Nâng cao năng lực vận hành công nghệ của các bệnh viện đa khoa tuyến huyện (Nghiên cứu tại tỉnh Bắc Ninh - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN QUANG MINH
NÂNG CAO NĂNG LỰC VẬN HÀNH CÔNG NGHỆ
CỦA CÁC BỆNH VIỆN ĐA KHOA TUYẾN HUYỆN
(NGHIÊN CỨU TẠI TỈNH BẮC NINH)

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Hà Nội, tháng 01 năm 2014

2


của các Thầy, Cô trong Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả
trong suốt khóa học.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Hoàng Đình Phi,
người hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện giúp đỡ,
chỉ bảo tác giả trong quá trình thực hiện luận văn.
Tác giả cảm ơn Sở y tế tỉnh Bắc Ninh, Các Bệnh viện đa khoa tuyến huyện
tại tỉnh Bắc Ninh đã giúp đỡ trong suốt quá trình thu thập thông tin thực trạng tại
địa phương để tác giả sớm hoàn thành nhiệm vụ.
Do hạn chế về thời gian và năng lực của bản thân cho nên luận văn này
chắc chắn còn nhiều khiếm khuyết. Tác giả mong nhận được sự thông cảm và
nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, các cô, các nhà khoa
học, các chuyên gia và đồng nghiệp giúp cho luận văn của tác giả được hoàn
thiện hơn!

Tác giả luận văn
Nguyễn Quang Minh

4
MỤC LỤC


1.4.1. Khái niệm tiêu chí đánh giá 29
1.4.2. Khung tiêu chí đánh giá năng lực vận hành công nghệ của một bệnh viện 30
Kết luận Chương 1 33
Chương 2. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC VẬN HÀNH CÔNG NGHỆ CỦA CÁC
BỆNH VIỆN ĐA KHOA TUYẾN HUYỆN, TỈNH BẮC NINH 35
2.1. Giới thiệu khái quát về các BVĐK tuyến huyện tại tỉnh Bắc Ninh 35
2.1.1. Nhiệm vụ chung của BVĐK tuyến huyện 36
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ cụ thể 37
2.1.3. Tổ chức cán bộ 39
2.2. Thực trạng nhân lực KH&CN của các BVĐK tuyến huyện tại tỉnh Bắc Ninh 40
2.2.1. Thực trạng số lượng nhân lực KH&CN so với nhu cầu thực tế tại các
BVĐK tuyến huyện, tỉnh Bắc Ninh 40
2.2.2. Thực trạng trình độ và kỹ năng của nhân lực KH&CN so với nhu cầu thực
tế tại các BVĐK tuyến huyện tỉnh Bắc Ninh 44
2.3. Năng lực sử dụng hay vận hành các thiết bị công nghệ. 49
2.4. Năng lực sửa chữa và bảo trì thiết bị công nghệ của các BVĐK tuyến huyện tại
tỉnh Bắc Ninh. 53
Kết luận Chương 2. 55
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC VẬN HÀNH CÔNG
NGHỆ CỦA CÁC BVĐK TUYẾN HUYỆN, TỈNH BẮC NINH 57
3.1. Nâng cao năng lực chung của đội ngũ nhân lực KH&CN của các BVĐK tuyến
huyện tại tỉnh Bắc Ninh 57
3.1.1. Nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ quản lý 58
3.1.2. Chính sách tuyển dụng, đãi ngộ đội ngũ nhân lực vận hành công nghệ
BVĐK tuyến huyện 59
3.1.3. Giải pháp tăng cường công tác tuyên truyền về chính sách đãi ngộ và thu
hút nhân tài về công tác tại BVĐK tuyến huyện. 63

6
3.2. Nâng cao năng lực hoạch định và thực thi các kế hoạch kiểm soát công nghệ sản

APCTT
Trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á - Thái Bình
Dương
BVĐK
Bệnh viện đa khoa
BYT
Bộ y tế
Dân số - KHHGĐ
Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
DN
Doanh nghiệp
KH&CN
Khoa học và công nghệ
KHXHNV
Khoa học xã hội nhân văn
NGO
Non-governmental organization (Tổ chức phi chính phủ)
NCPT hay R&D
Nhân lực nghiên cứu phát triển, hay còn gọi là R&D
(research and development),
NXB
Nhà xuất bản
OECD
Organisations for Economic Co-operation and
Development (Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế)
ODA
Official Development Assistance (Hỗ trợ phát triển
chính thức)

Quyết định

bệnh viện đa khoa tuyến huyện tại tỉnh Bắc Ninh năm
2012
43
Biểu 2.4:
Tổng hợp đánh giá chất lượng nguồn nhân lực KH&CN
qua các năm 2008-2012.
44
Biểu 2.5:
Tổng hợp công tác đào tạo nguồn nhân lực KH&CN
của các BVĐK tuyến huyện giai đoạn 2008-2012
45
Biểu 2.6:
Năng lực vận hành các công nghệ tại các BVĐK tuyến
huyện.
47
Biểu 2.7:
Tổng hợp kinh phí sửa chữa trang thiết bị chuyên dụng
phục vụ khám chữa bệnh tại các BVĐK cấp huyện.
49 9
PHẦN MỞ ĐẦU


Thực tế đặt ra yêu cầu phải có một đội ngũ nhân lực KH&CN có đủ trình
độ và khả năng để vận hành công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh
phục vụ nhân dân. Đội ngũ này phải có năng lực công nghệ thực sự. Từ đó họ sử
dụng và khai thác hết các công năng của thiết bị trong lĩnh vực hoạt động của
ngành.
Trong phạm vi đề tài này, tác giả tập trung vào việc nâng cao năng lực vận
hành công nghệ cho đội ngũ cán bộ KH&CN tại các bệnh viện đa khoa tuyến
huyện trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh nhằm nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh phục
vụ nhân dân.

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1. Tổng quan các tác giả (chủ yếu) đã nghiên cứu chủ đề này
Theo số liệu thống kê ngành y tế, tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 201-2012 đã có
đề tài sau:
- Nghiên cứu triển khai ứng dụng các phương pháp chẩn đoán mới, điều trị
mới;
- Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và phương pháp điều trị trong lâm sàng;
- Tổng kết mô hình bệnh tật;
- Nghiên cứu mô hình, quy trình chăm sóc bệnh nhân;
- Nghiên cứu bệnh lý trong cộng đồng như đái đường, tăng huyết áp
Và một số đề tài khác đã được thực hiện như:
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Kiên (2011)“Sáng kiến cải tiến giá để
phim chụp tư thế HIRTZ - bệnh nhân nằm giữa tia X chiếu từ cằm - đỉnh sọ tới

11
phim” tại bệnh viện đa khoa huyện Thuận Thành. Đây là đề tài cải tiến kỹ thuật
có liên quan trực tiếp tới việc nâng cao năng lực vận hành công nghệ.
Tác giả Bùi Thị Thủy (2010) - Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại viện 354
Học viện kỹ thuật Quân sự. Trong báo cáo này, tác giả miêu tả cụ thể các bước
vận hành và bảo dưỡng cho từng công nghệ cụ thể trong một bệnh biện như: Nồi

trạng bệnh nhân đái tháo đường và một số yếu tố liên quan ở lứa tuổi 30-64 tại
tỉnh Bắc Ninh của tác giả Nguyễn Chí Hành; Sáng kiến cải tiến giá để phim chụp
tư thế HIRTZ - bệnh nhân nằm giữa tia X chiếu từ cằm - đỉnh sọ tới phim tại
bệnh viện đa khoa huyện Thuận Thành của tác giả Nguyễn Đức Kiên.
Trong giai đoạn 2010 - 2012, tại 14 đơn vị khám chữa bệnh trong ngành
đã triển khai 1.233 kỹ thuật trong phân tuyến, 116 kỹ thuật vượt tuyến, nâng tổng
số kỹ thuật thực hiện trong phân tuyến của các đơn vị đạt 70%. Trong đó, một số
đơn vị thực hiện kỹ thuật trong phân tuyến đạt tỷ lệ khá như: BVĐK Quế Võ
85,8%, BVĐK Từ Sơn 80,8%, BVĐK Thuận Thành 75%. Một số đơn vị thực
hiện nhiều kỹ thuật vượt tuyến như BVĐK tỉnh 74 kỹ thuật, BVĐK Từ Sơn 14
kỹ thuật.
Một số kỹ thuật mới được triển khai đem lại hiệu quả cao trong công tác
chăm sóc và bảo về sức khỏe nhân dân như: Kỹ thuật IUI (Điều trị vô sinh bằng
bơm trực tiếp tinh trùng vào buồng tử cung) của Trung tâm chăm sóc sức khỏe
sinh sản; Xét nghiệm chẩn đoán bệnh lý tuyến giáp của Trung tâm Y tế dự phòng
tỉnh; Chạy thận nhân tạo, phẫu thuật thần kinh của BVĐK tỉnh Bắc Ninh, Các
kỹ thuật mới được triển khai đã giúp cho việc nâng cao chất lượng chẩn đoán và
điều trị, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân được tiếp cận dịch vụ y tế tốt tại
địa phương, đồng thời cũng mang lại thương hiệu, kinh tế cho các đơn vị.
Từ năm 2010, thực hiện Đề án 1816 (Quyết định số 1816/QĐ-BYT phê
duyệt Đề án “Cử cán bộ chuyên môn luân phiên từ bệnh viện tuyến trên về hỗ

13
trợ các bệnh viện tuyến dưới nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh” (sau
đây viết tắt là Đề án 1816) đã có nhiều lượt cán bộ tuyến Trung ương, tỉnh thuộc
các lĩnh vực Nội, Sản, Ngoại, Y học cổ truyền về tăng cường cho các đơn vị
tuyến tỉnh. Đã có 12 cán bộ của BVĐK tỉnh thực hiện chuyển giao 19 kỹ thuật
cho các BVĐK các huyện/thị xã. Kết quả thực hiện Đề án 1816 đã góp phần
nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn kỹ thuật của các đơn vị trong ngành
y tế tỉnh Bắc Ninh.

chung, cũng như các yếu tố tác động trực tiếp đến năng lực vận hành công nghệ
của đội ngũ nhân lực KH&CN của các bệnh viện đa khoa tuyến huyện tại tỉnh
Bắc Ninh.
- Về thời gian: Nghiên cứu các hoạt động liên quan từ năm 2008 đến năm
2012. Việc lấy mốc năm 2008 là do thời gian có hạn của nghiên cứu nên tác giả
chỉ khảo sát trong khoảng thời gian là 5 năm.

5. Mẫu khảo sát
Trong phạm vi nghiên cứu, Học viên chọn mẫu khảo sát là 7 BVĐK tuyến
huyện. Đồng thời thu thập các ý kiến nhận xét của Giám đốc BVĐK tuyến huyện
thông qua mẫu phiếu khảo sát về các nội dung liên quan tới việc vận hành thiết
bị công nghệ, phiếu khảo sát được gửi trực tiếp đến 7/7 Giám đốc bệnh viện đa
khoa tuyến huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh.
6. Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng năng lực vận hành công nghệ của các bệnh viện đa khoa
tuyến huyện tại tỉnh Bắc Ninh trong 5 năm vừa qua như thế nào?
- Cần phải có những giải pháp nào để nâng cao năng lực vận hành công
nghệ của các bệnh viện đa khoa tuyến huyện tại tỉnh Bắc Ninh?

15
7. Giả thuyết nghiên cứu
- Năng lực vận hành công nghệ của các bệnh viện đa khoa tuyến huyện tại
tỉnh Bắc Ninh hiện nay đang ở mức trung bình và thấp do: Khó khăn trong việc
huy động nhân lực KH&CN của bệnh viện đa khoa tuyến huyện trong việc vận
hành công nghệ vì số lượng nhân lực có trình độ và kỹ năng còn hạn chế.
- Cần phải có một số giải pháp sau để nâng cao năng lực vận hành công
nghệ của các bệnh viện đa khoa tuyến huyện tại tỉnh Bắc Ninh:
+ Nâng cao năng lực chung của đội ngũ nhân lực KH&CN của các Bệnh
viện đa khoa tuyến huyện.
+ Nâng cao năng lực hoạch định và thực thi các kế hoạch kiểm soát công

khoa tuyến huyện tại tỉnh Bắc Ninh.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực vận hành công nghệ của
các bệnh viện đa khoa tuyến huyện tại tỉnh Bắc Ninh. 17
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC VẬN HÀNH CÔNG NGHỆ
CỦA CÁC TỔ CHỨC Y TẾ

1.1. Công nghệ là gì?
Công nghệ được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Điều quan trọng là
phải nhận diện sự khác biệt trong mỗi cách tiếp cận. Hiện tại, có hàng loạt định
nghĩa minh họa các khía cạnh khác nhau về công nghệ. Nhưng đa số các định
nghĩa công nghệ đều đề cập đến:
1/ Các quy trình làm thay đổi đầu vào và đầu ra
2/ Vận dụng tri thức để thực hiện công việc
3/ Kiến thức lý thuyết và thực tiễn, và kỹ năng vận dụng để phát triển sản
phẩm cũng như sản xuất và hệ thống phân phối

gốc từ technologia, hay τεχνολογια, trong tiếng Hy Lạp; techne có nghĩa là thủ
công và logia có nghĩa là "châm ngôn" là một thuật ngữ rộng ám chỉ đến các
công cụ và mưu mẹo của con người. Tuỳ vào từng ngữ cảnh mà thuật ngữ công
nghệ có thể được hiểu.”[22; tr1]
Ngoài ra có một số định nghĩa về công nghệ như sau:
- Định nghĩa 1: “công nghệ là dạng kiến thức có thể áp dụng được vào
việc sản xuất ra các sản phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm mới”[5; tr 105].
Trong định nghĩa này, bản chất của công nghệ là dạng kiến thức và mục tiêu sử
dụng công nghệ là áp dụng vào sản xuất và tạo ra các sản phẩm mới.
- Định nghĩa 2: “công nghệ là một hệ thống tri thức về quá trình chế biến
vật chất hoặc/và thông tin, về phương tiện và phương pháp chế biến vật chất
hoặc/và thông tin” . Công nghệ là một tập hợp của phần cứng và phần mềm, bao
gồm 4 yếu tố: Phần kỹ thuật (vật thể), phần thông tin, phần con người và phần
thiết chế tổ chức.” [5; tr 105]

19
- Thể hiện ở dạng vật thể (vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy móc,
sản phẩm hoàn chỉnh, )
- Thể hiện ở dạng con người (kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm).
- Thể hiện ở dạng ghi chép (bí quyết, quy trình, phương pháp, dữ kiện
thích hợp được mô tả trong các ấn phẩm, tài liệu, v.v )
- Thể hiện ở dạng thiết chế tổ chức (dịch vụ, phương tiện truyền bá, công
ty tư vấn, cơ cấu quản lý, cơ sở luật pháp, ).
Theo Luật chuyển giao công nghệ năm 2006: “Công nghệ là giải pháp,
quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng
để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.”
Công nghệ còn được định nghĩa gắn liền với phương trình công nghệ:
“công nghệ là việc sử dụng sáng tạo các loại công cụ, máy móc, tri thức và kỹ
năng để biến đổi các yếu tố đầu vào thành sản phẩm hay dịch vụ”. Phương trình
công nghệ T = M + K + S (T – Technology; M – Machines/tools; K –

là sản phẩm đầu ra của một công nghệ hay hệ thống công nghệ.

1.2. Khái quát về năng lực công nghệ
Khái niệm năng lực được sử dụng trong nhiều hoạt động của đời sống xã
hội. Theo Đại từ điển tiếng Việt: “Năng lực là những điều kiện đủ hoặc vốn có
để làm ra một việc gì, năng lực tư duy của con người. Khả năng đủ để thực hiện
tốt một công việc có năng lực chuyên môn, năng lực tổ chức”. [21; tr 1172]
Đã có một số nhà khoa học và tổ chức quốc tế nghiên cứu và đưa ra một
số khái niệm về năng lực công nghệ.
+ Khái niệm 1: “Năng lực công nghệ là sự kết hợp ba loại khả năng độc
lập, đó là: khả năng lĩnh hội công nghệ độc lập, khả năng sáng tạo công nghệ
độc lập, khả năng thăm dò công nghệ của thế giới một cách độc lập”. [14; tr 18]
+ Khái niệm 2: “Năng lực công nghệ là khả năng mua được công nghệ,
vận hành công nghệ, sao chép, phát triển và đổi mới công nghệ”. [14; tr 18]
+ Khái niệm 3: “Năng lực công nghệ là năng lực của ba loại năng lực :
Năng lực sản xuất gồm (Quản lý sản suất, kỹ thuật sản xuất, bảo trì tư liệu sản
xuất và tiếp thị sản phẩm); năng lực đầu tư gồm (quản lý dự án, thực hiện dự án,
năng lực mua sắm và đào tạo nhân công); Năng lực đổi mới gồm (sáng tạo và
đưa kỹ thuật mới vào hoạt động kinh tế)”. [14; tr 18]
Có một số loại năng lực công nghệ như: Năng lực vận hành, năng lực làm
chủ, năng lực sao chép, năng lực cải tiến, năng lực đổi mới. Các yếu tố cấu thành
năng lực công nghệ gồm: Năng lực nghiên cứu và triển khai (R&D), hạ tầng
thông tin, hạ tầng công nghiệp, năng lực dịch vụ kỹ thuật.
Năng lực công nghệ được đưa ra là “việc sở hữu, phát triển và sử dụng có
hiệu quả các loại công nghệ khác nhau để hình thành một hệ thống công nghệ

21
tích hợp trong doanh nghiệp hay tổ chức”. Năng lực công nghệ của DN hay tổ
chức thường được chia làm 5 nhóm yếu tố cấu thành là:
(1) Năng lực thiết bị và hạ tầng công nghệ

nhân lực KH&CN” của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), thì nhân
lực KH&CN bao gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau
đây:
(1) Đã tốt nghiệp đại học và cao đẳng và làm việc trong một ngành
KH&CN;
(2) Đã tốt nghiệp đại học và cao đẳng, nhưng không làm việc trong một
ngành KH&CN nào;
(3) Chưa tốt nghiệp đại học và cao đẳng, nhưng làm một công việc trong
một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi trình độ tương đương.
Đây chính là khái niệm nhân lực KH&CN theo nghĩa rộng. Theo đó, có thể
hiểu nhân lực KH&CN bao gồm cả những người đã tốt nghiệp đại học nhưng
không làm việc trong lĩnh vực KH&CN. Khái niệm này dường như quá rộng để
thể hiện nguồn nhân lực hoạt động KH&CN của một quốc gia.
Do vậy, các nước thường sử dụng khái niệm nhân lực nghiên cứu phát triển
(NCPT), hay còn gọi là R&D (research and development), để thể hiện lực lượng
lao động KH&CN của mình.
Theo Hướng dẫn thống kê NCPT của OECD, nhân lực NCPT bao gồm
những người trực tiếp tham gia vào hoạt động NCPT hoặc trực tiếp hỗ trợ hoạt
động NCPT. Nhân lực NCPT được chia thành 3 nhóm:
- Nhóm 1: Cán bộ nghiên cứu (nhà nghiên cứu/nhà khoa học/kỹ sư nghiên
cứu).
Đây là những cán bộ chuyên nghiệp có trình độ cao đẳng/đại học, thạc sĩ
và tiến sĩ hoặc không có văn bằng chính thức, song làm các công việc tương

23
đương như nhà nghiên cứu/nhà khoa học, tham gia vào quá trình tạo ra tri thức,
sản phẩm và quy trình mới, tạo ra phương pháp và hệ thống mới.
- Nhóm 2: Nhân viên kỹ thuật và tương đương.
Nhóm này bao gồm những người thực hiện các công việc đòi hỏi phải có
kinh nghiệm và hiểu biết kỹ thuật trong những lĩnh vực của KH&CN. Họ tham

số nhân lực có trình độ” và “Số nhân lực có trình độ hiện đang công tác”.

24
Quan điểm của UNESCO về hai khái niệm này là:
- “Tổng số nhân lực có trình độ” cần phải được xem xét như một đại
lượng đo, bởi qua đó có thể biết được tổng số những người được đào tạo để có
năng lực trở thành nhà khoa học và kỹ sư, bất kể hiện tại họ có làm việc theo
năng lực này hay không. Nói cách khác, đại lượng này thể hiện cho tiềm năng
của một quốc gia về nhân lực KH&CN. Tổng số nhân lực có trình độ chính là
chỉ số nhân lực KH&CN.
- “Số nhân lực có trình độ hiện đang công tác” phản ánh số lượng cán bộ
thực sự đang làm việc theo năng lực của họ (không chắc là làm trong lĩnh vực
KH&CN hay không) và đang đóng góp cho các hoạt động kinh tế của một đất
nước. Số nhân lực có trình độ hiện đang công tác chính là chỉ số nhân lực
NCPT.
Trên cơ sở này, UNESCO đã đưa ra sự phân biệt tương đối giữa các khái
niệm nhân lực trong lĩnh vực KH&CN nói chung như sau: Nhân lực trong lĩnh
vực KH&CN không đơn giản là phép tính cộng tổng đầu người, mà bên cạnh
việc đếm đầu người cần phải tính đến yếu tố khác như: Quy đổi tương đương
thời gian làm việc đầy đủ (Full-Time Equivalent, FTE) và các đặc trưng của họ.
Khuyến nghị của OECD và UNESCO được nhiều quốc gia áp dụng. Các
nước OECD như Thái Lan, Trung Quốc và Nhật Bản… đều chú trọng vào nhân
lực NCPT theo các tiêu chí cụ thể như: Đếm đầu người (headcount), FTE.
Trong khi đó, hệ thống số liệu nhân lực KH&CN của Việt Nam hiện nay
mới chỉ là phương thức phản ánh “tổng số nhân lực có trình độ” của một quốc
gia.
Hiện nay, các lực lượng tham gia hoạt động KH&CN nước ta gồm 5 thành
phần chủ yếu sau đây:
1. Cán bộ nghiên cứu trong các viện, trường đại học.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status