ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HƯƠNG HIỀN
VAI TRÕ CỦA GIAI CẤP NÔNG DÂN VIỆT NAM
TRONG XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA
NÔNG THÔN NƯỚC TA HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Hà Nội - 2013
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: GIAI CẤP NÔNG DÂN VIỆT NAM VỚI VẤN ĐỀ XÂY
DỰNG MÔI TRƢỜNG VĂN HÓA NÔNG THÔN 7
1.1. Giai cấp nông dân Việt Nam hiện nay 7
1.1.1. Khái niệm giai cấp nông dân 7
1.1.2. Sự biến đổi của giai cấp nông dân Việt Nam 9
1.2. Xây dựng môi trƣờng văn hóa nông thôn mới Việt Nam hiện nay 18
1.2.1. Xây dựng nông thôn mới Việt Nam hiện nay 18
1.2.2. Một số khái niệm liên quan đến xây dựng môi trường văn hóa
nông thôn 21
1.2.3. Vai trò của giai cấp nông dân trong xây dựng môi trường văn hóa
nông thôn Việt Nam hiện nay 36
Kết luận chƣơng 1 46
CHƢƠNG 2: VAI TRÕ GIAI CẤP NÔNG DÂN TRONG XÂY DỰNG
MÔI TRƢỜNG VĂN HÓA NÔNG THÔN NƢỚC TA NHỮNG NĂM
ĐỔI MỚI VỪA QUA –THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 47
2.1. Thực trạng và nguyên nhân thực trạng vai trò giai cấp nông dân
Việt Nam trong xây dựng môi trƣờng văn hóa nông thôn nƣớc ta
những năm qua 47
2.1.1. Những thành tựu và hạn chế vai trò của giai cấp nông dân trong xây
dựng môi trường văn hóa nông thôn nước ta những năm đổi mới vừa qua 47
2.1.2. Nguyên nhân những thành tựu và hạn chế vai trò của giai cấp nông
dân trong xây dựng môi trường văn hóa nông thôn nước ta hiện nay 71
2.2. Những giải pháp chủ yếu để phát huy tốt hơn nữa vai trò của nông
dân trong xây dựng môi trƣờng văn hóa nông thôn 73
2.2.1. Nhóm giải pháp về nhận thức 73 2.2.2. Nhóm giải pháp về giáo dục – đào tạo 78
tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.
Môi trường văn hóa Việt Nam là thành quả sáng tạo hàng ngàn năm của
nhân dân các tộc người Việt Nam trên các vùng lãnh thổ, là chiếc nôi nuôi dưỡng
biết bao nhiêu thế hệ người trong lao động, giao tiếp, phát triển nhân cách, hình
thành lối sống; là mái nhà chung của cả cộng đồng dân tộc. Môi trường văn hóa
Việt Nam là gắn liền với lối sống lâu đời của nông dân có quan hệ chặt chẽ đến
cách thức sản xuất, xây dựng nơi cư trú, quan hệ huyết tộc, môi trường tự nhiên và
môi trường xã hội.
Hàng ngàn năm, nước ta là một nước nông nghiệp. Trước đây hơn 90% nhân
dân sống bằng nghề nông và đã kiến tạo thành những môi trường buôn sóc, mường 2
bản, làng xã. Và giờ đây, tuy xã hội ta có lai ghép ít nhiều công nghiệp, song vẫn
còn trên dưới 50 % cư dân sống bằng nghề nông, săn bắt và làm ruộng, làm vườn.
Vì thế lối sống của tuyệt đại bộ phận nhân dân vẫn là lối sống nông dân. Khi đề cập
đến việc xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Văn kiện Hội nghị Trung ương
lần thứ V khóa VIII đã đặt ra vấn đề xây dựng môi trường văn hóa nông thôn trong
quá trình xây dựng môi trường chung của toàn xã hội.
Chúng ta cần thiết phải xây dựng môi trường văn hóa ở nông thôn bởi vì
nước ta là một nước nông nghiệp, văn hóa ở nông thôn không phát triển thì xã hội
của ta không thể trở thành văn minh và hạnh phúc. Thực trạng văn hóa nông thôn ở
nước ta còn nghèo nàn cần phải được quan tâm đầy đủ. Theo thời gian, nông thôn
Việt - làng Việt giờ đây đã khác xưa. Nền kinh tế phát triển, tốc độ đô thị hóa diễn
ra mau lẹ, cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội biến đổi, quỹ thời gian của con người trở
nên eo hẹp, không gian văn hóa làng Việt – nông thôn Việt cũng theo đó mà biến
đổi dần. Vẫn còn hồn xưa trong lễ hội làng, nhưng các khu công nghiệp đã “tràn về”
sát vách; những làng quê yên ả, giờ đang rộn rã công trường xây dựng; những làng
lúa, làng hoa, giờ là những khu đô thị, khu chung cư cao tầng đông người; không
gian kiến trúc của làng mất dần đi, nhiều nơi không còn tìm đâu ra cây đa giếng
những năm qua, tình hình nông dân diễn biến rất phức tạp đặc biệt là về văn hóa tư
tưởng. Vì vậy, việc nghiên cứu vai trò của giai cấp nông dân Việt Nam trong xây
dựng môi trường văn hóa nông thôn để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở
nước ta cần được quan tâm nghiên cứu sâu hơn nữa. Đó là lý do tôi lựa chọn vấn đề
“Vai trò của giai cấp nông dân Việt Nam trong xây dựng môi trường văn hóa nông
thôn nước ta hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Do giai cấp nông dân là giai cấp có vai trò quan trọng trong tiến trình chung
của lịch sử dân tộc và trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì
vậy đến nay có nhiều công trình nghiên cứu về nông dân: Nxb Sự thật (1955), Vấn
đề nông dân: Trích dịch tác phẩm của Mác – Ăngghen, Lênin, Sta – lin, Mao
Trạch Đông, Hà Nội; M.A.Ocunhépva, Trần Đoàn dịch (1977), Những quan điểm
lý luận của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác về tính cách mạng của nông dân, Nxb
Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội. Những công trình này nhằm cho người
đọc thấy được vị trí vai trò của giai cấp nông dân trong sự nghiệp cách mạng của
giai cấp công nhân; Nguyễn Văn Hiệp (1999), Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề
nông dân và sự vận dụng của Đảng trong sự nghiệp đổi mới, Học viện Chính trị
Quốc gia, Hà Nội; Hội nông dân Việt Nam (1999), Công tác vận động nông dân 4
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội; TS. Đoàn
Minh Duệ (chủ biên) (2002), Giai cấp nông dân Nghệ An trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Nghệ An; Vũ Ngọc Kỳ (2005), Một số vấn đề nông
nghiệp, nông thôn, nông dân, hội nông dân ở Việt Nam, Nxb nông nghiệp Hà Nội.
Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu nghiên cứu về nông dân và vai trò của
nông dân Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa nói chung, vai
trò, thực trạng … của nông dân nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nói riêng.
Một số công trình nghiên cứu trực tiếp vai trò của nông dân trong sự nghiệp
hóa nông nghiệp, nông thôn hiện nay.
Đặc biệt, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về vai
trò của nông dân trong xây dựng môi trường văn hóa nông thôn nước ta hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích:
Trên cơ sở nghiên cứu vai trò của giai cấp nông dân Việt Nam trong xây
dựng môi trường văn hóa nông thôn ở nước ta một số năm qua, luận văn nêu lên
một số giải pháp nhằm phát huy tốt hơn nữa vai trò đó trong xây dựng môi trường
văn hóa nông thôn Việt Nam những năm tới.
Nhiệm vụ:
- Phân tích khái niệm giai cấp nông dân, những sự biến đổi của giai cấp
nông dân nước ta trong giai đoạn hiện nay.
- Làm rõ một số khái niệm liên quan đến xây dựng môi trường văn hóa
nông thôn.
- Làm rõ vai trò của giai cấp nông dân Việt Nam trong xây dựng môi trường
văn hóa nông thôn nước ta trong những năm đổi mới.
- Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục phát huy
hơn nữa vai trò của giai cấp nông dân nước ta trong xây dựng môi trường văn hóa
nông thôn giai đoạn hiện nay, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của giai cấp nông dân Việt Nam trong xây
dựng môi trường văn hóa nông thôn nước ta.
Phạm vi nghiên cứu: Vai trò của giai cấp nông dân trong xây dựng môi
trường văn hóa nông thôn Việt Nam từ những năm đổi mới đến nay. 6
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở những quan điểm của chủ
Giai cấp nông dân hình thành trong quá trình tan rã của chế độ chiếm hữu nô
lệ. Sự tồn tại của giai cấp nông dân gắn liền với hoạt động sản xuất nông nghiệp. Do
đó, giai cấp nông dân giữ một vai trò quan trọng đảm bảo sự tồn tại và phát triển
của xã hội. Đặc biệt, ở nhiều quốc gia, khi công nghiệp và đô thị chưa phát triển, vai
trò của nông dân được quan tâm đặc biệt. Ở xã hội phương Đông, nông dân là giai
cấp đóng vai trò quan trọng nhất (hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ). Ở phương
Tây, giai cấp nông dân dưới con mắt của những nhà lý luận thuộc phái trọng nông
được đánh giá cao.
Tuy nhiên, nhìn chung, trước Mác, trong con mắt của nhiều nhà tư tưởng
thuộc giai cấp thống trị, giai cấp nông dân chỉ là công cụ để sai khiến và bóc lột.
Chỉ đến khi học thuyết Mác được hình thành, bổ sung và phát triển bằng chủ nghĩa
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thì quan điểm khoa học về nông dân mới được hình
thành và phát triển.
Theo William Rosberring, nhà nghiên cứu xã hội học Mỹ “ Nông dân được
coi là những người sản xuất lương thực cho bản thân và cho các nhóm xã hội khác
có địa vị cao hơn” [14; tr 30].
Trong Đại từ điển Tiếng Việt, nông dân là “ người lao động sống bằng nghề làm
ruộng” [38; tr 1283].
Như vậy có thể thấy, nông dân là một bộ phận dân cư lao động gắn liền với
sản xuất nông nghiệp, có thu nhập chính từ lao động nông nghiệp. Xét về bản chất
xã hội và địa vị của giai cấp nông dân thì nông dân vừa là giai cấp những người lao
động, vừa là giai cấp những người sở hữu.
Trong học thuyết của mình, trên cơ sở nghiên cứu về sứ mệnh lịch sử của
giai cấp vô sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã tập trung chú ý nhiều tới vấn đề các bạn
đồng minh của giai cấp công nhân, đặc biệt là giai cấp nông dân. C.Mác cho rằng, 8
“Nông dân là giai cấp những người tiểu nông” [ 19; tr 263]. “Tiểu nông là một khối
quần chúng đông đảo mà tất cả các thành viên đều sống trong một hoàn cảnh như
9
Gần đây có một số công trình nghiên cứu đưa ra khái niệm nông dân một
cách phù hợp hơn, như : “ Nông dân được coi là những người nuôi mình với tư cách
là người lao động, trồng trọt trên đất đai và sống trong những làng mạc nhỏ bé” [ 2;
tr 7 ], hoặc “ Nông dân ở nước ta hiện nay là những người sống lâu đời ở thôn (làng,
bản, ấp) lấy sản xuất nông nghiệp (theo nghĩa rộng) làm nguồn sống chính dưới
hình thức hộ gia đình” [ 3; tr 8 ].
Tóm lại, nông dân ở nước ta hiểu theo nghĩa hẹp là những người sống bằng
nghề làm ruộng, sống ở nông thôn, thu nhập chủ yếu bằng nghề trồng trọt và chăn
nuôi, sản phẩm của họ là lương thực, thực phẩm và tư liệu sản xuất chủ yếu của họ
là ruộng đất. Theo nghĩa rộng, giai cấp nông dân là giai cấp của những người lao
động sản xuất nhỏ trong nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp), nghề
nghiệp chính là sản xuất nông nghiệp, nguồn sống chủ yếu dựa vào thu nhập từ các
sản phẩm nông nghiệp, trực tiếp canh tác để tạo ra nông sản bằng việc sử dụng tư
liệu sản xuất cơ bản và đặc thù gắn bó với tự nhiên là đất, rừng biển để sản xuất ra
sản phẩm nông – lâm ngư nghiệp.
1.1.2. Sự biến đổi của giai cấp nông dân Việt Nam
Có thể thấy, sự tác động tích cực của nhân tố đất nước đổi mới và mở cửa,
hội nhập quốc tế, của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông
thôn đã làm cho giai cấp nông dân Việt Nam có sự biến đổi lớn như sau:
Một là, tỷ lệ nông dân trong dân số ngày một giảm
Hiện nay, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa đã thúc đẩy
nhu cầu lấy đất nông nghiệp để làm khu công nghiệp, khu chế xuất và khu đô thị, vì
thế những nông dân bị mất đất buộc phải chuyển sang làm nghề mới như buôn bán,
làm công nghiệp, mở doanh nghiệp nông dân… Đồng thời, động lực lợi ích trong
nền kinh tế thị trường đã thúc đẩy nông dân chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, kinh tế nông thôn. Việc giảm tỷ lệ nông dân đã tạo ra cơ hội thúc đẩy việc
chuyển dịch cơ cấu xã hội trong xã hội nông thôn, đã góp phần phát triển nguồn
nhân lực của các lĩnh vực khác.
Hai là, vai trò chủ thể kinh tế và chính trị của người nông dân nước ta đã và
vào sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm. Hơn nữa với sự nhạy bén, am hiểu
thị trường, biết định hướng kinh doanh, nên thu nhập của họ ngày càng cao. Ở nông
thôn đã xuất hiện những chủ thể sản xuất, kinh doanh giỏi. Đây là điểm sáng động
viên và kích thích những hộ nông dân làm ăn yếu kém, là những nhân tố mới trong
việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn nhằm cung cấp nông sản
hàng hóa có chất lượng cao phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu.
Sự hình thành những chủ thể sản xuất, kinh doanh giỏi trong kinh tế hộ và
trong các hợp tác xã là bước phát triển mới do quá trình đổi mới đem lại. Đây là sự 11
phát triển mới về chất của người nông dân ở nông thôn. Nó gắn liền với bước
chuyển tất yếu từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn. Đây là dấu hiệu phát triển của lực
lượng sản xuất. Hơn nữa, những chủ thể sản xuất, kinh doanh mới được đặc trưng
bởi lớp trẻ là những người có trình độ văn hóa khá, có kỹ thuật trong sản xuất, là lực
lượng luôn thành công trong sản xuất và kinh doanh nên họ đều là những người
giàu có ở nông thôn.
Bốn là, mối quan hệ giữa người nông dân với Nhà nước, với nhà doanh
nghiệp, với nhà khoa học đã có sự gắn kết mật thiết hơn.
Sự tác động của nhân tố đất nước đổi mới và mở cửa, hội nhập quốc tế, của
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đến nông nghiệp –
nông thôn – nông dân đã làm cho mối quan hệ giữa nông dân với Nhà nước, với
doanh nghiệp và nhà khoa học có sự gắn kết mật thiết hơn. Nhờ sự tác động trên mà
mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với nông dân đã có bước chuyển biến mới theo
hướng mọi mối quan hệ trao đổi giữa các tổ chức kinh tế của Nhà nước với hợp tác
xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp và hộ nông dân phải theo nguyên tắc biến đổi,
thuận mua vừa bán, bảo đảm củng cố liên minh công – nông. Đồng thời sự tác động
của động lực lợi ích trong nền kinh tế thị trường đã tạo ra nhu cầu gắn kết giữa nhà
nông với nhà doanh nghiệp và nhà khoa học.
Năm là, biến đổi tích cực trong tâm lý, ý thức và lối sống của nông dân nhờ
cửa, hội nhập quốc tế, của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn, giai cấp nông dân nước ta đã và đang phải đối mặt với những vấn đề,
khó khăn thách thức sau đây:
Một là, quá trình phân hóa giàu nghèo nông dân diễn ra ngày càng mạnh mẽ
và khoảng cách giàu nghèo trong nội bộ nông dân ngày càng doãng thêm.
Sự tác động của mặt tích cực của nhân tố đất nước đổi mới và mở cửa, hội
nhập quốc tế, nhất là của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông
thôn đã đem đến những chuyển biến tích cực, lớn lao cho giai cấp nông dân. Ngược
lại, sự tác động mặt trái của chúng đã tạo ra sự phân hóa thành các tầng lớp trong
giai cấp nông dân, thành các bộ phận có địa vị kinh tế - xã hội rất khác nhau trong
quá trình sản xuất nông nghiệp; đã làm xuất hiện các chủ trang trại, các chủ doanh
nghiệp nông dân và những người làm thuê cho họ. Như vậy, trong nội bộ giai cấp
nông dân đã xuất hiện sự phân hóa thành người chủ và người làm thuê, đã xuất hiện
quan hệ bóc lột và bị bóc lột. Đây là sự phân hóa tất yếu trong nội bộ giai cấp nông
dân, khi nước ta quyết định đi vào nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ 13
nghĩa. Tuy nhiên, với bản chất là một nước định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta
cần phải làm hết sức mình để góp phần lành mạnh hóa sự phân hóa giàu nghèo
trong nội bộ giai cấp nông dân.
Hệ quả của sự phân hóa giàu nghèo trong nội bộ nông dân đã dẫn đến xuất
hiện sự phân tầng về thu nhập, đã tạo ra khoảng cách giàu nghèo giữa người nông
dân có thu nhập cao với người nông dân có thu nhập thấp, đã tạo ra sự bất bình
đẳng về thu nhập ngay chính nội bộ giai cấp nông dân. Thực tế cho thấy, sự tác
động của động lực lợi ích trong nền kinh tế thị trường, rất nhiều nông dân đã mạnh
dạn làm giàu chính đáng và họ đã trở thành những tỷ phú nông dân, có thu nhập và
mức sống cao. Trái ngược với sự giàu có của họ là sự thu nhập thấp và khó khăn
của những người nông dân nghèo. Nguyên nhân nghèo đói của nông dân có thể là
do không biết cách làm kinh tế, hoặc là do đông con, ốm đau, bệnh tật, thiếu lao
1997 – 1998. Hiện nay, địa bàn nông thôn và người nông dân không chỉ phải đối mặt
với những khó khăn vốn có của mình mà còn phải đối mặt với những hậu quả nặng
nề do chiến tranh để lại. Chiến tranh đã đi qua, đã lùi vào quá khứ nhưng hậu quả của
nó để lại cho nông dân là rất nặng nề, rất thương tâm. Đó là bom, mìn còn sót lại, là
hậu quả của chất độc điôxin, là những thương tật do chiến tranh, nhất là những đứa
trẻ mồ côi, những thương binh và gia đình liệt sỹ…
Bên cạnh đó, nông dân còn phải đối mặt với hậu quả nặng nề do thiên tai,
bệnh dịch, hạn hán, lụt lội, thị trường bấp bênh v.v… nên nguy cơ nghèo đói luôn
xảy ra và nguy cơ tái nghèo luôn thường trực đối với nông dân.
Ba là, tình trạng xuống cấp đạo đức nghiêm trọng của một bộ phận nông
dân, tình trạng tệ nạn xã hội và mất dân chủ ở nông thôn ngày càng nghiêm trọng.
Có thể thấy, dưới tác động mặt trái của nền kinh tế thị trường, của công
nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn, của quá trình đô thị hóa nên xã hội nông thôn
và người nông dân Việt Nam hiện đang phải đối mặt với thực trạng xuống cấp đạo
đức nghiêm trọng, của một bộ phận nông dân, với tình trạng các hệ giá trị truyền
thống ở nông thôn bị đảo lộn và bị đánh mất, với tình trạng mất dân chủ và lối sống
hưởng thụ, với xu thế lan nhanh của thói lười lao động, lối sùng bái giá trị vật chất,
với xu thế phát triển của tệ nạn xã hội đã lan tỏa vào đời sống nông thôn v.v…. Cố
nhiên, trước sự tấn công mạnh mẽ của mặt trái kinh tế thị trường, của công nghiệp
hóa, đô thị hóa và các tệ nạn xã hội, thì nông nghiệp – nông dân – nông thôn luôn là
những bộ phận chịu thiệt thòi nhất, luôn là những bộ phận có sự chống đỡ thụ động
và yếu ớt nhất, dễ bị tổn thương nhất. 15
Bốn là tình trạng học vấn, nhận thức và trình độ khoa học – kỹ thuật thấp,
thất nghiệp ngày một tăng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nông dân vừa chậm,
vừa tự phát.
Hiện nay, nông dân là giai cấp có trình độ học vấn, trình độ nhận thức, nhất
là nhận thức xã hội và trình độ khoa học – kỹ thuật rất thấp. Điều này một mặt đã,
đổi mới với những yếu tố lạc hậu, hạn chế vốn có của quá khứ. Vì thế, một mặt họ
vừa có khát vọng đổi mới để nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu
và chậm phát triển nông nghiệp – nông dân – nông thôn; mặt khác họ lại vừa không
dám dứt khoát chia tay với những hạn chế, bất cập vốn có trong con người của một
nước nông nghiệp lạc hậu, của xã hội nông thôn cổ truyền, vốn là những tác nhân
luôn kìm hãm họ thực hiện thành công khát vọng đổi mới của mình.
Năm là thiếu vốn sản xuất, nạn hàng giả, sự thiếu hiểu biết pháp luật, tiêu
thụ sản phẩm khó khăn, tư duy về kinh tế hợp tác và hợp tác xã còn chậm đổi mới.
Thực tế cho thấy, thiếu vốn sản xuất là một trong những vấn đề khó khăn
nhất hiện nay của nông dân nước ta. Mặc dù đã có nhiều kênh cung cấp vốn cho
nông dân như ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, ngân hàng chính sách
xã hội, kho bạc v.v… Tuy nhiên, hiện nay các ngân hàng thương mại còn có quá
nhiều thủ tục rườm rà, bất hợp lý trong việc cung ứng vốn cho nông dân, vì thế
trong khi nông dân còn thiếu vốn sản xuất, thì ngân hàng lại không thể giải ngân
được vốn cho vay của mình. Thực tế cho thấy, chủ trương cho nông dân vay vốn
không cần thế chấp tối đa 10 triệu đồng, đã được ngân hàng đưa ra, nhưng rất ít
nông dân được vay theo chủ trương này. Ngoài ra, ngân hàng nông nghiệp thường
cho nông dân vay theo định kỳ 3 tháng, hoặc 6 tháng, tối đa là một năm, trong khi
chu kỳ sinh trưởng của một số cây trồng, vật nuôi lại kéo dài từ hai năm trở lên đã
gây khó khăn thêm cho nông dân, đã buộc nông dân hoặc phải bán nông sản để rồi
bị tư thương ép giá, hoặc phải vay nặng lãi để trả vốn cho ngân hàng.
Bên cạnh đó, người nông dân luôn phải đối mặt với nạn hàng giả như lúa và
ngô giống giả, nạn gà, vịt giống chưa được tiêm phòng, thuốc bảo vệ thực vật giả,
phân bón giả v.v… trôi nổi trên thị trường. Nạn hàng giả, nhất là giống giả nói trên
là một thảm họa đối với người nông dân, vì nó đã gây ra cảnh thất bát, mất mùa rất
đau lòng không ít hộ nông dân. Ngoài ra, nông dân nước ta còn luôn phải đối phó
với khó khăn về tiêu thụ sản phẩm. Có nhiều nguyên nhân gây ra sự khó khăn về
tiêu thụ sản phẩm, nhưng sau đây là hai nguyên nhân quan trọng đã gây ra tình
trạng này: một là về phía người nông dân, đó là hậu quả của lối tư duy kinh tế bốc
đồng, a dua, tự phát, thiếu tính toán, không tôn trọng quy luật cung - cầu của trị
gây nên sự cạnh tranh lao động và những tệ nạn xã hội ở nơi nhập cư. Do vậy, Đảng
và Nhà nước cần có những giải pháp hữu hiệu, kịp thời. Hiện tượng di dân ở đây là
thanh niên có xu hướng rời bỏ nông thôn và nông nghiệp ngày càng nhiều. 18
Tóm lại, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giai cấp
nông dân có những biến đổi theo hướng tích cực lẫn tiêu cực. Những biến đổi của giai
cấp nông dân ảnh hưởng rất lớn đến vai trò của họ trong quá trình xây dựng môi trường
văn hóa nông thôn ở nước ta hiện nay.
1.2. Xây dựng môi trƣờng văn hóa nông thôn mới Việt Nam hiện nay
1.2.1. Xây dựng nông thôn mới Việt Nam hiện nay
Xây dựng nông thôn mới là một trong những nội dung trong đường lối và
chính sách phát triển đất nước của Đảng và Nhà nước ta. Việc tổ chức các hoạt
động cho nông dân như tăng cường liên minh công – nông – trí thức, xóa đói giảm
nghèo, nâng cao dân trí, đoàn kết nhân dân v.v… chính là những yếu tố để tạo nên
nông thôn mới ở nhiều thôn, xóm, bản làng nước ta. Nông thôn mới là một trong
những môi trường mang tính văn hóa, mà ở đó người nông dân có được những điều
kiện kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nhất định và qua đó hình thành được những nét
đặc trưng của con người mới và gia đình mới xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
Nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 bao gồm các đặc trưng sau:
1- Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn
được nâng cao;
2- Nông thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng, kinh tế - xã hội
hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ;
3- Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy;
4- An ninh tốt, quản lý dân chủ
5- Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao
Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng
đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang
mọi người nông dân phải tự xác định mình đã trở thành người chủ và phải luôn luôn
nâng cao tinh thần làm chủ quê hương, đất nước mình. Tham gia ý kiến vào đề án
xây dựng nông thôn mới và đồ án quy hoạch nông thôn mới cấp xã; tham gia lập kế
hoạch thực hiện Chương trình (thôn, xã); Tham gia và lựa chọn những công việc gì
cần làm trước và việc gì làm sau thật thiết thực với yêu cầu của người dân trong xã
và phù hợp với khả năng, điều kiện của địa phương; quyết định mức độ đóng góp
trong xây dựng các công trình công cộng của thôn, xã; trực tiếp tổ chức thi công
hoặc tham gia thi công xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội của xã, thôn
theo kế hoạch hàng năm; cử đại diện (Ban giám sát) để tham gia quản lý và giám sát
các công trình xây dựng của xã, thôn; tổ chức quản lý, vận hành và bảo dưỡng các
công trình sau khi hoàn thành. 20
Đây chính là bước ngoặt căn bản, sự chuyển biến về chất, nâng lên một trình
độ mới, một tầm cao mới từ nông thôn cũ dưới thời thực dân - phong kiến thời bao
cấp lên nông thôn mới thời kỳ đổi mới. Các hợp tác xã, các hội nông dân phải đoàn
kết chặt chẽ được giữa bà con nông dân với nhau, phải thực hành dân chủ. Cán bộ
không được quan liêu, mệnh lệnh, hách dịch mà phải gắn bó máu thịt với nhân dân,
sống trong lòng nhân dân. Có như vậy thì nông thôn mới thực sự mang một chất
mới của chế độ mới – chế độ xã hội chủ nghĩa.
Nông thôn mới còn được tạo lập bởi nhiều gia đình mới. Nhiều gia đình cộng
lại mới thành xã hội. Xã hội tốt thì gia đình mới tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt.
Hạt nhân của xã hội là gia đình. Xây dựng gia đình mới ở nông thôn chính là xây
dựng gia đình văn hóa, là phải nâng cao truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
trong đời sống gia đình. Xây dựng gia đình văn hóa mới không có nghĩa là phá bỏ
mọi cái cũ và cái gì cũng làm mới, mà những truyền thống và những phong tục tốt
đẹp như tôn ti trật tự trong gia đình, cúng bái tổ tiên, kính già, yêu trẻ, trọng nghĩa,
trọng tình, v.v… cần phải phát triển thêm.
Muốn xây dựng nông thôn còn phải xây dựng đời sống mới ở nông thôn xây
nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã
hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi
trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của
Đảng được tăng cường” [ 8; tr.126].
Tiếp theo là Nghị quyết Đại hội XI của Đảng ta tiếp tục chủ trương về xây dựng
nông thôn mới là “ Triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới phù hợp với ðặc
ðiểm cụ thể từng vùng theo các býớc ði cụ thể, vững chắc trong từng giai ðoạn; giữ gìn
và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của nông thôn Việt Nam. Tạo môi
trường thuận lợi để khai thác mọi khả năng đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn, nhất
là đầu tư của doanh nghiệp nhỏ và vừa” [ 9; tr 197 – 198].
Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về phát triển nông thôn, hiện cả
nước đang thực hiện 11 Chương trình mục tiêu quốc gia và nhiều chương trình, dự
án lớn khác liên quan đến phát triển nông thôn. Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban
hành “Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn” được ban hành theo Quyết định số
491/QĐ-TTg, ngày 16/4/2009 gồm 5 nhóm tiêu chí, cụ thể [ xem phụ lục 1]
1.2.2. Một số khái niệm liên quan đến xây dựng môi trường văn hóa
nông thôn
*Khái niệm văn hóa
Văn hóa là đề tài rộng lớn xa xưa, từ các bậc hiền triết đến những người bình
thường đã bàn luận khá nhiều về nó và đưa ra những định nghĩa khác nhau về văn