1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
٭٭٭٭٭ ٭٭٭٭ ĐỖ THỊ VÂN HÀ VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ VĂN HOÁ TRONG XÂY
DỰNG Ý THỨC CÔNG DÂN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC Chuyên ngành : CNXHKH
Mã số : 602285 Người hướng dẫn khoa học: TS. LƯU MINH VĂN
HÀ NỘI - 2009
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
Chương 1 Ý THỨC CÔNG DÂN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NHÂN TỐ VĂN
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam
dựng một xã hội Việt Nam theo hướng hiện đại, xã hội chủ nghĩa, dân chủ
mới diễn ra trong gần bốn thập kỷ. Đó là khoảng thời gian còn tương đối
ngắn để hình thành “con người công dân” đúng nghĩa.
Người Việt Nam truyền thống vốn quen sống với tập tục, tôn ti của xã
hội phong kiến, nay với tư cách là công dân của một xã hội dân chủ, phải xây
dựng ý thức tôn trọng pháp luật, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật
là điều không dễ. Do vậy, quá trình ấy đòi hỏi phải phối hợp nhiều biện
pháp, nhiều cách thức khác nhau mới có thể hình thành ý thức độc lập, tự
chủ, tự giác và tuân thủ luật pháp vốn là những đặc điểm không thể thiếu của
con người công dân. Chẳng hạn, cần xây dựng những điều kiện kinh tế - xã
hội làm cơ sở để xây dựng một xã hội dân chủ, cần tiến hành tuyên truyền,
phổ biến và giáo dục đến mỗi công dân về quyền lợi, trách nhiệm của họ
trong đất nước, cũng như về cách thức để thực hiện quyền lợi và trách nhiệm
đó. Bản thân việc tuyên truyền, phổ biến và giáo dục ý thức công dân cũng
cần được tiến hành bằng nhiều biện pháp khác nhau nhằm đạt đến hiệu quả
cao nhất, như sử dụng công cụ luật pháp với các chế tài thích hợp để hình
thành nên ở công dân ý thức về việc thực hiện vai trò và trách nhiệm công
dân của mình; kết hợp với việc sử dụng các biện pháp giáo dục công dân
trong nhà trường, qua các phương tiện thông tin đại chúng Trong các con
đường giáo dục nên ý thức công dân, văn hoá là con đường cần chú ý. Bởi,
với tư cách là chủ thể, đồng thời là “vật mang” văn hoá, con người hoạt động,
tác động đến môi trường xung quanh dựa trên những chuẩn thức văn hoá -
những giá trị đã trở thành tiềm thức, đã trở thành tập quán mà mỗi người được
thừa hưởng từ truyền thống và giáo dục. Chính vì vậy, việc thông qua công cụ
văn hoá để chuyển tải những nội dung mới của việc xây dựng ý thức công dân
5
không những khiến cho mỗi người dân có thể dễ dàng tiếp cận và hiểu được
vai trò, trách nhiệm công dân của mình mà còn có thể góp phần nhanh chóng
hình thành thái độ đúng đắn của các công dân trong việc thực hiện vai trò và
khác nhau và từ việc nghiên cứu các tài liệu lý luận, các tác giả đã chỉ ra hiện
trạng ý thức và lối sống theo pháp luật của con người Việt Nam, làm sáng tỏ
những ảnh hưởng của phương thức sản xuất, của văn hoá, đạo đức và tập
quán truyền thống, của điều kiện phát triển đất nước đến ý thức và lối sống
theo pháp luật của con người Việt Nam, đồng thời đề xuất những biện pháp
nhất định nhằm xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật cho các tầng lớp
dân cư.
- Đào Trí Úc (cb) (2005): Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Cuốn sách tập hợp kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học tham gia
đề tài KHXH.05.05. Qua việc phân tích lịch sử, đặc trưng, hiện thực của nhà
nước pháp quyền ở các nước tư sản, phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác -
Lênin về nhà nước và pháp luật, chỉ ra các tiền đề tư tưởng của nhà nước pháp
quyền Việt Nam, các tác giả đi tới làm rõ những giải pháp, những điều kiện
cần thiết cho việc bảo đảm, duy trì bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của
dân, do dân, vì dân. Mặc dù công trình này không trực tiếp bàn đến vấn đề
xây dựng ý thức công dân ở Việt Nam hiện nay, nhưng thông qua việc nghiên
cứu thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền và xã hội dân chủ ở Việt Nam
hiện nay, công trình đã gián tiếp đề cập đến vai trò của công dân, ý thức công
dân và việc xây dựng ý thức công dân trong quá trình xây dựng nhà nước
pháp quyền ở nước ta.
- Bùi Ngọc Sơn (2004): Xây dựng nhà nước pháp quyền trong bối cảnh
văn hoá Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội
Trong cuốn sách, tác giả đã chỉ ra sự tác động của các yếu tố văn hoá
truyền thống của dân tộc đến việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam.
7
Từ đó, tác giả chỉ ra những phương hướng cơ bản để xây dựng nhà nước pháp
quyền trong bối cảnh văn hoá Việt Nam. Mặc dù cuốn sách không đề cập trực
tiếp đến vấn đề công dân và ý thức công dân, song những phân tích của tác
thể nói, đây là công trình bàn rất kỹ đến vai trò của các giá trị văn hoá truyền
thống đối với sự phát triển của con người Việt Nam hiện đại - con người của
xã hội dân chủ.
- Hồ Sĩ Quý (1999): Tìm hiểu về văn hoá và văn minh, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội
Trên cơ sở phân tích sự tương đồng và dị biệt giữa hai khái niệm văn
hoá và văn minh, khẳng định cách nhìn văn hoá đối với sự vận động và phát
triển xã hội, tác giả đi đến lý giải về vai trò của nhân tố văn hoá trong nền văn
minh, về văn hoá với định hướng giá trị xã hội và truyền thống, văn hoá và
tiến bộ xã hội…Từ đây, tác giả đi đến khẳng định, xã hội muốn có hạnh phúc
thì công bằng xã hội phải là bạn đồng hành với sự tiến triển của văn minh. Đó
cũng là khía cạnh văn hoá của sự phát triển. Cũng từ đây, tác giả đi đến khẳng
định vai trò của việc phát huy những ưu trội trong bản sắc văn hoá Việt Nam
trong xã hội hiện nay.
Ngoài ra, còn có thể kể đến các công trình nghiên cứu khác tập trung
làm rõ khái niệm văn hoá và khẳng định vai trò của văn hoá đối với sự phát
triển của xã hội và con người như: Nguyễn Văn Huyên (2006): Văn hoá - mục
tiêu và động lực của sự phát triển, Tạp chí Cộng sản, số 114; Phan Ngọc
(1998): Bản sắc văn hoá Việt Nam, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội;
Nguyễn Huy Hoàng (2002): Mấy vấn đề triết học văn hoá, Nxb Văn hoá
thông tin, Hà Nội…
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến vấn đề xây
dựng ý thức công dân cũng như vấn đề văn hoá và vai trò của văn hoá đối với
sự phát triển xã hội nói chung và đối với sự phát triển xã hội Việt Nam nói
riêng. Tuy nhiên, chưa có công trình nào chỉ ra một cách trực tiếp và hệ thống
9
về vai trò, tác động của nhân tố văn hoá trong xây dựng ý thức công dân ở
nước ta hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
+ Ngoài ra, luận văn còn sử dụng những phương pháp cụ thể như: phân
tích, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Về lý luận, tác giả luận văn hướng đến nghiên cứu có tính khái quát
về sự tác động của nhân tố văn hóa đến xây dựng ý thức công dân.
- Những giải pháp về xây dựng ý thức công dân có thể dùng để tham
khảo trong giáo dục công dân ở nước ta hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 2 chương, 5 tiết.
11
Chương 1
Ý THỨC CÔNG DÂN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NHÂN TỐ
VĂN HOÁ ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH Ý THỨC CÔNG DÂN
1.1 Công dân và ý thức công dân
1.1.1. Khái niệm công dân
Từ khi xuất hiện, triết học đã nghiên cứu về con người với tư cách là
sử. Lịch sử phát triển xã hội loài người thực chất cũng là lịch sử của quá trình
giải phóng con người. Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, người lao động bị coi
chỉ như công cụ biết nói. Trong xã hội phong kiến, dù đã được giải phóng về
thân thể, nhưng đa số người dân vẫn không có được quyền quyết định đối với
vận mệnh của bản thân do những trói buộc về ý thức hệ, thể chế chính trị và
cả văn hóa. Trong điều kiện như vậy, cả điều kiện khách quan và chủ quan để
người dân có thể tác động đến công việc của chính quyền là cánh cửa vô cùng
hẹp. Trên thực tế, công việc nhà nước, công việc chung của xã hội đều nằm
trong tay tầng lớp thượng lưu. Và quan hệ chủ đạo giữa người dân và người
cầm quyền là quan hệ “quân - thần”. Đó là quan hệ lấy sự tuân phục một
chiều của người dân với người cầm quyền là chiều vận động cơ bản. Chính vì
vậy, người dân chưa hình thành ý thức tích cực, chủ động tham gia vào các
công việc chung của cộng đồng xã hội cũng là điều hiển nhiên.
Từ những nhận định trên có thể thấy, để chuyển từ con người nô lệ, thần
dân sang con người công dân là hệ quả của quá trình biến đổi xã hội lớn (cách
mạng) về kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa. Trên phương diện này thắng lợi
của cách mạng tư sản là mốc quan trọng của lịch sử phát triển con người công
dân bởi sức mạnh giải phóng người dân của nó. Từ địa vị là thần dân, mỗi
người dân đã được thừa nhận nhận về mặt pháp lý các quyền tự do, dân chủ, đã
được khuyến khích và tạo điều kiện phát triển năng lực làm chủ xã hội. Tuy
nhiên với những giới hạn giai cấp của nó, cuộc cách mạng tư sản không thể giải
13
quyết trọn vẹn những rào cản để người dân phát triển đầy đủ năng lực làm chủ
xã hội của mình.
Về lịch sử nhận thức, có thể thấy, khái niệm công dân đã phôi thai từ
thời cổ đại Hy Lạp – La Mã và được nhiều nhà triết học, nhà tư tưởng đề cập
đến. Ở đây chúng tôi chỉ điểm qua quan niệm của Arixtốt. Khái niệm công dân
được Arixtốt trình bày chủ yếu trong tác phẩm “Chính trị” – một cuốn sách đặc
sắc về triết học chính trị, chính trị học và về xã hội của ông. Đại thể quan điểm
đối với vị vua của mình. Trong một xã hội như thế, số phận của người dân
phụ thuộc vào con người cá nhân của các ông vua. Nếu đó là ông vua đức độ,
nhân từ, biết chăm lo cho dân thì những điều tốt đẹp mà người dân được
hưởng ấy cũng là ân huệ từ vua chứ không phải là quyền chính đáng của
người dân. Quan hệ đó là quan hệ một chiều.
Ở thời kỳ cận đại, cùng với sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ
nghĩa, những tư tưởng về giải phóng con người khỏi mọi ràng buộc của chế
độ phong kiến đã nảy nở và phát triển mạnh mẽ. Cùng với điều đó, quan niệm
về công dân đã có bước phát triển mới. Đóng góp lớn cho điều đó trước hết
thuộc về các nhà triết học, nhà tư tưởng tiêu biểu của chủ nghĩa tự do như
Spinoza, Hobbs, Locke, Montesquieu, Rousseau, Tocqueville, Mill…
Khi khẳng định chế độ dân chủ là hình thức nhà nước tốt nhất vì chỉ
trong nhà nước dân chủ các quyền tự nhiên của con người (quyền sở hữu,
quyền tự do, quyền được hạnh phúc…) mới thực sự được đảm bảo, các nhà tư
tưởng của trường phái nêu trên đã tiến một bước quan trọng trong quan niệm
về công dân.
Trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền” J. Locke đã đưa ra
luận điểm quan trọng mà sau này trở thành cơ sở không chỉ cho lý thuyết về
công dân mà cả lý thuyết về nhà nước pháp quyền: thứ nhất, mọi người sinh
ra đều có các quyền tự nhiên “bình đẳng và bất khả chuyển nhượng”; thứ hai,
về bản chất nhà nước và luật pháp là công cụ bảo vệ và thực thi quyền của các
15
công dân. Ông nhận xét: Tự do của con người dưới một chính quyền, là có
một quy tắc để tất cả sống theo đó, nó tồn tại thường trực và chung cho mọi
người trong xã hội, được định ra từ quyền lực lập pháp đã được xã hội dựng
lên. Đó là quyền tự do được làm theo ý muốn riêng trong mọi trường hợp, nếu
như ý muốn đó không bị luật pháp ngăn cấm và không phụ thuộc vào ý chí
độc đoán thường xuyên, không xác định và không rõ ràng của người khác.
[Xem: 27, 57- 58]
Học thuyết của Montesquieu và Locke về phân quyền với tư cách là
thiết chế bảo đảm quyền lợi và tự do cho công dân đã có những ảnh hưởng
sâu sắc không chỉ đối với các luận điểm lý thuyết về nhà nước pháp quyền
tiếp theo, mà còn đối với nền lập hiến tư sản thời kỳ đầu và chính sách pháp
luật nhà nước.
Sự phát triển tiếp theo của quan niệm về công dân có vai trò lớn của J.J.
Rousseau. Ông cho rằng, bước quá độ chuyển sang trạng thái tự do được đánh
dấu bằng sự ký kết khế ước xã hội. Theo khế ước đó, mỗi người dân tự
nguyện ký kết với nhau một thoả thuận ủy quyền hình thành chủ quyền tối
thượng (ý chí tối cao) do nhà nước đại diện từ tổng các quyền của công dân.
Cho nên về bản chất quyền lực nhà nước chính là quyền lực của các công dân.
Chính nhờ vậy mà các quyền của công dân như quyền tự do, quyền sống và
tài sản của mỗi cá nhân sẽ được đảm bảo bằng sức mạnh chung của cả cộng
đồng. Nhờ vậy, các quyền và tự do của công dân mang tính pháp lý.
Rousseau lập luận, trên cơ sở của khế ước xã hội dần dần hình thành
nên liên minh của những công dân tự do và bình đẳng, hình thành nên chế độ
cộng hoà. Trong đó, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân chứ không phải
quốc vương, nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua việc uỷ
quyền cho các đại biểu của mình trong bộ máy nhà nước. Tham gia vào nhà
nước, vào khế ước xã hội, con người từ bỏ trạng thái tự nhiên để bước sang
trạng thái dân sự. Công dân có trách nhiệm với nhà nước thế nào thì nhà nước
17
có trách nhiệm với công dân như thế ấy: “Những mối dây ràng buộc chúng ta
vào cơ thể xã hội chỉ là cưỡng chế khi nào nó là sự ràng buộc cả hai phía, có
đi có lại. Tính chất của nó là trong khi thực hiện sự ràng buộc, người ta vừa
làm cho kẻ khác lại vừa làm cho chính mình” [40, 87]
Khi khẳng định hình thức nhà nước tốt nhất là chế độ dân chủ nhằm
bảo đảm cho quyền lợi và tự do thực sự của con người, các nhà tư tưởng đã
gián tiếp đề cập đến việc khẳng định con người là tự do và có quyền làm chủ
nước có nghĩa vụ đối với công dân: nghĩa vụ tôn trọng và thực hiện đầy đủ,
nghiêm chỉnh, thống nhất pháp luật mà mình đã ban hành, bảo đảm mọi điều
kiện thuận lợi cho công dân thật sự được hưởng các quyền, lợi ích hợp pháp
và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với nhà nước, bảo vệ các quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân khi chúng bị xâm hại…
Thứ hai, công dân đối với nhà nước. Ở đây, công dân cũng có hai tư
cách: vừa là chủ thể của quyền lực nhà nước (người làm chủ đất nước), vừa là
đối tượng chi phối, quản lý của quyền lực đó. Với tư cách là chủ thể của
quyền lực nhà nước, công dân có quyền đối với nhà nước - quyền thiết lập các
cơ quan đại diện cho quyền lực của mình và bãi miễn đại biểu không còn tín
nhiệm đối với cử tri, tham gia quản lý nhà nước và xã hội, thảo luận các vấn
đề chung của cả nước và địa phương… Ở tư cách thứ hai, công dân phải thực
hiện nghĩa vụ đối với nhà nước: trung thành với tổ quốc, bảo vệ tổ quốc, tôn
trọng và bảo vệ tài sản của nhà nước, lợi ích công cộng…
Nội dung trên của khái niệm công dân là sự pháp lý hóa quan hệ giữa
cá nhân công dân với nhà nước và xã hội. Điều đó thể hiện nhà nước ghi nhận
và thừa nhận cá nhân có các quyền và nghĩa vụ công dân như thế nào trong
mối quan hệ với nhà nước được quy định trong Hiến pháp và pháp luật. Vì
thế, điều 50 Hiến pháp 1992 ghi nhận: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội
19
được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến
pháp và luật”. [46, 141]
Như vậy, công dân là khái niệm để chỉ cá nhân trong các mối quan hệ
cơ bản, chủ yếu và quan trọng nhất với một nhà nước nhất định được thể hiện
trong Hiến pháp và pháp luật của nhà nước đó. Nội dung của khái niệm công
dân chính là địa vị pháp lý giữa cá nhân công dân trong mối quan hệ với nhà
nước và xã hội. Điều đó có nghĩa là, không phải cá nhân trong mối quan hệ
với bất kỳ nhà nước nào cũng có tư cách công dân, mà chỉ khi nhà nước đó
các điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam cho những công dân nước ngoài
và người không có quốc tịch đang cư trú ở Việt Nam tự nguyện tuân thủ Hiến
pháp và pháp luật Việt Nam (điều 7), các điều kiện được trở lại quốc tịch Việt
Nam đối với những người đã mất quốc tịch Việt Nam nếu có lý do chính đáng
(điều 8, 9, 10, 11). Các quy định pháp lý về mất quốc tịch Việt Nam, bị tước
quốc tịch Việt Nam, được vào quốc tịch Việt Nam, được trở lại quốc tịch Việt
Nam thể hiện trong Luật quốc tịch nước ta đều phù hợp với các điều ước quốc
tế mà Việt Nam tham gia ký kết. Những cá nhân có quốc tịch Việt Nam đều là
công dân Việt Nam, dù ở trong nước hay nước ngoài đều được Nhà nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo đảm các quyền của công dân và
công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với nhà nước và xã hội. [Xem
15, 8 - 9]
Có ý thức và năng lực thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình là một
trong những đặc điểm quan trọng để nhận biết một công dân. Nhưng đặc điểm
quan trọng nhất của người công dân phải đề cập tới là ý thức, tính tích cực, chủ
động của bản thân họ trong việc tham gia quản lý xã hội, tham gia vào các công
việc chung của cộng đồng. Phạm vi cộng đồng ở đây không chỉ được giới hạn
hẹp trong mỗi gia đình, làng xóm, tập thể nhỏ mà rộng lớn hơn, là xã hội, đất
nước, và trong điều kiện toàn cầu hoá ngày nay, đó là toàn thế giới.
21
Chúng ta đều biết, mỗi công dân với tất cả các phẩm chất tự nhiên và
xã hội như quyền và nghĩa vụ, tự do và trách nhiệm, ý thức và văn hoá, nhân
đạo và công bằng, danh dự và nhân phẩm, thân thể và tài sản…luôn gắn liền
với bản chất của một kiểu nhà nước và pháp luật nhất định. Ở mỗi kiểu nhà
nước, công dân được có những quyền và nghĩa vụ khác nhau, phạm vi của tự
do mà công dân được hưởng cũng như những trách nhiệm mà họ phải đóng
góp cũng khác nhau…Đồng thời, các phẩm chất ấy cũng gắn liền với những
đặc điểm thuộc về truyền thống văn hoá của xã hội đó. Chính vì thế, trong
mỗi kiểu nhà nước cụ thể, ý thức của công dân cũng sẽ khác nhau. Nói cụ thể
Mặc dù quan hệ giữa con người ở một quốc gia với nhà nước là trục
xuyên suốt của khái niệm công dân, nhưng trong quan hệ với nhà nước, con
người với tư cách là những công dân cần bổ sung những tiêu chí cụ thể, trong
đó quan trọng nhất là sự thừa nhận bằng hiến pháp và pháp luật những quyền
và nghĩa vụ của cá nhân đối với nhà nước và với đời sống công cộng. Vì thế,
nếu con người sinh ra tự nó đã trở thành cá nhân thì để trở thành công dân,
người đó phải đáp ứng những yêu cầu nhất định do pháp luật của Nhà nước
quy định. Những yêu cầu đó phụ thuộc vào pháp luật của mỗi nước.
Vậy là, nếu như do nguồn gốc tự nhiên, ý thức xuất hiện cùng với sự
xuất hiện của loài người, thì phải đến giai đoạn con người có được tư cách
công dân của một chính thể, khi ấy ý thức của họ với tư cách là ý thức công
dân mới xuất hiện. Và bởi vì, ý thức của con người luôn là sự phản ánh hiện
thực khách quan, phản ánh những quan hệ xã hội khách quan, cho nên có thể
khẳng định, ý thức công dân ra đời trong quá trình phản ánh, khái quát hiện
thực khách quan của mối quan hệ giữa công dân với nhà nước và với cộng
đồng xã hội. Bởi vì khái niệm công dân luôn được đặt trong mối quan hệ với
Nhà nước, quan hệ giữa Nhà nước và công dân thể hiện qua các quyền, nghĩa
23
vụ công dân do Nhà nước quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật,
cho nên có thể hiểu: ý thức công dân là sự hiểu biết và thái độ trách nhiệm
của công dân với các quyền, nghĩa vụ của mình và với việc thực hiện quyền,
nghĩa vụ công dân của mình và của người khác.
Về mặt kết cấu, chúng ta biết rằng, ý thức bao gồm các yếu tố cơ bản
cấu thành như tri thức, thái độ, tình cảm, niềm tin, ý chí…, trong đó tri thức là
yếu tố cơ bản, cốt lõi. Tuy nhiên, sự tác động của thế giới bên ngoài đến con
người không chỉ đem lại hiểu biết về thế giới mà còn đem lại tình cảm của
con người đối với thế giới. Tình cảm là một hình thái đặc biệt của sự phản
ánh tồn tại, nó phản ánh quan hệ giữa người với người, giữa người với thế
giới khách quan. Tình cảm tham gia vào mọi hoạt động của con người và trở
thức, nhận thức của công dân mới biến thành hành động thực tế, mới được cụ
thể hoá trên thực tiễn và mới phát huy được sức mạnh của mình.
Chúng ta đều biết, khái niệm công dân luôn được đặt trong mối quan hệ
với Nhà nước. Quan hệ giữa Nhà nước và công dân thể hiện qua các quyền,
nghĩa vụ công dân do Nhà nước quy định trong Hiến pháp và các văn bản
pháp luật. Do vậy, những tri thức của công dân về quyền và nghĩa vụ của bản
thân mình trước hết là những tri thức về Hiến pháp, pháp luật của nhà nước,
về thể chế chính trị và vai trò, vị trí cũng như trách nhiệm của mỗi cá nhân
công dân trong việc tham gia vào thể chế chính trị và các mối quan hệ trong
xã hội đó.
Pháp luật là phương tiện để Nhà nước quản lý xã hội một cách dân chủ
và hiệu quả. Bởi vì pháp luật là các khuôn mẫu có tính phổ biến và bắt buộc
chung nên đảm bảo dân chủ, công bằng, phù hợp với ý chí và lợi ích chung
của đại đa số nhân dân lao động, tạo được sự đồng thuận, tự giác cao trong xã
hội đối với việc thực hiện pháp luật. Pháp luật được làm ra để điều chỉnh các
quan hệ xã hội một cách thống nhất trong toàn quốc và được bảo đảm bằng
sức mạnh của quyền lực nhà nước nên hiệu lực thi hành cao. Đồng thời, pháp