. Khái niệm, bản chất của tổ chức lãnh thổ kinh tế 15
1.2.2. Các lý thuyết tổ chức lãnh thổ kinh tế 18
1.2.3. Các hình thức tổ chức lãnh thổ có thể vận dụng vào huyện Sóc Sơn 21
1.2.4. Mối quan hệ giữa tổ chức lãnh thổ phát triển kinh tế và sử dụng hợp lý tài
nguyên thiên nhiên 24
CHƢƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ VÀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN 27
2.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ 27
2.1.1. Các nhân tố tự nhiên 27
a) Vị trí địa lý và vị thế kinh tế của Sóc Sơn 27
b) Địa chất 32
c) Địa hình 34
c) Khí hậu-thuỷ văn 40
d) Thổ nhưỡng 43
e) Thảm thực vật 46
2.1.2. Các nhân tố kinh tế xã hội 48
a) Dân cư và nguồn lao động 48
b) Kinh tế 50
c) Cơ sở hạ tầng 55
d) Văn hoá, y tế, giáo dục 58
ii


DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tổng kết xu hướng định vị trên thế giới 8
Bảng 2.1: Sóc Sơn trong khu vực Hà Nội 29
Bảng 2.2: Vai trò của Sóc Sơn trong thành phố Hà Nội 30
Bảng 2.3: Các sông chảy qua huyện Sóc Sơn 41
Bảng 2.4: Tổng hợp các chỉ số kinh tế xã hội 48
Bảng 2.5: Giá trị sản xuất ngành nông-lâm-ngư nghiệp, 2006-2011 51
Bảng 2.6: Chỉ số phát triển các ngành công nghiệp 52
Bảng 2.7: Doanh thu sản xuất công nghiệp 53
Bảng 2.8: Số lượng, chiều dài của các tuyến giao thông chính 55
Bảng 2.9: Phân tích SWOT hệ thống giao thông 56
Bảng 2.10: Tổng hợp một số chỉ tiêu văn hóa, y tế, giáo dục 60
Bảng 2.11: Giá trị và cơ cấu giá trị sản xuất của Sóc Sơn 64
Bảng 2.12: Biến đổi tỷ lệ lao động trong các ngành kinh tế 66
Bảng 2.13: Các ngành kinh tế phân theo tiểu vùng 67
Bảng 2.14: Giá trị sản xuất công nghiệp tạo ra theo lao động 71
Bảng2.15: Tính chỉ số chuyên môn hóa ngành công nghiệp của huyện Sóc Sơn 72
Bảng 2.16: Số trang trại phân theo tiểu vùng 73
Bảng 2.17: Một số chỉ tiêu chủ yếu về trang trại 73
Bảng 2.18: So sánh giữa Thành thị / Nông thôn 76
Bảng 2.19: Hiện trạng sử dụng đất huyện Sóc Sơn giai đoạn 2008-2011 80
Bảng 3.1: Các chỉ số đưa vào mô hình phân tích hồi quy và phân tích nhóm 89
Bảng 3.2: Các chức năng đề xuất trong từng tiểu vùng 92
Bảng 3.3: Phân tích các quy hoạch gần đây của huyện Sóc Sơn 96
iv

Bảng 3.4: Đánh giá các kết quả đạt được so với mục tiêu đặt ra 97
Bảng 3.5: Phân tích SWOT cho ngành công nghiệp của huyện 108
Bảng 3.6: mục tiêu, chiến lược và hành động đề xuất cho ngành công nghiệp 109
Bảng 3.7: Phân tích SWOT ngành dịch vụ 110

phát triển đã và đang đối mặt với nguy cơ suy thoái kinh tế, tình trạng cạn kiện tài
nguyên gia tăng cộng thêm với biến đổi khí hậu thách thức sự phát triển bền vững
toàn cầu, tạo nên sức ép đến các quốc gia phải thay đổi chính sách nông nghiệp chú
trọng tới vấn đề an ninh lương thực.
Sóc Sơn là huyện có diện tích đất nông nghiệp lớn thứ hai của Hà Nội, kể từ
lần quy hoạch gần đây năm 2007 đến nay, trên địa bàn đã có nhiều thay đổi quan
trọng. Hà Nội mở rộng địa giới hành chính, Sóc Sơn được xác định là một trong
năm đô thị vệ tinh, nhiều dự án mới như đường cao tốc Hà Nội- Thái Nguyên, Hà
Nội – Lào Cai, đường 5 kéo dài, sân bay quốc tế Nội Bài mở rộng, sự mở rộng của
vùng Thủ Đô
1
, UNESCO công nhận du lịch đền Sóc là Di sản Văn hóa Thế giới,
chính sách của thành phố Hà Nội về sử dụng rừng phòng hộ Sóc Sơn, các quy
hoạch ngành và liên ngành như Y tế, giáo dục… đã làm xáo trộn đến hoạt động
kinh tế ở nơi đây. Những thay đổi này đã tác động đến sự phân dị trong nội vùng và
phá vỡ tính liên kết ngoại vùng trước đây, làm xuất hiện những mâu thuẫn cản trở
phát triển bền vững của huyện. Thực tế, Sóc Sơn đang tồn tại mất cân bằng trong
phát triển, thứ nhất khoảng cách phát triển giữa Sóc Sơn với khu vực khác của Hà
Nội, ngay trong bản thân huyện sự chênh lệch giàu nghèo vẫn còn cao. Thứ hai, sự
phát triển công nghiệp và dịch vụ đang làm giảm mạnh diện tích đất nông nghiệp
gây ra lo ngại tới an ninh lương thực.
Xét về vị trí, Sóc Sơn được coi là cửa ngõ của thủ đô Hà Nội, là cầu nối, là
mắt xích giúp Hà Nội phát triển lan tỏa ra các khu vực lân cận, đảm nhận trách
nhiệm của thủ đô với sự phát triển của đất nước. Để thực sự trở thành động lực phát
triển của Vùng Thủ đô và phụ cận, Hà Nội cần phải quan tâm đến mắt xích này để

1
Vùng Thủ đô hiện có Hà Nội và 9 tỉnh lân cận theo quyết định 1758/QĐ – TTg, Mở rộng thêm 3 tỉnh là Phú
Thọ, Thái Nguyên và Bắc Giang so với Quyết định số 490/2008/QĐ-TTg.
2

nội dung lớn của địa lý học, vì vậy trong luận văn, học viên chỉ đề cập đến một số
vấn đề của tổ chức lãnh thổ, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, áp dụng một số lý luận
liên quan đến chuyên ngành địa lý tự nhiên và địa lý kinh tế - xã hội.
4. Quan điểm và Phương pháp nghiên cứu
4.1 Quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm hệ thống: Quan điểm này được vận dụng khi nghiên cứu tổ chức
lãnh thổ huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Khu vực huyện Sóc Sơn được coi là một
hệ thống tự nhiên, tạo thành từ nhiều yếu tố tự nhiên (địa hình, khí hậu, thuỷ văn, thổ
nhưỡng, sinh vật,…), và một hệ thống kinh tế xã hội (dân cư, lao động, công nghiệp,
nông nghiệp, dịch vụ), có ranh giới xác định, ở đó có sự tương tác giữa các hợp phần
tự nhiên cũng như giữa hệ thống tự nhiên và hệ thống kinh tế - xã hội. Bởi vậy, khi
nghiên cứu cần phải đặt nó trong hệ thống và mối quan hệ qua lại mật thiết giữa các
nguồn lực tự nhiên và nguồn lực nhân văn trong tổng thể với lãnh thổ xung quanh.
- Quan điểm tổng hợp: Vận dụng quan điểm tổng hợp trong việc nghiên cứu
tổ chức lãnh thổ, cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu một cách toàn diện, tổng
hợp tất cả các yếu tố cũng như các mối quan hệ tương tác giữa các hợp phần trong
tổng thể đó, phân tích tổng hợp các nhân tố tự nhiên, nhân tố kinh tế - xã hội ảnh
hưởng đến sự hình thành và phát triển của các đối tượng tổ chức lãnh thổ cũng như
tác động tổng hợp của tất cả các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội,
môi trường.
- Quan điểm lãnh thổ: Mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại và phát triển trong
một không gian nhất định. Các sự vật hiện tượng địa lý cũng không nằm ngoài quy
luật tự nhiên này. Ở đó có sự phân hóa và thống nhất nội tại nhưng đồng thời lại có
mối quan hệ lãnh thổ với các vùng xung quanh cả về đặc điểm địa lí tự nhiên và
kinh tế -xã hội. Trong nghiên cứu địa lý, bất kỳ một sự vật hiện tượng nào cũng đều
phải gắn với một không gian lãnh thổ nhất định. Mỗi đối tượng tổ chức lãnh thổ đều
được phát sinh, hình thành, phát triển trên một vùng cụ thể.
- Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững: Địa lý học đã vận dụng quan
điểm này vào việc nghiên cứu, đánh giá tổng hợp các nhân tố điều kiện địa lí tự
4

5

- Phương pháp thống kê toán học: Các số liệu thống kê về điều kiện tự nhiên
và kinh tế - xã hội của huyện Sóc Sơn là những thông tin dữ liệu đầu vào về khu
vực nghiên cứu. Nguồn dữ liệu được thống kê bao gồm: Thống kê qua tài liệu, báo
cáo và sổ sách lưu trữ; Thống kê qua các số liệu khảo sát, đo đạc ngoài thực địa;
Thống kê qua đo đạc, tính toán trên bản đồ; Thống kê qua các bảng điều tra nông
hộ với hệ thống chỉ tiêu đã định; Thực tế cho thấy rằng đây là phương pháp không
thể thiếu được, vì các số liệu thu thập theo phương pháp này có tính đồng bộ cao và
giảm bớt thời gian đi thực địa [14].
Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý: Để xác lập sự đồng nhất hay
phân dị lãnh thổ của các nhân tố sinh thái và các yếu tố kinh tế xã hội cũng như việc
thể hiện chúng thì không còn cách nào khác là phải sử dụng bản đồ. Bản đồ được
coi là ―ngôn ngữ của địa lý học‖, vì chúng có khả năng thể hiện rõ nhất, trực quan
nhất các đặc trưng không gian của các đối tượng nghiên cứu. Ngoài ra, phương
pháp bản đồ còn là phương pháp duy nhất thể hiện sự phân bố không gian các
phương án quy hoạch và tổ chức lãnh thổ, đồng thời giúp cho các nhà quản lý đưa
ra những quyết định về tổ chức sử dụng lãnh thổ một cách nhanh chóng và hiệu quả
hơn nhiều so với việc đọc các bảng thống kê dài [12,14].
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài mở đầu và kết luận, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức lãnh thổ phát triển kinh tế và sử dụng
hợp lý tài nguyên thiên nhiên
Chương 2: Đánh giá hiện trạng tổ chức lãnh thổ phát triển kinh tế và sử dụng
tài nguyên
Chương 3: Định hướng tổ chức không gian phát triển kinh tế sử dụng hợp lý
tài nguyên thiên nhiên huyện sóc sơn 6


nhạy cảm với giá cả, khi đó khoảng cách phân phối xa sẽ không thuận lợi, khi đó
các nhà phân phối cần phân chia lại thị trường.
Không hài lòng với 2 phương pháp trên, Agust Losch đưa ra cách tiếp cận
mới dựa trên lợi nhuận nhà sản xuất (Phương pháp lợi nhuận tối đa) [49]. Nguyên
tắc thay thế (Substitution Principle) cho thấy nhiều quy trình sản xuất công nghiệp
thay đổi để giảm chi phí đầu vào (lao động, nguyên liệu…). Và với sự tăng đầu tư
thiết bị, tăng phí vận chuyển để giảm giá đất thuê, nhà sản xuất sẽ tìm được vị trí
thích hợp.
Các nghiên cứu định vị gắn với yếu tố đô thị có dung lượng nhiều hơn cả và
được chia ra theo nhiều hướng. Đầu tiên là nghiên cứu cấu trúc không gian đô thị
của Alfred Marshall (1890), William Alonso, 1964 (dựa trên mô hình của Thünen)
[59] đề cập đến giá thuê đất, thành phố đơn tâm và đa tâm. Hướng tiếp theo nghiên
cứu chiều thứ 3 của lý thuyết định vị đô thị: chiều cao của các tòa nhà
2
. Georg Kohl
(1850), Alfred Marshall (1890) sau này là Jean Gottmann (1966), Irving Hoch
(1968) [58] đã phân tích chiều cao tối ưu của các toàn nhà và vấn đề sử dụng
khoảng không của các thành phố. Đề cập đến vấn đề thuế đất, nhưng David Ricardo
(1820), Henry George (1879) lại đưa ra khái niệm về thuế dựa trên độ màu mỡ của
đất và giá trị đất đai; 2 ông đã đưa ra một hệ thống các thuế phải đóng dựa trên quan
điểm này. Tiếp tục các vấn đề về đô thị là các nghiên cứu về chức năng đô thị.
Colin Clark (1951, 1967) là người đầu tiên khám phá phát hiện mật độ dân số có xu
hướng giảm dần so với khoảng cách từ thành phố trung tâm. Sau đó Newling (1969,
1971) đã áp dụng thông số được phát triển bởi Muth (1969) chỉ ra mối tương quan
mạnh giữa mật độ với tỷ lệ tăng trưởng, ông đã xác định mức mật độ tiêu chuẩn cho
thành phố để đảm bảo tốc độ tăng trưởng, qua đó ông đề xuất đưa mật đô dân số
vào trong tính toán quy hoạch thành phố. Cuối cùng, bàn về vấn đề ngoại ô và ranh
giới của đô thị là những đóng góp của C.Harris & E.L.Ullman (1945), Rodney
Erickson (1986), Garreau (1991), Giuliano & Small (1991) về vùng ven đô, những

(Primary factors)
Nhân tố thứ 2
(Secondary factors)
Nhân tố 3
(Tertiary factors)
Chi phí vận tải với chi phí
sản xuất, giá nhân công
Sự gần gũi thị trường
Sự gần gũi đến nguồn cung/
nhà cung cấp dịch vụ
Những nhân tố tích tụ khác
Chính sách chính phủ
Khía cạnh môi trường, tri thức
của lực lượng lao động, định vị
kinh doanh bền vững, chất lượng
cuộc sống, môi trường đầu tư
Tân cổ điển (chi phí thấp
nhất)
Lý thuyết định vị
Tập trung vùng
Lý thuyết cực tăng trưởng/
Lý thuyết nhân quả tích lũy
3

Quần cư đô thị (Urban
agglomeration)
Lý thuyết cơ quan và cư xử
(Behavioural and institutional
theories)
Khuyết tán không gian (Spatial

ty tập trung gần gũi với nhau, thay vì phân tán như trước kia. Lúc này định vị có thể
phân bố tập trung về phía nguồn cung hoặc nguồn cầu (pha 2) [51].
* Ở Việt Nam
Xuất hiện từ những năm 1960, tổ chức lãnh thổ ở Việt Nam chịu ảnh hưởng
bởi lịch sử, cùng với đòi hỏi khách quan từ nhu cầu phát triển kinh tế đất nước, cho
đến nay có thể tạm phân ra thành các thời kỳ sau [14, 30, 31]:
Trước năm 1975: công tác tổ chức lãnh thổ diễn ra chủ yếu ở miền Bắc, tập
trung vào quy hoạch các vùng để thành lập các nông, lâm trường quốc doanh, các
khu kinh tế mới phát triển nông lâm nghiệp, khai hoang và phân bố lại dân cư nông

4
Việt Nam là quốc gia có nhiều ưu đãi để thu hút đầu tư FDI, Thời gian gần đây, dư luận đang đặt ra nhiều
nghi vấn chuyển giá, chốn thuế, đối với một số doanh nghiệp lớn của nước ngoài như Coca Cola, Pepsi,
Metro… Thực tế định vi ở các quốc gia khác sẽ mang lại nhiều lợi ích thuế, chính sách, lao động, thị
trường… cho các công ty. Một câu hỏi định vị quan trọng một lần nữa được đặt ra ―Nội lực hay ngoại lưc?‖
10

thôn [13, 14] . Tiếp đó là tiến hành quy hoạch các tiểu vùng, các vùng kinh tế mới ở
trung du miền núi một số huyện và thị xã. Giai đoạn này nước ta không triển khai
phân vùng, quy hoạch cấp tỉnh và các ngành. Trước đòi hỏi phát triển nông nghiệp
và năng lượng, Uỷ ban sông Hồng đã đưa ra một quy hoạch sử dụng và quản lý
nguồn nước trên một vùng lãnh thổ rộng lớn mà sau đó nhiều công trình thuỷ điện,
thuỷ lợi, phát triển nông nghiệp đã được xây dựng. Các ngành công nghiệp, giao
thông vận tải, văn hoá xã hội cũng đã quy hoạch xây dựng một số công trình cụ
thể. Giai đoạn 1975-1986: Nhà nước đã nhận thức được tầm quan trọng của công
tác quy hoạch và tổ chức lãnh thổ vì vậy đã thành lập Uỷ ban phân vùng quy hoạch,
tiến hành phân vùng kinh tế và cao hơn nữa là nghiên cứu thành lập Tổng sơ đồ
phân bố lực lượng sản xuất giai đoạn 1986-2000 [31]. Về nông lâm nghiệp, nước ta
được chia thành 7 vùng. Ngành công nghiệp và các lĩnh vực khác chưa được đề cập
một cách tổng thể, nhưng các cụm công nghiệp, dịch vụ cũng đã được luận chứng.

Bên cạnh đó, một số đề tài cấp nhà nước về tổ chức lãnh thổ lại mang một ý
nghĩa thực tiễn to lớn. Tổ chức lãnh thổ Đồng bằng sông Hồng và các tuyến trọng
điểm" do Lê Bá Thảo làm chủ nhiệm (Đề tài độc lập cấp Nhà nước, 1994); "Tổ
chức lãnh thổ kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm miền Trung" do Lưu Đức
Hồng làm chủ nhiệm; "Xác định cơ cấu kinh tế lãnh thổ theo hướng phát triển có
trọng điểm ở Việt Nam" của Ngô Doãn Vịnh và Nguyễn Văn Phú (1998).
Sau cùng, các luận án đóng góp kinh nghiệm thực tiễn tổ chức lãnh thổ, đặc
biệt trên phạm vi lãnh thổ cấp tỉnh và trên các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp,
du lịch: Tổ chức lãnh thổ du lịch thành phố Hải Phòng của Nguyễn Thanh Sơn,
1996; Tổ chức lãnh thổ du lịch Quảng Nam - Đà Nẵng, Trương Phước Minh, 2003;
Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Sơn La , 2010; Tổ chức lãnh thổ du lịch
Hoà Bình trên quan điểm phát triển bền vững, Phạm Lê Thảo, 2006; Tổ chức lãnh
thổ kinh tế tỉnh Bình Định, Hoàng Quý Châu, 2011 [2]; Tổ chức lãnh thổ công
nghiệp tỉnh Nghệ An, Lương Thị Thành Vinh, 2011; Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
tỉnh Nghệ An, Nguyễn Thị Trang Thanh, 2012 [28]. Các tác giả đều nhất trí tầm
quan trọng của tổ chức lãnh thổ, đề xuất được những nội dung của tổ chức lãnh thổ,
tuy nhiên chưa có sự thống nhất về khái niệm, nội dung, phương pháp tổ chức lãnh
thổ và cũng từ sự không thống nhất đó dẫn đến những nhận định đôi khi đồng nhất
quy hoạch tổng thể một vùng, một tỉnh là tổ chức lãnh thổ.

12

Các nghiên cứu về lãnh thổ huyện Sóc Sơn
Các công trình nghiên cứu về nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội: Nghiên
cứu địa chất-địa mạo và tài nguyên trong lòng đất: Nguyễn Văn Hoành và nnk
(1978) Báo cáo địa chất tờ Hà Nội tỷ lệ 1/200.000; Ngô Quang Toàn và nnk (1994)
thành lập bản đồ địa chất và khoáng sản nhóm tờ Hà Nội mở rộng, tỷ lệ 1/50.000.
Đào Đình Bắc (2010), thành lập bản đồ địa mạo cho cả thành phố Hà Nội. Vũ Văn
Phái (ch.b.), 2011 [19] trong cuốn sách Hà Nội - địa chất, địa mạo và tài nguyên
liên quan cũng đã phản ánh đầy đủ về địa chất, địa mạo và khoáng sản Hà Nội, Xác

làng nghề là vấn đề giải quyết việc làm ở khu vực nông thôn ngoại thành Hà Nội
(Nguyễn Thị Hải, 2009); Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp ở huyện Sóc
Sơn Hà Nội.
Do quá trình sản xuất của Sóc Sơn, nông nghiệp vẫn là ngành phát triển kinh
tế chính của huyện, do vậy có nhiều nghiên cứu về cây trồng, vật nuôi, ứng dụng
khoa học công nghệ như: Thực trạng và một số giải pháp khuyến nông nhằm phát
triển sản xuất cây ăn quả ở Sóc Sơn Hà Nội (luận văn); Xác định cơ cấu cây trồng
hợp lý ở ngoại thành Hà Nội (LAPTSKH Nông nghiệp, Bùi Thị Xô, 1994); Hiệu
quả kinh tế các loại hình trang trại huyện Sóc Sơn thành phố Hà Nội; Chuyển dịch
cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp ở huyện Sóc Sơn Hà Nội; Ứng dụng khoa học
công nghệ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Sóc Sơn (2005);
Hỏi - đáp công tác bảo vệ và phát triển rừng huyện Sóc Sơn - Hà Nội
Sóc Sơn là địa bàn có địa hình phức tạp, vẫn còn một số xã khó khăn, các
nghiên cứu hướng vào phân tích Thực trạng và những giải pháp chủ yếu nhằm xoá đói
giảm nghèo ở một số xã đặc biệt khó khăn huyện Sóc Sơn Thành phố Hà nội; hoặc
cũng có nghiên cứu sử dụng hàm hồi quy để tìm ra nguyên nhân của đói nghèo ở khu
vực này, qua đó đề xuất giải pháp hợp lý.
Vấn đề môi trường đặc biệt nổi cộm thời gian 10 năm trở lại đây. Có nhiều
nghiên cứu tập trung các vấn đề môi trường của bãi rác thải Nam Sơn: Dự án xây
dựng bãi rác thải Nam Sơn - Sóc Sơn; Đánh giá hiệu quả đầu tư, kinh tế - xã hội của
dự án xây dựng bãi rác thải Nam Sơn – Sóc Sơn; Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất
các giải pháp quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại địa bàn thị trấn Sóc Sơn - Hà
Nội; Bộ NN & PTNN, 2004. Nghiên cứu, xác định tồn tại, nguồn gốc, quy luật phân
14

bố của Asen trong đất và trong nước ở thành phố Hà Nội. Đề xuất hệ thống giải
pháp phòng ngừa ảnh hưởng của Asen đến sức khoẻ của nhân dân. Hà Nội.
Về công tác Quy hoạch: Từ năm 1979 đến nay, Sóc Sơn là một phần của Hà
Nội, các quy hoạch của Hà Nội đã có nhiều lần thay đổi và đều tác động đến huyện.
Quy hoạch Hà Nội trước 1979: phát triển đa cực và Vĩnh Yên nối 2 cực bằng hệ

1.2.1. Khái niệm, bản chất của tổ chức lãnh thổ kinh tế
Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ trên thế giới rất khác nhau về tên gọi, tuy nhiên
những nội dung chính và cơ bản nhất thì gần như nhau. Ỏ Pháp dùng Tổ chức lãnh
thổ (Organisation du teritoire) song song với đó là kế hoạch thực hiện (Plan). Ở các
nước châu Âu chỉ dùng duy nhất một thuật ngữ Planning (kế hoạch hóa)
5
. Ở Liên
Xô (cũ) sử dụng thuật ngữ phân bố lực lượng sản xuất (hay tổ chức lãnh thổ) và vẫn
có kế hoạch hóa lãnh thổ. Ở Việt Nam hiện nay vẫn dùng cả quy hoạch và kế hoạch
nhưng nội dung không chi tiết như thời bao cấp kế hoạch hóa tập trung. Tổ chức
lãnh thổ là từ chung nghiên cứu về lãnh thổ, sắp xếp, bố trí lãnh thổ nhưng cũng có
kế hoạch thực hiện.
Ở Việt Nam, Ngô Doãn Vịnh (2003) [44] cho rằng: ―TCLT là sự sắp xếp và
phối hợp các đối tượng trong mối liên hệ đa ngành, lĩnh vực và đa ngành lãnh thổ
trong một vùng cụ thể nhằm sử dụng một cách hợp lí các tiềm năng tự nhiên, lao
động, vị trí địa lí kinh tế - xã hội và cơ sở vật chất kĩ thuật đã và sẽ tạo dựng để đem
lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao và nâng cao mức sống dân cư của vùng đó‖. Định
nghĩa chỉ ra tổ chức lãnh thổ cơ bản là một khoa học liên ngành, mục tiêu hướng
đến sử dụng hợp lý các tiềm năng. Tuy nhiên định nghĩa trên chưa đưa ra được chủ
thể của tổ chức lãnh thổ là con người, chưa cho thấy được tính liên vùng trong tổ
chức lãnh thổ, chưa đề cập đến vấn đề môi trường.
Trong luận án của mình, Ngô Thúy Quỳnh (2010) [25] đã kế thừa nội dung
quan trọng trong định nghĩa của Ngô Doãn Vịnh, đồng thời bổ sung thêm một số
hạn chế trước đó: ―Tổ chức lãnh thổ kinh tế là việc ―phân bố‖ và ―phối hợp‖ các
hoạt động kinh tế (hoặc các đối tượng kinh tế) và gắn liền với chúng là con người
trong một lãnh thổ xác định, trên cơ sở sử dụng hợp lý các tiềm năng và lợi thế so

5
Theo PGS.TS Nguyễn Hiền, Planning phải dịch là kế hoạch hóa, nhưng Trung Quốc dịch là Quy hoạch, Việt Nam chịu
ảnh hưởng bởi cách dịch này nên đến nay quy hoạch ở Việt Nam tương ứng với Planning ở các nước châu Âu.

và dịch vụ cho bản than lãnh thổ cũng như cho cả các vùng khác.
17

Qua lý luận cho thấy, dù sử dụng khái niệm tổ chức lãnh thổ hay tổ chức
không gian thì nội hàm chủ yếu cũng là sắp xếp các đối tượng/ hoạt động của con
người trong một vùng lãnh thổ hay một không gian xác định. Trong luận văn, học
viên chỉ xác lập cơ sở khoa học cho tổ chức lãnh thổ, chưa tổng hợp lý luận đến
điểm đưa ra định nghĩa mới về tổ chức lãnh thổ so với các học giả trên. Tuy nhiên,
qua tìm hiểu, học viên đưa ra một vài suy nghĩ tổ chức lãnh thổ đối quy mô cấp
huyện. Huyện Sóc Sơn là một trong năm đô thị vệ tinh của Hà Nội, tức là một cực
tăng trưởng so với cực phát triển là trung tâm Hà Nội. Sự phát triển kinh tế của Sóc
Sơn phải gắn chặt với sự phát triển kinh tế của Hà Nội, được coi như là một cầu nối
liên kết Hà Nội với các tỉnh phía Bắc của Vùng Hà Nội. Để làm được điều này phải
có sự phân tích những phân dị địa lý
6
nhằm xác định các cấu trúc không gian (cấu
trúc lãnh thổ), các mối quan hệ lãnh thổ, sự tác động qua lại với các cấu trúc không
gian thành phần để nhận dạng một không gian tổng quát mà ta gọi là không gian
chiến lược. Khác với cấp tỉnh và cấp vùng, thường phải đề cập đến trung tâm
thương mại tầm cỡ, hành lang phát triển, chùm đô thị, thì ở cấp huyện cần nhấn
mạnh đến yếu tố lao động, việc làm, sự phân bố các hoạt động sản xuất, chợ đầu
mối, cấu trúc mạng lưới đường… các phân tích luôn luôn phải gắn kết trong tổng
thể vùng lớn hơn. Đặc biệt, đối với Sóc Sơn, thiết nghĩ là một đô thị vệ tinh thì cần
phải có một ngành chuyên môn hóa nổi trội so với khu vực Hà Nội.
Ngày nay lý thuyết tổ chức phát triển đến khả năng thích ứng với những thay
đổi có diễn biến nhanh và bất ngờ, thực tế đòi hỏi tổ chức lãnh thổ trong tương lai
phải tạo ra một cơ chế ―mềm dẻo‖, bởi vì tính linh động của thị trường, sự suy thoái
kinh tế và những bất trắc về tai biến thiên nhiên, đòi hỏi tổ chức lãnh thổ phải bắt
kịp được với những vận động đó. Đồng thời, tổ chức lãnh thổ từ trước tới nay
thường trả lời các câu hỏi ―What, Where, Who, Why‖ mà When (thời gian) thường

Cluster chưa được nhiều người quan tâm và khái niệm cluster còn chưa được sự
thống nhất. Nhìn chung, các học giả quan tâm đến vấn đề này đều có chung quan
niệm cho đó là ―cụm‖ hoặc ―cụm công nghiệp‖. Hoặc quan niệm đó là ―cụm tương
hỗ phát triển‖. Theo quan niệm của các học giả phương tây, cụm tương hỗ phát triển
là sự tập trung những doanh nghiệp thuộc lĩnh vực khác nhau gắn với các nhà cung
ứng (tư vấn, đào tạo, cung cấp điện nước, thông tin, ngân hàng và dịch vụ khác)
trong mối quan hệ tương hỗ cùng phát triển, cùng chia sẻ lợi ích kinh tế có được
nhờ sự liên kết cần thiết. Tại một khu vực địa lý nhất định (nhưng chỉ ước lệ chứ
không có ranh giới xác định) có nhiều doanh nghiệp liên kết với nhau, hỗ trợ nhau,

7
Nguyên văn tiếng anh là: Everything is related to everything else, but near things are more related than
distant things.
8
Trong luận án của Ngô Thúy Quỳnh đã đúc rút đặc điểm cơ bản nhất của lý thuyết Cluster, luận văn tham
khảo kết quả này.

Trích đoạn Hiện trạng tổ chức lãnh thổ theo định hướng phát triển của huyện Đóng góp của các hình thức tổ chức lãnh thổ vào phát triển kinh tế: Tổ chức lãnh thổ nông thôn và đô thị: Hiện trạng sử dụng tài nguyên nước Hiện trạng sử dụng tài nguyên đa dạng sinh học
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status