ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TẠ THỊ THANH HÀ SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA
LÝ TƯỞNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ
LÝ TUỞNG KITÔ GIÁO
Chuyên ngành : Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số : 60 22 85
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội CÁC CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN CNXH : Chủ nghĩa xã hội
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
CNTB : Chủ nghĩa tư bản
TBCN : Tư bản chủ nghĩa
CNCS : Chủ nghĩa cộng sản
CSCN : Cộng sản chủ nghĩa
St : Sách Sáng thế
Cn : Sách Châm ngôn
Am : Sách A – mốt
Đnl : Sách Đệ nhị luật
Tv : Sách Thánh vịnh
Is : Sách I- sai – a
Gio : Sách Giop
Gier : Sách Giê- rê- mi – a
Đn : Sách Đa- ni- en
Ds : Sách dân số
Ga : Sách Giô- na
Lc : Sách Lu ca 1
PHẦN MỞ ĐẦU
2
mâu thuẫn, bài trừ nhau, nên đã vô tình hay cố ý tiếp tay cho các thế lực phản động
gây phƣơng hại đến lợi ích của dân tộc.
Bên cạnh những thành công là cơ bản, công tác quản lý Nhà nƣớc với Công
giáo ở nƣớc ta trong những năm qua cũng có những hạn chế nhất định. Liên quan
tới vấn đề này, có nhiều điểm phải bàn, song về cơ bản, thiếu sót trong quản lý Nhà
nƣớc với Công giáo thƣờng bị rơi vào hai thái cực: một là, tuyệt đối hóa những
điểm tƣơng đồng giữa lý tƣởng Kitô giáovà lý tƣởng XHCN, điều này dẫn đến tƣ
tƣởng chủ quan, buông lỏng quản lý Nhà nƣớc đối với Công giáo; hai là, tuyệt đối
hóa những điểm khác biệt giữa lý tƣởng Công giáo và lý tƣởng XHCN, dẫn đến
nhận thức khắt khe, đề phòng với các tín đồ Công giáo về phía công tác quản lý
Nhà nƣớc, đồng thời gây tâm lý lo sợ cho các tín đồ giáo dân, cản trở xu thế hòa
nhập, tích cực trong Công giáo, giảm sút hiệu quả quản lý. Những thiếu sót đó đều
có thể là những nguyên nhân dẫn đến hiện tƣợng không bình thƣờng trong đời sống
Công giáo.
Vì vậy, nhận thức đúng đắn về sự tƣơng đồng và khác biệt giữa lý tƣởng XHCN
và lý tƣởng Kitô giáo là vấn đề mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn góp phần phát huy
những điểm tích cực, hạn chế những điểm tiêu cực của Công giáo trong quá trình xây
dựng XHCN ở nƣớc ta. Với ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết trên, tôi đã chọn vấn
đề “Sự tương đồng và khác biệt giữa lý tưởng XHCN và lý tưởng Kitô giáo” làm đề
tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trong những năm qua, do nhiều nguyên nhân khác nhau, việc nghiên cứu về
sự tƣơng đồng và khác biệt giữa lý tƣởng tôn giáo và lý tƣờng XHCN nói chung, và
sự tƣơng đồng giữa lý tƣởng XHCN và lý tƣởng Kitô giáo nói riêng còn ít đƣợc
quan tâm đúng mức. Sau khi Đảng ta có Nghị quyết số 24-NQ/TW và Nghị quyết số
37-NQ/TW, đặc biệt là Nghị quyết số 25-NQ/TW khẳng định “Tín ngưỡng, tôn giáo
là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc
biệt giữa CNXH và các tôn giáo cơ bản nằm ở thế giới quan cũng nhƣ phƣơng pháp
và lực lƣợng thực hiện sứ mệnh giải phóng con ngƣời.
Nhìn chung, trong các công trình nghiên cứu nêu trên, các tác giả đã tiếp cận
từ các góc độ khác nhau, đây là tƣ liệu quý giá mà tác giả có thế kế thừa, vận dụng
trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, nghiên cứu về sự
tƣơng đồng và khác biệt giữa lý tƣởng XHCN và lý tƣởng Kitô giáo là một nội dung
mới, khó khăn, phức tạp, cho đến nay, chƣa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu. Vì vậy,
tôi mạnh dạn đi sâu nghiên cứu vấn đề này trong luận văn. 4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Luận văn tập trung làm rõ một số nội dung cơ bản về sự tƣơng đồng và khác
biệt giữa lý tƣởng XHCN và lý tƣởng Kitô giáo, để động viên đồng bào Công giáo
tích cực tham gia vào công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xƣớng và lãnh đạo
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt đƣợc mục đích nêu trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm
vụ cơ bản sau:
+ Khái lƣợc sự phát triển từ CNXH không tƣởng đến CNXH khoa học và khái
quát đƣợc lịch sử hình thành và phát triển của Kitô giáo.
+ Phân tích sự tƣơng đồng và khác biệt giữa lý tƣởng XHCN và lý tƣởng Kitô giáo
+ Nêu bật đƣợc ý nghĩa của việc tìm hiểu sự tƣơng đồng và khác biệt giữa lý
tƣởng XHCN và lý tƣởng Kitô giáo với công tác tôn giáo của Nhà nƣớc XHCN Viêt
Nam hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Sự tƣơng đồng và khác biệt giữa lý tƣởng XHCN và lý tƣởng Kitô giáo.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tiếp cận với vấn đề đặt ra ở góc độ CNXH khoa học.
cho phù hợp.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc
kết cấu làm 03 chƣơng, 10 tiết. 6
B. PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
KHÁI LƢỢC CHUNG VỀ LỊCH SỬ TƢ TƢỞNG XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VÀ CÁC PHONG TRÀO KITÔ GIÁO
1.1.Một số khái niệm cơ bản
Khái niệm xã hội chủ nghĩa
Theo các tài liệu nghiên cứu cho đến nay mà chúng ta tiếp cận đƣợc thì thuật ngữ
“XHCN” (hay “CNXH”) lần đầu tiên đƣợc sử dụng ở Pháp vào cuối thế kỷ XVII, đầu thế
kỷ XVIII và đến giữa thế kỷ XIX thì đƣợc sử dụng rộng rãi ở Nga.
Cho đến nay, nội hàm của khái niệm “XHCN” không đồng nhất ở các tác giả
khác nhau. Với các tác giả ở các thời đại khác nhau sẽ đƣa ra cách hiểu khác nhau.
Các nhà tƣ tƣởng đại diện cho các tập đoàn, các giai cấp xã hội khác nhau, xuất
phát từ lợi ích khác nhau mà đƣa ra quan niệm khác nhau về “XHCN”. Chính bởi
vậy, chúng ta mới có các khái niệm “XHCN phong kiến”, “XHCN Cơ đốc giáo”,
“XHCN tiểu tƣ sản”, “XHCN tƣ sản”… Mặc dù khác nhau nhƣ vậy, nhƣng bản
thân các khái niệm “XHCN” dù ở thời đại nào cũng có những đặc điểm chung, và
đó cũng là cách hiểu khái quát nhất về thuật ngữ này.
Trong Tiếng Việt, các khái niệm “XHCN” và “CNXH” thƣờng đƣợc dùng đi
liền với nhau, có khi chúng đƣợc dùng thay thế lẫn nhau, nhƣng chúng lại thƣờng
đƣợc sử dụng nhƣ những thuật ngữ có ý nghĩa riêng biệt. Nhƣng dù là chung hay riêng
thì thuật ngữ “XHCN” hay “CNXH” thƣờng đƣợc dùng với các nội hàm sau đây:
Thứ nhất, dùng để chỉ những nhu cầu, mong ƣớc của nhân dân lao động về một
bức, bị bóc lột trong lịch sử nhằm đấu tranh, phê phán chống lại chế độ chính trị xã hội của
giai cấp thống trị bóc lột đƣơng thời, từ đó, hình thành nên những niềm tin, ƣớc mơ, khát
vọng về con đƣờng và cách thức nhằm xây dựng một xã hội không còn giai cấp, công bằng,
dân chủ và thịnh vƣợng trong tƣơng lai. Xuất phát từ sự phản kháng tinh thần đó, các nhà tƣ
tƣởng XHCN đã từng bƣớc xây dựng nên những quan niệm về một xã hội tƣơng lai tốt đẹp,
điển hình và hoàn thiện nhất chính là học thuyết của các nhà XHCN khoa học.
Nhƣ vậy, “Lý tƣởng XHCN” thực chất là một hệ thống những quan niệm về
những nhu cầu hoạt động thực tiễn và ƣớc mơ của các giai cấp lao động, bị thống trị; về
con đƣờng, cách thức và phƣơng pháp đấu tranh nhằm thực hiện việc xây dựng một chế 8
độ xã hội tốt đẹp, mà trong đó, tƣ liệu sản xuất chủ yếu thuộc về quyền sở hữu chung
của mọi thành viên và toàn xã hội, một xã hội không còn bóc lột, không còn áp bức và
bất công, mọi ngƣời đƣợc bình đẳng về mọi mặt và đều có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh
phúc, văn minh.
1.1.2. Khái quát về Kitô giáo và lý tưởng Kitô giáo
Khái quát về Kitô giáo
Kitô giáo là tên gọi chung của các tôn giáo (Công giáo, Chính thống giáo, Tin
lành và Anh giáo) cùng thờ một đấng Thƣợng đế là Christo, phiên âm tiếng Hán Việt là
Cơ đốc. Đạo này ra đời vào những năm đâu công nguyên, ở các tỉnh phía Đông đế quốc
La Mã cổ đại.
Khi mới ra đời, Kitô giáo xuất hiện dƣới hình thức những công xã nhỏ gồm
những ngƣời nô lệ và dân nghèo thành thị trong các dòng ngƣời Do Thái lƣu tán ở vùng
Tiếu Á. Do có thái độ chống lại chính quyền La Mã, đạo Kitô giáo bị chính quyền La
Mã thẳng tay đàn áp. Vụ tàn sát đầu tiên vô cùng khốc liệt diễn ra vào đầu năm 64 dƣới
triều hoàng đế Nêrôn.
Tuy bị xua đuổi và đàn áp nhƣng đạo Kitô giáo vẫn không ngừng phát triển. Đến
thế kỷ II, các công xã Kitô giáo đã liên hiệp lại và tổ chức thành giáo hội. Từ đây, trong
hàng ngũ tín đồ ngày càng có thêm nhiều ngƣời giàu có và quyền lãnh đạo chuyển dần
trong đó Thiên chúa giáo khoảng 1.02 tỉ, đạo Chính thống khoảng 200 triệu, đạo Tin
Lành và Anh giáo khoảng 550 triệu.
Khái niệm lý tưởng Kitô giáo
Nhƣ đã trình bày ở trên, Kitô giáo ra đời xuất phát từ mong muốn có một đấng
cứu thế xuất hiện để đánh đổ đế quốc La Mã, giải thoát quần chúng nhân dân lao khổ khỏi
cuộc sống khổ cực và xây dựng một vƣơng quốc của sự công bằng, do đó giáo lý Kitô giáo
vừa thể hiện mơ ƣớc đƣợc giải thoát khỏi cuộc sống bi đát, bế tắc và đầy khổ ải, đau thƣơng
của quần chúng, vừa thể hiện phản ứng của họ trƣớc thực tại cuộc sống đó, đúng nhƣ Ph.
Ăngghen đã nhận xét trong “Góp phần vào lịch sử Kitô giáo nguyên thủy”, rằng Kitô giáo
là “một thứ tôn giáo của ngƣời nô lệ và bán tự do, của những ngƣời nghèo khó và những
ngƣời bị tƣớc hết mọi quyền lợi, các dân tộc Rôma đô hộ hay làm tan tác”[55; tr 543].
Có thể nói “Lý tƣởng Kitô giáo” chính là muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn,
muốn hƣớng con ngƣời đến một thế giới không còn áp bức, khổ đau, không có chiến
tranh, ai ai cũng đƣợc hƣởng hạnh phúc, đƣợc hƣởng công bằng, bình đẳng và đƣợc tự 10
do, nhƣng thế giới ấy không phải đƣợc xây dựng ngay trên trần thế, khi con ngƣời đang
sống mà là ở Thiên đƣờng- tức là khi con ngƣời đã chết và về với Chúa.
1.1.3. Khái niệm tương đồng và khác biệt
Theo Đại từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin xuất bản năm
1998, “tƣơng đồng” có nghĩa là nhƣ nhau, giống nhau (trang 1768). Ngƣời ta thƣờng sử
dụng khái niệm tƣơng đồng nhƣ là tính từ để chỉ ra tính chất, đặc điểm giống nhau của
một sự vật, hiện tƣợng này với một sự vật, hiện tƣợng khác. Ví dụ, ngƣời ta thƣờng nói:
những nét tƣơng đồng, những đặc điểm tƣơng đồng hay tƣơng đồng văn hóa…Còn
“khác biệt” có nghĩa là không giống nhau. Khái niệm khác biệt dùng để so sánh sự khác
nhau về bản chất, tính chất của các sự vật, hiện tƣợng. Ngoài khái niệm “khác biệt” nêu
trên, đôi khi ngƣời ta còn dùng khái niệm “dị biệt” để nói lên sự khác nhau của các sự
vật, hiện tƣợng. Tƣơng đồng và khác biệt có nhiều cấp độ, và quan hệ biện chứng với
nhau. Hai sự vật, hiện tƣợng khi đem so sánh với nhau ta thấy trong đó bao hàm cả sự
Hêxiốt – một nhà thơ cổ của Hy Lạp, thông qua các tác phẩm của mình, ông
đã phủ định hiện tại, mơ ƣớc trở về xã hội hoàng kim xa xƣa tốt đẹp, không có bóc
lột, không có sự phân biệt giữa ngƣời giầu và ngƣời nghèo, không ai phải lao động
nặng nhọc…
Phái Kinich kịch liệt lên án luật lệ và trật tự xã hội đƣơng thời, lý tƣởng hóa trạng
thái tự nhiên đầu tiên, mong muốn trong xã hội không có luật lệ phức tạp.
Epho lý tƣởng hóa ngƣời Xkipphơ với những đức tính: không tham lam,
không đấu tranh sinh tồn, không có xu hƣớng làm giầu, coi tất cả là tài sản chung,
kể cả vợ con…
Iămbun đã mô tả về cuộc sống của những ngƣời thổ dân trên “hòn đảo hạnh phúc”
nhƣ là một trạng thái tích cực đối lập với xã hội Hy Lạp đƣơng thời. Đó là một xã hội mà
mọi ngƣời sống gắn bó với nhau qua quan hệ họ hàng, trong xã hội ấy không có chính
quyền trung ƣơng, mọi ngƣời đều có nhiệm vụ riêng trong tổng thể các nhiệm vụ chung của
công xã, mọi ngƣời đều không có gia đình riêng của mỗi cá nhân.
Ở La Mã, những tƣ tƣởng XHCN chủ yếu gắn với lý luận của tôn giáo, đặc biệt là
Cơ đốc giáo sơ kỳ. Giáo lý của Cơ đốc giáo sơ kỳ thể hiện thái độ phê phán những kẻ giầu
có “Lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn nhà giầu đi vào thiên đàng”. Đặc biệt, giáo lý Cơ
đốc giáo sơ kỳ còn thể hiện ƣớc mơ về một tƣơng lai tốt đẹp: “Giang sơn ngàn năm của
Chúa”, “Ngày chúa giáng thế lần thứ hai”, hay “Ngày phán xử cuối cùng”… 12
Có thể thấy rằng, tƣ tƣởng XHCN thời kỳ cổ đại về cơ bản là những hình thái tƣ
tƣởng tự phát, ngây thơ, cảm tính, nói lên tiếng nói của ngƣời lao động chống lại chế độ
nô lệ, mơ ƣớc về một xã hội công bằng, bình đẳng. Những tƣ tƣởng XHCN cổ đại chịu
ảnh hƣởng sâu sắc bởi thế giới quan tôn giáo, nhất là Cơ đốc giáo sơ kỳ. Những tƣ
tƣởng đó còn ảnh hƣởng sâu sắc đến toàn bộ tƣ tƣởng XHCN thời trung cổ và nhiều trào
lƣu CSCN thời cận đại.
Tư tưởng xã hội chủ nghĩa thời Trung đại
Trong thời Trung đại, đạo đức Kitô giáo chi phối nặng nề đời sống tinh thần ở
một xã hội mới nhân đạo và công bằng, muốn xây dựng một xã hội phồn vinh và
đem lại hạnh phúc cho đông đảo mọi ngƣời. Tiêu biểu cho các nhà tƣ tƣởng
XHCN thời kỳ này là: Tômát Môrơ, Tômađô Campanenla, Giêrác Uynxtenli,
Giăng Mêliê, Môrenly, Giắc Babớp…
Tômát Morơ (1478 – 1535) – một nhà tƣ tƣởng, chính trị, một nhà văn nổi tiếng
nhất nƣớc Anh vào đầu thể kỷ XVI. Trong tác phẩm “Utopia” có nghĩa là “không t-
ƣởng” của mình, Tômát Morơ đã nêu lên một cách rõ rệt những luận điểm mang tính
CSCN. Tác phẩm đã phê phán xã hội nƣớc Anh thế kỷ XVI, phê phán chế độ quân chủ
chuyên chế đƣơng thời hà khắc, lên án chế độ bóc lột ngƣời lao động dã man cũng nhƣ
phê phán cuộc sống xa hoa của bọn nhà giầu: Hãy cho bọn chây lƣời ăn ít hơn, hãy bắt
bọn chúng phải làm việc. Đặc biệt, Tômát Morơ còn phê phán chính sách chiếm đoạt
ruộng đất của giai cấp tƣ sản với hình ảnh “cừu ăn thịt ngƣời”, phê phán công trƣờng thủ
công kéo dài thời gian lao động để bóc lột ngƣời lao động. Điểm mới nhất trong tác
phẩm “Không tƣởng” là đã chỉ ra đƣợc mọi tệ nạn xã hội do chế độ tƣ hữu đẻ ra và
muốn xây dựng xã hội công bằng, bình đẳng phải hoàn toàn xoá bỏ chế độ tƣ hữu.
Tômát Morơ đã phác họa về một xã hội mới mang tính cộng sản cả về kinh
tế, chính trị, xã hội, giáo dục, gia đình có giá trị. Đó là một xã hội đƣợc xây dựng
trên cơ sở của chế độ công hữu về tƣ liệu sản xuất và tƣ liệu tiêu dùng, ở đó mọi
ngƣời đều có nghĩa vụ lao động và đƣợc hƣởng những tƣ liệu sinh hoạt theo
nguyên tắc bình đẳng…
Đƣợc coi là ngƣời mở đầu cho lịch sử tƣ tƣởng XHCN cận đại, với tƣ cách là
một nhà tƣ tƣởng, Tômát Morơ đã để lại cho các thế hệ sau một mô hình tƣơng đối toàn
diện về xã hội CSCN, nhƣ Ph.Ăngghen đã nhận xét: Thế kỷ XVI, CNXH đã đƣợc trình
bày nhƣ một bức tranh chung phản ánh tập trung trong tác phẩm của Morơ. Tuy nhiên,
hạn chế lớn nhất của Morơ là ông không tin vào sự thật có đƣợc nhƣ vậy nên không đề 14
ra biện pháp để xoá bỏ chế độ tƣ hữu, cũng nhƣ ông đã thừa nhận: “Tôi vui lòng thừa
nhận rằng, trong nhà nƣớc của xã hội không tƣởng có rất nhiều cái mà tôi có thể chúc
15
bóc lột, không có bất công và tất cả đều sống bằng lao động của chính mình; một xã hội
quan tâm đến giáo dục quy định học tập kết hợp với lao động, lý thuyết gắn với thực
tiễn. Tuy nhiên, hạn chế của Uynxtenli là dựa vào chính phủ tƣ sản để tiến hành cải tạo
xã hội; quan điểm chƣa tách ra khỏi sự thần bí tôn giáo.
Giăng Mêliê (1664 - 1729), ngƣời sáng lập ra khuynh hƣớng cách mạng của
CNXH không tƣởng ở Pháp những năm cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII. Ông có
nhiều tƣ tƣởng XHCN hết sức đặc sắc nhƣ:
Giăng Mêliê đã phê phán chế độ quân chủ chuyên chế ở Pháp và bảo vệ lợi ích
của nông dân. Ông tố cáo bọn vua chúa và chiến tranh phi nghĩa, phản đối sự bất bình
đẳng đến mức quá đáng giữa một số tầng lớp ngƣời trong xã hội. Đặc biệt, ông coi nông
dân là nhân vật trung tâm của xã hội và chỉ ra mục tiêu chính của cuộc cách mạng xã hội
trong xã hội tƣơng lai là giải phóng nông dân và nông dân cũng chính là lực lƣợng cơ
bản của cuộc cách mạng ấy.
Trong tác phẩm “Những di chúc của tôi”, Giăng Mêliê đã nêu lên tƣ tƣởng về
một xã hội tƣơng lai là phải xóa bỏ chế độ tƣ hữu, thiết lập chế độ công hữu về của cải.
Xã hội tƣơng lai sẽ đƣợc xây dựng nhƣ một gia đình thống nhất, mọi ngƣời sống với
nhau một cách hòa bình, coi nhau nhƣ anh em, đoàn kết hữu nghị, giúp đỡ lẫn nhau. Xã
hội mới cũng đảm bảo cho tất cả mọi ngƣời những nhu cầu cần thiết trong cuộc sống.
Giăng Mêliê khẳng định phải có đấu tranh cách mạng mới xoá bỏ đƣợc áp bức bóc lột
và bất công xã hội.
Phrăngxoa Môrenly – một đại biểu của CNXH không tƣởng Pháp thế kỷ XVIII.
Trong tác phẩm “Bộ luật của tự nhiên” Phrăngxoa Môrenly phê phán chế độ tƣ hữu đã
đem đến cho loài ngƣời những bất công đau khổ và cả những tội ác, những tệ nạn xã
hội. Từ đó, nêu bật lên tƣ tƣởng xóa bỏ chế độ tƣ hữu, Phrăngxoa Môrenly cũng nêu lên
tƣ tƣởng xây dựng một xã hội tƣơng lai, cho rằng xã hội đó đƣợc xây dựng trên chế độ
công hữu về của cải, mỗi ngƣời đều đƣợc đảm nhận một công việc của xã hội tùy theo
năng lực của họ, lao động là bắt buộc và là quyền của mọi ngƣời. Xã hội mới đó sẽ thực
hiện nguyên tắc: làm theo năng lực, hƣởng theo lao động. Mọi thành viên trong xã hội
quan hệ với nhau một cách bình đẳng trong khuôn khổ của pháp luật.
buộc của các luật lệ của Giáo hội và chế độ phong kiến đƣơng thời. Đồng thời phê
phán gay gắt và sâu sắc đối với xã hội tƣ sản, bƣớc đầu xây dựng về mặt lý luận
mô hình xã hội tƣơng lai. 17
Mặc dù còn không ít hạn chế, nhƣng những giá trị tích cực trong nội dung các
học thuyết của các nhà tƣ tƣởng XHCN thời kỳ này là không nhỏ, nó góp phần đƣa lịch
sử các tƣ tƣởng XHCN phát triển lên một bƣớc mới – đó là sự phát triển của CNXH
không tƣởng – phê phán ở Pháp và Anh, cũng nhƣ của CNXH khoa học sau này.
Chủ nghĩa xã hội không tưởng - phê phán đầu thế kỷ XIX
Đây là thời kỳ xuất hiện nền đại công nghiệp và giai cấp vô sản hiện đại cùng với
sự xung đột giữa giai cấp vô sản và giai cấp tƣ sản. Cách mạng dân chủ tƣ sản Pháp
(1789) là thời kỳ CNTB chiến thắng nhƣng chƣa hoàn toàn thắng lợi về chính trị. Sau
thất bại của Napôlêông (1815), giai cấp vô sản hiện đại bắt đầu thức tỉnh về sứ mệnh
lịch sử của mình. Trong hoàn cảnh ấy đã xuất hiện nhiều nhà XHCN không tƣởng nhƣ:
Hăngri Xanhximông, Sáclơ Phuriê và Rôbớc Ôoen…
Cơlôđơ Hăngri đơ Xanhximông (1760-1825). Một trong những nội dung quan
trọng trong tƣ tƣởng của Xanhximông là lý luận về giai cấp và xung đột giai cấp và
khẳng định rằng giai cấp vô sản có đủ sức mạnh giành lại toàn bộ chính quyền. Ông
nhận thấy cuộc đấu tranh giữa những ngƣời không có tài sản và những ngƣời sở hữu là
không tránh khỏi. Xanhximông cho rằng, nguyên nhân dẫn tới sự ra đời của giai cấp là
do chế độ tƣ hữu và ông khẳng định rằng giải phóng giai cấp cần lao là mục đích cuối
cùng của ông.
Xanhximông phê phán cuộc cách mạng dân chủ tƣ sản năm 1789 và xã hội tƣ
sản Pháp. Ông chỉ ra rằng, đó là một cuộc cách mạng còn nhiều hạn chế, nửa vời, thiếu
triệt để, cuộc cách mạng ấy chƣa thiết lập đƣợc một chế độ phù hợp với quyền lợi của
giai cấp nghèo khổ, và cho rằng cần phải có một cuộc cách mạng có thể làm thay đổi
theo hƣớng đảm bảo lợi ích cho số đông và vì số đông giai cấp cần lao.
Xanhximông nêu lên mong muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp đáp ứng đƣợc
Cũng giống nhƣ Xanh Ximông, Phuriê không chủ trƣơng đấu tranh xoá bỏ chế
độ tƣ hữu, phản đối bạo lực và cho rằng xã hội tƣơng lai sẽ đƣợc thực hiện bằng con
đƣờng hòa bình. CNXH của Phuriê nhƣ Ph. Ăngghen đánh giá: “càng phẫn nộ với kẻ
bóc lột giai cấp công nhân không thể tránh khỏi trong phƣơng thức sản xuất ấy, thì nó lại
càng không hiểu sự bóc lột ấy là ở chỗ nào và sinh ra nhƣ thế nào”. Tuy nhiên, những tƣ
tƣởng lao động hấp dẫn, nguyên tắc mọi ngƣời có quyền đƣợc lao động và quyền có tƣ
liệu để sinh sống là những tƣ tƣởng tiến bộ chứng tỏ học thuyết của Phuriê là một bƣớc
tiến lớn trong sự phát triển các quan niệm nhân đạo về CNXH thật sự của con ngƣời. 19
Rôbớt Ôoen (1771 - 1858) lên án và phủ nhận chế độ tƣ hữu một cách sâu sắc và
toàn diện. Theo ông, chế độ tƣ hữu đã làm cho ngƣời sở hữu trở nên ngu muội, ích kỷ, nó
làm cho con ngƣời xa cách nhau, thù hằn nhau, tàn sát, chém giết lẫn nhau. Nó
là nguyên nhân gây ra tất cả các tiêu cực và sự bất hợp lý trong xã hội. Từ đó,
ông kiên quyết bác bỏ chế độ tƣ hữu vì nó là nguyên nhân của mọi tội phạm và
thảm hoạ của con ngƣời. Ông nêu bật tính chất hai mặt của nền công nghiệp hoá
trong chế độ tƣ hữu TBCN từ đó ông kết luận phải xoá bỏ chế độ tƣ hữu. Ông đã
dự đoán một cuộc cách mạng xã hội vĩ đại mà chính nền đại công nghiệp là tiền
đề cho cuộc cách mạng xã hội ấy.
Rôbớt Ôoen chỉ ra xã hội mới phải xây dựng bằng chế độ công hữu và cho rằng
nếu chế độ công hữu đƣợc tổ chức một cách đúng đắn thì sẽ không còn mâu thuẫn đối
kháng về lợi ích, không còn các tệ nạn xã hội; trong xã hội mới các thành viên sẽ sống
nhƣ một gia đình và hoạt động trên cơ sở lao động tập thể, bình đẳng về quyền lợi và
nghĩa vụ giữa tất cả các thành viên. Hạn chế của Rôbớt Ôoen là muốn cải tạo xã hội
bằng con đƣờng hoà bình và đặt nhiều hy vọng vào nhà cầm quyền của giai cấp tƣ sản.
Có thế khẳng định rằng các học thuyết xã hội của các nhà không tƣởng thời kỳ
này có giá trị tích cực và cả hạn chế.
Thứ nhất, đã phê phán, lên án sâu sắc CNTB ngay từ khi nó mới ra đời, đồng
thời phản ánh đời sống khổ cực cũng nhƣ khát vọng của quần chúng lao động về một xã
Phƣơng thức sản xuất TBCN phát triển mạnh mẽ, vai trò thống trị của giai cấp tƣ sản
đƣợc củng cố, đồng thời bản chất phản động của giai cấp này cũng bộc lộ rõ rệt, mâu
thuẫn giữa lực lƣợng sản xuất và quan hệ sản xuất nảy sinh (biểu hiện theo chu kỳ nạn
khủng hoảng sản xuất, công nhân thất nghiệp) dẫn đến mâu thuẫn xã hội giữa giai cấp
công nhân và giai cấp tƣ sản ngày càng gay gắt, làm xuất hiện các cuộc đấu tranh giai
cấp giữa giai cấp vô sản và tƣ sản, tiêu biểu nhƣ: Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân
thành phố Liông (Pháp) năm 1831- 1834. Cuộc khởi nghĩa của công nhân thành phố
Xilêdi (Đức) năm 1844. Phong trào Hiến chƣơng Anh năm 1836 đến 1848. Những sự
kiện này chứng tỏ rằng: mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp tƣ sản là có thực
và đã nổi lên so với mâu thuẫn giữa giai cấp tƣ sản và giai cấp phong kiến trƣớc đây.
Các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại giai cấp tƣ sản với tƣ cách
là một lực lƣợng xã hội độc lập với những yêu sách kinh tế và chính trị của riêng giai
cấp mình. Tuy nhiên, các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân cũng bộc lộ yếu kém 21
của mình thể hiện chƣa có đƣờng lối đấu tranh, chƣa có một tổ chức thống nhất lãnh đạo
nên phong trào đều bị thất bại.
Từ điều kiện khách quan ấy, một yêu cầu lịch sử đƣợc đặt ra cho giai cấp vô sản
là phải nhanh chóng xây dựng cho mình một cơ sở lý luận khoa học để dẫn đƣờng cho
cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản trên con đƣờng thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử
vẻ vang của mình. Và phong trào hiện thực ấy cũng là cơ sở thực tiễn để C.Mác và
Ph.Ăngghen nghiên cứu xây dựng nên học thuyết của mình.
Cùng với sự phát triển của CNTB là sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tự
nhiên, với những thành tựu to lớn vào đầu thế kỷ XIX, trong đó có 3 phát minh quan
trọng: Học thuyết về tế bào; Định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lƣợng; Học thuyết
tiến hoá của Đác Uyn. Những phát minh này có tác dụng trực tiếp phục vụ quá trình
chinh phục thiên nhiên, phát triển sản xuất và tiến bộ xã hội. Nó giúp cho C.Mác và Ph.
Ăngghen khẳng định thêm phép biện chứng của mình.
Cùng với sự phát triển của khoa học tự nhiên ở thế kỷ XIX, khoa học xã hội cũng
đƣa vào thực tiễn, về xây dựng một xã hội không có áp bức bất công, con ngƣời đƣợc
sống bình đẳng với nhau. Các nhà kinh điển Mác - Lê nin đã đƣa ra 6 đặc trƣng cơ bản
nhƣ sau:
Thứ nhất, cơ sở vật chất của CNXH là nền đại công nghiệp hiện đại
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, mỗi chế độ xã hội đều có
một cơ sở vật chất - kỹ thuật tƣơng ứng, phản ánh trình độ phát triển kinh tế - kỹ thuật
của nó. Nếu công cụ thủ công là đặc trƣng cho cơ sở vật chất – kỹ thuật của các xã hội
tiền TBCN thì nền đại công nghiệp cơ khí là cơ sở vật chất của CNTB. Xã hội XHCN
nảy sinh với tính cách là phủ định biện chứng CNTB, xét cả mặt thực tế, cả logic – lý
luận khoa học đều chứng minh rằng, xã hội XHCN là sự kế tiếp sau xã hội TBCN, có
nhiệm vụ giải quyết những mâu thuẫn mà CNTB đã không thể giải quyết triệt để. Đặc
biệt, là giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu xã hội hóa ngày càng tăng của lực lƣợng sản
xuất ngày càng hiện đại với chế độ chiếm hữu tƣ nhân TBCN về tƣ liệu sản xuất. Do đó,
cơ sở vật chất của xã hội XHCN, khi nó hoàn thiện, nhất thiết phải là nền đại công
nghiệp phát triển cao hơn so với CNTB.
Thứ hai, xã hội XHCN xoá bỏ chế độ tư hữu TBCN, thiết lập chế độ công hữu về
những tư liệu sản xuất chủ yếu