Bạo lực học đường từ góc nhìn của học sinh, giáo viên và phụ huynh - Pdf 25

1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM THỊ HUYỀN TRANG
BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG TỪ GÓC NHÌN
CỦA HỌC SINH, GIÁO VIÊN VÀ PHỤ HUYNH
(Nghiên cứu trường hợp Trường THPT Hoàng Văn Thái,
huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

 Hà Nội - 2014 

2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Bạo lực học đường từ góc nhìn của học sinh,
giáo viên và phụ huynh” là công trình nghiên cứu của bản thân tôi. Các kết quả
trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ
công trình nghiên cứu khoa học nào. Hà Nội, ngày 29 tháng 03 năm 2014
Tác giả luận văn
Phạm Thị Huyền Trang

4
LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ chuyên ngành Công tác xã hội với
đề tài: “Bạo lực học đường từ góc nhìn của học sinh, giáo viên và phụ huynh”, bên
cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận đƣợc sự giúp đỡ, động viên nhiệt tình, tâm
huyết của các thầy cô và bạn bè.
Để hoàn thành luận văn này, trƣớc tiên tôi xin chân thành cảm ơn Trƣờng
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Xã hội
học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại
trƣờng.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh –

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 21
1.1. Các khái niệm công cụ 21
1.2. Bạo lực học đƣờng từ góc nhìn của lý thuyết xã hội hóa cá nhân và lý thuyết
học hỏi xã hội 24
1.3. Địa bàn nghiên cứu: Trƣờng THPT Hoàng Văn Thái, Tiền Hải, Thái Bình 27
CHƢƠNG 2: BẠO LỰC HỌC ĐƢỜNG QUA TRẢI NGHIỆM, ĐÁNH GIÁ CỦA
HỌC SINH, GIÁO VIÊN VÀ PHỤ HUYNH 29
2.1. Biểu hiện của bạo lực học đƣờng 29
2.2. Nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đƣờng 58
2.3. Hậu quả của bạo lực học đƣờng 76
2.4. So sánh vai trò của giáo viên chủ nhiệm với vai trò của nhân viên công tác xã
hội trong trƣờng học 86
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92
1. Kết luận 92
2. Khuyến nghị 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Tài liệu tiếng Việt 97
6
Tài liệu tiếng Anh 99
PHỤ LỤC 101
QUY ĐỊNH CÁC HÌNH THỨC XỬ LÝ KỶ LUẬT HỌC SINH 101
PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN HỌC SINH 103
HƢỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU HỌC SINH 104
BẢN GHI PHỎNG VẤN SÂU 107

7
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bạo lực học đƣờng không phải là vấn đề mới mẻ, tuy nhiên những năm gần
đây, theo thông tin từ các kênh truyền thông đại chúng thì hiện tƣợng này diễn ra

phƣơng tiện truyền thông làm rõ, đã ít nhiều khiến các bậc phụ huynh lo lắng về sự
an toàn cho con cái khi đến trƣờng và khiến dƣ luận băn khoăn về cách ứng xử của
thế hệ trẻ hiện nay.
Đi sâu nghiên cứu bạo lực học đƣờng là một vấn đề cấp bách và ngày càng
trở nên cấp thiết hiện nay. Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, đã có
nhiều công trình nghiên cứu về bạo lực học đƣờng thuộc các lĩnh vực nhƣ tâm lý
học, giáo dục học, xã hội học Tuy nhiên, những nghiên cứu về vấn đề này ở Việt
Nam trong lĩnh vực công tác xã hội vẫn còn vắng bóng. Việc nhìn nhận, phân tích
những quan niệm của học sinh, giáo viên và phụ huynh về bạo lực học đƣờng từ
tiếp cận công tác xã hội có ý nghĩa quan trọng giúp chúng ta có thể định hƣớng và
đƣa ra những giải pháp cụ thể để góp phần giảm bạo lực học đƣờng. Với ý nghĩa đó,
tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài “Bạo lực học đường từ góc nhìn của học sinh,
giáo viên và phụ huynh” – nghiên cứu trƣờng hợp Trƣờng THPT Hoàng Văn Thái,
huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1. Các nghiên cứu trên thế giới
2.1.1. Nghiên cứu về thực trạng bạo lực học đường
Năm 2008, nghiên cứu “Bạo lực nữ sinh: Xu hƣớng và bối cảnh” (Violence
by Teenage: Trends and Context) do J. Robert Flores cùng với các cộng sự thực
hiện tại Mỹ với sự tài trợ của Sở Tƣ pháp Hoa Kỳ. Nghiên cứu đã khắc họa một bức
tranh tổng quát về hiện tƣợng bạo lực lứa tuổi thanh thiếu niên của những học sinh
nữ. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, có sự khác nhau về giới tính trong bắt nạt học
đƣờng, cụ thể, học sinh nam có nhiều khả năng là thủ phạm và là nạn nhân của sự
bắt nạt trực tiếp, những hành vi bạo lực thể chất, ngôn từ hoặc những cử chỉ bạo
lực. Ngƣợc lại, học sinh nữ thƣờng là thủ phạm và là nạn nhân của sự bắt nạt gián
tiếp hoặc những mối quan hệ mang tính gây hấn, đơn cử nhƣ là việc loan truyền tin
đồn. Thêm vào đó, nghiên cứu còn chỉ ra rằng, học sinh nam thƣờng xuyên là thủ
phạm gây ra các hành vi bắt nạt hơn, còn học sinh nữ thƣờng là nạn nhân [26].
Năm 2008, một cuộc điều tra toàn quốc mang tên “Nhận thức về bạo lực học

nhân. Tất cả các chƣơng trình này đƣợc thực hiện qua 4 bƣớc: (1) xác định vấn đề;
(2) xác định các yếu tố nguy cơ và yếu tố bảo vệ; (3) xây dựng và thử nghiệm các
chiến lƣợc phòng chống; (4) áp dụng rộng rãi [25, tr.2].
2.1.2. Nghiên cứu về các hình thức biểu hiện của bạo lực học đường
Công trình nghiên cứu của Wang.J và cộng sự năm 2009 đƣợc tiến hành tại
Mỹ với đề tài: “Bắt nạt học đƣờng tuổi thanh thiếu niên tại Hoa Kỳ: thể chất, ngôn
từ, quan hệ thực và quan hệ trên mạng truyền thông” (School Bullying Among US
10
Adolescents: Physical, Verbal, Relational and Cyber). Nghiên cứu đã chỉ ra rằng,
bắt nạt học đƣờng là một hành vi xảy ra ở thanh thiếu niên, ảnh hƣởng đến thành
tích học tập, kỹ năng xã hội, tâm lý lành mạnh cho cả nạn nhân và thủ phạm. Bắt
nạt thƣờng đƣợc định nghĩa nhƣ một hình thức của những hành vi cố ý, lặp đi lặp lại
và liên quan đến một sự chênh lệch quyền lực giữa nạn nhân và thủ phạm. Nghiên
cứu đã tập trung vào tìm hiểu bốn hình thức của hành vi bắt nạt là thể chất (đánh
đập, xô đẩy, đấm đá, ); ngôn từ (chế giễu, trêu chọc,…); xem xét mối liên quan của
bắt bạt học đƣờng với các đặc điểm về mặt nhân học xã hội, sự hỗ trợ của cha mẹ và
bạn bè trong mỗi hình thức. Kết quả nghiên cứu cho thấy, học sinh nam thƣờng
tham gia vào các hình thức bắt nạt trực tiếp là thể chất và ngôn từ; còn học sinh nữ
thƣờng tham gia vào các hình thức bắt nạt gián tiếp đó là loại trừ xã hội thông qua
các mối quan hệ và loan truyền tin đồn. Kết quả nghiên cứu còn cho thấy, bắt nạt
học đƣờng ở học sinh nam có tỷ lệ cao hơn bắt nạt học đƣờng ở học sinh nữ và hành
vi bắt nạt có xu hƣớng đạt mức cao nhất trong trƣờng trung học, sau đó giảm dần.
Hình thức bắt nạt thông qua hệ thống công nghệ - điện tử mà cụ thể là qua mạng
internet nhƣ email, tin nhắn tức thời hoặc điện thoại di động,… đang ngày càng trở
nên phổ biến. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, cha mẹ và bạn bè có ảnh hƣởng
rất lớn đối với hành vi bắt nạt học đƣờng ở các học sinh [28].
Kết quả nghiên cứu “Bạo lực học đƣờng” (Violence scolaire) của tác giả
Bellon Jean-Pierre và Gardette Bertrand năm 2010 đã chỉ ra rằng, đặc tính đầu tiên
của bạo lực trong học đƣờng, đó là sự lặp đi lặp lại và thời gian kéo dài của nó có
thể làm cho cuộc sống của nạn nhân khó khăn hơn rất nhiều. Tác giả không chắc

ảnh hƣởng không nhỏ đến nhận thức của trẻ. (6) Thiếu sự giáo dục tôn giáo trong
gia đình. (7) Cuộc tấn công trƣờng học tồi tệ nhất trong lịch sử đƣợc thực hiện bởi
một thành viên hội đồng nhà trƣờng với một nửa tấn thuốc nổ 18 tháng năm 1927 ở
Bath, MI với 45 ngƣời chết và 58 ngƣời bị thƣơng. (8) Ép buộc đi theo một đảng
phái chính trị thứ hai hoặc tra tấn niềm tin chính trị của họ cũng là nguyên nhân gây
nên những hành vi bạo lực [27].
Có thể nói rằng, các công trình nghiên cứu kể trên đã tập trung tìm hiểu biểu
hiện, thực trạng, nguyên nhân, một số hành vi lệch chuẩn dẫn đến bạo lực học
đường. Bên cạnh đó, một số nghiên cứu đã đề ra những chiến lược ngăn chặn và
can thiệp phù hợp với bối cảnh của quốc gia mình để bạo lực học đường không xảy
ra. Điều này thể hiện được sự quan tâm, chú ý của các nhà khoa học xã hội, các
nhà giáo dục cũng như các quốc gia tới vấn đề bạo lực học đường. Vấn đề đặt ra ở
đây là những chiều cạnh trên của bạo lực học đường đã được quan tâm nghiên cứu
đến đâu ở Việt Nam.
2.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam
Dƣới đây, chúng ta sẽ điểm lại những công trình đáng lƣu ý theo các hƣớng
nhƣ sau.
12
2.2.1. Nghiên cứu về các nguyên nhân dẫn tới bạo lực học đường
Nghiên cứu Lê Thị Hồng Thắm và Tô Gia Kiên với đề tài: “Nguyên nhân
dẫn đến bạo lực học đƣờng tại trƣờng THCS Lê Lai Quận 8 Thành phố Hồ Chí
Minh năm 2009”. Nghiên cứu này đã sử dụng phƣơng pháp thảo luận nhóm, phỏng
vấn sâu và bảng hỏi tự điền để thu thập thông tin từ các học sinh có hành vi bạo lực,
thầy cô và phụ huynh học sinh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, học sinh có hành vi
bạo lực luôn muốn thể hiện bản thân và đây cũng là những học sinh thƣờng xuyên
bị cha mẹ quát mắng, đánh đập mỗi khi phạm sai lầm. Đặc biệt hơn, chính cha mẹ
là ngƣời ủng hộ con em mình thực hiện hành vi bạo lực khi bị ngƣời khác xúc
phạm. Nghiên cứu này cũng khẳng định, nhà trƣờng chƣa tổ chức đƣợc chƣơng
trình phòng chống bạo lực học đƣờng và không đồng nhất trong cách xử lý các hành
vi sai phạm của học sinh, đôi khi chính các thầy cô cũng có hành vi bạo lực đối với

những hành vi bạo lực học đƣờng, nhiều học sinh chọn cách ứng xử thờ ơ trƣớc
hành vi bạo lực của những ngƣời khác nhƣng sẵn sàng có phản ứng bạo lực nếu có
liên quan đến bản thân hoặc bạn bè. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh đến vai trò của gia
đình, nhà trƣờng trong việc giáo dục học sinh để phòng ngừa, ngăn chặn, giảm thiểu
bạo lực học đƣờng. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đƣa ra khuyến nghị đối với nhà
nƣớc và các cơ quan chức năng cần có những chính sách, chƣơng trình hành động
để không chỉ học sinh mà toàn xã hội nhận thức và phòng tránh bạo lực học đƣờng
[2].
Năm 2008, tác giả Hoàng Bá Thịnh và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu
“Hành vi bạo lực của nữ sinh trung học”, qua khảo sát 200 phiếu tại hai trƣờng
THPT thuộc quận Đống Đa. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hầu hết học sinh khẳng
định có hiện tƣợng nữ sinh đánh nhau trong trƣờng học. Phần lớn các em nữ đã có
hành vi đánh nhau cho rằng bạo lực giữa nữ sinh là “bình thƣờng” và “chấp nhận
đƣợc”. Kết quả nghiên cứu còn cho thấy, bạo lực học đƣờng không chỉ là chuyện
của mỗi học sinh, mà có tính chất lây lan theo nhóm bạn. Về phƣơng tiện sử dụng,
33% học sinh khi đánh nhau thƣờng dùng các “chiêu thức võ công” nhƣ túm tóc,
cào cấu, xé áo Việc sử dụng “võ mồm” kết hợp với tay chân tuy không gây nên
những thƣơng tích nghiêm trọng về thể chất nhƣng lại gây nên những tổn thƣơng về
tâm lý, tinh thần đối với nạn nhân khi bị chửi rủa hết sức tục tĩu, hoặc bị xé tung áo
giữa đám đông. Những phƣơng tiện khác đƣợc sử dụng khi đánh nhau nhƣ dép,
guốc; gậy gộc; gạch đá; dùng dao lam, ống tuyp nƣớc,… tùy mức độ mà có thể gây
nên thƣơng tích, thậm chí gây nên tàn phế hoặc cƣớp đi mạng sống của bạn học.
Nghiên cứu còn chỉ ra nguyên nhân xảy ra bạo lực giữa các học sinh nữ, xuất phát
từ những lý do rất đơn giản nhƣng cũng là cơ sở để các em đụng tay đụng chân nhƣ
thấy ghét thì đánh, bạn dám nhìn đểu, trả thù tình, ngƣời khác nhờ đánh và không
có lý do gì cũng đánh,… Về hậu quả của bạo lực học đƣờng, phần lớn những học
sinh nữ đã có hành vi đánh nhau cho rằng bạo lực giữa nữ sinh là “bình thƣờng” và
14
“chấp nhận đƣợc”. Mặc dù hầu hết học sinh nhận thức đƣợc hậu quả của bạo lực là
gây tổn thƣơng về tinh thần và thể xác hay làm mất đi thiện cảm của mọi ngƣời đối

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, những cảm xúc tiêu cực nhƣ tức giận, thất vọng
có liên quan rất lớn đến hành vi bạo lực học đƣờng của học sinh THPT, khi những
15
cảm xúc này xuất hiện thì xu hƣớng gây ra hành vi bạo lực ở học sinh là rất lớn.
Những tình huống làm xuất hiện cảm xúc tức giận, thất vọng và gây ra hành vi bạo
lực ở học sinh đó là khi học sinh bị đánh giá, xúc phạm về nhân phẩm, danh dự. Khi
học sinh bị đánh giá về vẻ bề ngoài, ngoại hình sẽ có một số hành vi đáp trả đƣợc
học sinh lựa chọn nhƣ im lặng, bỏ qua hay thƣơng thuyết. Bên cạnh yếu tố tâm lý cá
nhân, các yếu tố tâm lý xã hội nhƣ giáo dục gia đình, giáo dục nhà trƣờng, mối quan
hệ bạn bè, hoạt động vui chơi, giải trí mà học sinh tham gia cũng có ảnh hƣởng tới
hành vi bạo lực của học sinh. Nghiên cứu cũng cho rằng có thể làm giảm hành vi
bạo lực học đƣờng ở học sinh THPT thông qua biện pháp tham vấn tâm lý [1].
Sở Giáo dục và Đào tạo Thái Bình đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu đề xuất
một số giải pháp khắc phục hiện tƣợng bạo lực trong trƣờng THPT ở Thái Bình”
2010 với phƣơng pháp điều tra bằng bảng hỏi. Kết quả nghiên cứu cho thấy hiện
tƣợng bạo lực trong các trƣờng THPT ở Thái Bình xảy ra có chiều hƣớng gia tăng
về số lƣợng và tính chất phức tạp. Các biểu hiện bạo lực diễn ra trong các mối quan
hệ giữa học sinh với học sinh, giữa học sinh với giáo viên, thậm chí giữa phụ huynh
với học sinh, giữa phụ huynh với giáo viên. Đặc biệt, hiện tƣợng nữ sinh trong
trƣờng THPT ở Thái Bình đánh nhau xuất hiện ngày càng nhiều và phần lớn các vụ
này có nguyên nhân xuất phát từ tình yêu nam nữ. Kết quả nghiên cứu chỉ ra năm
nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đƣờng: (1) đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh
THPT dễ bị kích động, dễ bị lôi kéo, khả năng kiềm chế không cao nên dễ có những
phản ứng nông nổi; (2) môi trƣờng xã hội bên ngoài nhƣ phim ảnh, game online,
truyện tranh mang tính chất bạo lực tác động tiêu cực đến nhận thức và hành vi của
học sinh; (3) thiếu sự quan tâm, chăm sóc của những ngƣời thân trong gia đình, các
thầy cô trong nhà trƣờng; (4) công tác quản lý và giáo dục học sinh của các nhà
trƣờng chƣa chặt chẽ, thiếu đồng bộ, trách nhiệm của thầy cô đối với công tác quản
lý và giáo dục học sinh chƣa cao; và (5) công tác phối kết hợp giữa nhà trƣờng, gia
đình và các tổ chức trong xã hộ với cơ quan chức năng trong việc giáo dục và xử lý

3.1. Ý nghĩa khoa học
Ý nghĩa khoa học của đề tài đƣợc thể hiện qua việc vận dụng các lý thuyết về
xã hội hóa cá nhân, lý thuyết học hỏi xã hội để phân tích bạo lực học đƣờng nhằm
cung cấp thêm một góc nhìn đối với bạo lực học đƣờng từ tiếp cận công tác xã hội.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài đƣợc thể hiện qua hai khía cạnh sau:
Thứ nhất, từ kết quả nghiên cứu thực địa, đề tài làm rõ về bạo lực học đƣờng
qua nghiên cứu tại một địa bàn cụ thể, từ đó đề xuất giải pháp góp phần giảm bạo
lực học đƣờng.
Thứ hai, luận văn có thể đƣợc sử dụng làm tài liệu học tập, tham khảo cho
sinh viên các trƣờng Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp và những ai
quan tâm nghiên cứu về bạo lực học đƣờng.
17
4. Câu hỏi nghiên cứu
- Câu hỏi 1: Bạo lực học đƣờng biểu hiện nhƣ thế nào?
- Câu hỏi 2: Những nguyên nhân nào dẫn đến bạo lực học đƣờng?
- Câu hỏi 3: Hậu quả của bạo lực học đƣờng nhƣ thế nào?
- Câu hỏi 4: Vai trò của giáo viên chủ nhiệm có điểm gì tƣơng đồng so với
vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trƣờng học?

5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này tìm hiểu góc nhìn của học sinh, giáo viên và phụ huynh về
bạo lực học đƣờng – một vấn đề khá nóng bỏng đã trở thành mối quan tâm của rất
nhiều gia đình, các nhà trƣờng và là nỗi trăn trở của toàn xã hội bởi hậu quả nghiêm
trọng mà nó gây ra.
Thông qua kết quả nghiên cứu, tác giả luận văn lấy đó làm cơ sở khoa học và
thực tiễn để đề xuất một số khuyến nghị cụ thể góp phần làm hạn chế, giảm tình
trạng bạo lực học đƣờng hiện nay dƣới góc độ của công tác xã hội.
5.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

(10h20 – 11h45; 16h40 – 17h30) tại các điểm gần cổng trƣờng, các ngã ba, ngã tƣ
xã Tây Phong, xã Tây Sơn, xã Tây Tiến; quan sát trong thời gian nghỉ giải lao giữa
các tiết học tại các hành lang lớp học, khuôn viên nhà trƣờng, quan sát một số tiết
sinh hoạt của các lớp. Trong quá trình này, tác giả đã quan sát cách thức giao tiếp,
những hoạt động học tập, vui chơi của học sinh, các mối quan hệ, các buổi sinh hoạt
lớp, các tiết giảng dạy kỹ năng sống của giáo viên, Cách thức quan sát đƣợc kết
hợp giữa quan sát tham dự và quan sát không tham dự.
Ở đây, tác giả đã ghi chép lại các thông tin do ngƣời đƣợc phỏng vấn cung
cấp, hoàn toàn không can thiệp vào các dữ liệu của nghiên cứu bằng cái nhìn chủ
quan của bản thân.
7.3. Phƣơng pháp phỏng vấn sâu
Tác giả sử dụng phƣơng pháp này nhằm tìm hiểu cuộc sống, kinh nghiệm và
quan niệm của học sinh, giáo viên và phụ huynh về vấn đề bạo lực học đƣờng.
Trƣớc khi tiến hành phỏng vấn sâu, tác giả đã định hƣớng trƣớc những nội
dung cần hỏi. Trong quá trình phỏng vấn, tác giả đã tiến hành phỏng vấn một cách
linh hoạt đối với từng trƣờng hợp theo nội dung đã đƣợc định hƣớng trƣớc đó và ghi
âm lại toàn bộ các cuộc phỏng vấn và sau đó tiến hành gỡ băng ghi âm để có đƣợc
thông tin dạng văn bản.
19
Trong nghiên cứu này, tác giả đã thực hiện 75 cuộc phỏng vấn sâu, trong đó
có 30 học sinh: 10 học sinh lớp10 (trong đó: 02 nữ học lực Khá, 03 nữ học lực
Trung bình, 02 nam học lực Khá, 03 nam học lực Trung bình); 10 học sinh lớp11
(trong đó: 03 nữ học lực Trung bình, 02 nữ học lực Khá, 02 nam học lực Khá, 02
nam học lực Trung bình, 01 nam học lực Yếu), 10 học sinh lớp 12 (trong đó: 02 nữ
học lực Khá, 02 nữ học lực Trung bình, 02 nam học lực Khá, 03 nam học lực Trung
bình, 01 nam học lực Yếu); 15 giáo viên (trong đó: 09 thầy giáo; 06 cô giáo), 30
phụ huynh học sinh (18 nữ, 12 nam) của trƣờng THPT Hoàng Văn Thái.
Trong quá trình phỏng vấn, tác giả đã đƣợc ngƣời cung cấp thông tin cho
phép ghi âm lại toàn bộ cuộc phỏng vấn với mục đích phục vụ cho nghiên cứu,
đồng thời để đảm bảo tính khuyết danh, tác giả đã đổi tên và sử dụng những tên giả

Chương 2: Bạo lực học đƣờng qua trải nghiệm, đánh giá của học sinh, giáo
viên và phụ huynh với 04 nội dung nhƣ sau: biểu hiện của bạo lực học đƣờng;
nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đƣờng, giáo viên và phụ huynh; hậu quả của bạo
lực học đƣờng; so sánh vai trò của giáo viên chủ nhiệm với vai trò của nhân viên
công tác xã hội trong trƣờng học.
21
PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Các khái niệm công cụ
1.1.1. Khái niệm bạo lực
Bạo lực là một khái niệm có nội hàm rộng, có mối liên hệ mật thiết với khái
niệm bạo lực học đƣờng. Cho đến nay, ở Việt Nam và trên thế giới, có rất nhiều
định nghĩa khác nhau về bạo lực. Có thể điểm qua một số khái niệm đáng lƣu ý sau.
Theo Từ điển Tiếng Việt thì bạo lực đƣợc hiểu là: “Sức mạnh dùng để cƣỡng bức,
trấn áp hoặc lật đổ” [23, tr.55]. Khái niệm này dễ làm ngƣời ta liên tƣởng tới các
hoạt động chính trị, nhƣng trên thực tế bạo lực đƣợc coi nhƣ một phƣơng thức hành
xử trong các quan hệ xã hội nói chung. Các mối quan hệ xã hội vốn rất đa dạng và
phức tạp nên hành vi bạo lực cũng rất phong phú, đƣợc chia thành nhiều dạng khác
nhau tùy theo từng góc độ nhìn nhận: bạo lực nhìn thấy và bạo lực không nhìn thấy
đƣợc; bạo lực với phụ nữ, với trẻ em,… Từ điển xã hội học do Gunter Endruweit và
Gisela Trommsdorf chủ biên viết: “Bạo lực là các hành vi có khuynh hƣớng hủy
diệt nhƣ một phƣơng tiện tối hậu để thực thi quyền lực trong khuôn khổ quan hệ
trên – dƣới, một chiều dựa trên ƣu thế bên ngoài, không có sự thừa nhận của ngƣời
yếu thế” [30, tr.304]. Còn Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì cho rằng: “Bạo lực là
việc đe dọa hay dùng sức mạnh thể chất hay quyền lực đối với bản thân, ngƣời khác
hoặc đối với một nhóm ngƣời hay một cộng đồng ngƣời mà gây ra hay làm gia tăng
khả năng gây ra tổn thƣơng, tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hƣởng đến sự phát triển
hay gây ra sự mất mát” [41]. Tác giả Lê Thị Quý viết: “Bạo lực là việc đe dọa hay
dùng sức mạnh thể chất, quyền lực đối với ngƣời khác hoặc một nhóm ngƣời, một
cộng đồng gây ra hoặc làm tăng khả năng tổn thƣơng, tử vong, tổn hại về tâm lý,

Vậy khái niệm bạo lực học đƣờng đƣợc hiểu nhƣ thế nào? Dƣới đây, tác giả
sẽ đƣa ra một số quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu đi trƣớc.
Xét từ góc độ văn hóa, “bạo lực học đƣờng là một hiện tƣợng phản văn hóa,
thể hiện lối ứng xử coi thƣờng luật pháp, không chấp hành nội quy trƣờng học, đi
ngƣợc lại và làm hoen ố những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp trong xã hội,
trong nhà trƣờng” [5, tr.27]. Xét từ góc độ giáo dục, “bạo lực học đƣờng là sự phản
ánh kết quả giáo dục không đƣợc nhƣ mong muốn, là thƣớc đo gián tiếp cho thấy
hiệu quả và chất lƣợng ngƣợc chiều với mục tiêu giáo dục toàn diện, nhất là giáo
dục đạo đức, lối sống theo chuẩn mực văn hóa” [5, tr.28]. Tác giả Oilchange cho
rằng: “Bạo lực học đƣờng là bất kỳ hình thức hoạt động bạo lực hoặc các hoạt động
bên trong các cơ sở trƣờng học. Nó bao gồm các hành vi bắt nạt, lạm dụng thân thể,
lạm dụng bằng lời nói, ẩu đả, bắn,… Bắt nạt và lạm dụng vật chất là những hình
thức phổ biến nhất của bạo lực có liên quan đến bạo lực học đƣờng. Tuy nhiên,
23
trƣờng hợp cực đoan nhƣ bắn và giết ngƣời cũng đã đƣợc liệt kê nhƣ là bạo lực học
đƣờng” [33].
Hiện nay, các nhà nghiên cứu còn nhiều tranh luận và chƣa có sự thống nhất
trong việc đƣa ra một định nghĩa, khái niệm cụ thể mang tính khoa học về bạo lực
học đƣờng. Kế thừa những quan điểm của các nhà nghiên cứu đi trƣớc, nghiên cứu
này sử dụng quan niệm, bạo lực học đường là một thuật ngữ chỉ những hành vi bạo
lực diễn ra trong môi trường học đường, là hệ thống xâu chuỗi lời nói, hành vi
mang tính miệt thị, đe dọa, khủng bố người khác, để lại thương tích trên cơ thể,
thậm chí dẫn đến tử vong, đặc biệt là gây tổn thương đến tư tưởng, tình cảm, tạo cú
sốc tinh thần cho những đối tượng trực tiếp tham gia vào quá trình giáo dục trong
nhà trường, cũng như đối với những ai quan tâm đến sự nghiệp giáo dục. Bạo lực
học đường không chỉ xảy ra giữa học sinh với học sinh mà còn xảy ra giữa học sinh
với giáo viên hoặc cán bộ công nhân viên trong nhà trường, hoặc giữa cán bộ, giáo
viên trong nhà trường với nhau.
1.1.3. Khái niệm công tác xã hội
Công tác xã hội có vai trò, vị trí rất quan trọng và mang ý nghĩa to lớn trong

sự xã hội, ngƣời trợ giúp, nhân viên công tác xã hội, Theo tác giả Bùi Thị Xuân
Mai (2010) thì Hiệp hội Nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp Quốc tế IASW
(International Association of Social Workers) cho rằng: “Nhân viên công tác xã hội
là ngƣời đƣợc đào tạo và trang bị các kiến thức và kỹ năng trong công tác xã hội, họ
có nhiệm vụ: trợ giúp các đối tƣợng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với
vấn đề trong cuộc sống, tạo cơ hội để các đối tƣợng tiếp cận đƣợc nguồn lực cần
thiết; thúc đẩy sự tƣơng tác giữa các cá nhân, giữa các cá nhân với môi trƣờng tạo
ảnh hƣởng tới chính sách xã hội, các cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân, gia
đình, nhóm và cộng đồng thông qua hoạt động nghiên cứu và hoạt động thực tiễn”
[11,tr.143].
Nhƣ vậy, có thể hiểu nhân viên công tác xã hội là những ngƣời đƣợc đào tạo
một cách chuyên nghiệp về công tác xã hội, họ sử dụng những kiến thức và kỹ năng
của mình để giúp cho xã hội thấy rõ trách nhiệm của họ đối với sự phát triển chung
của xã hội, trợ giúp thân chủ tăng cƣờng khả năng giải quyết và đối phó với các vấn
đề của mình thông qua việc cung cấp các dịch vụ xã hội, tiếp cận các nguồn lực,
thiết lập những mối quan hệ thuận lợi giữa thân chủ và môi trƣờng của họ.
1.2. Bạo lực học đƣờng từ góc nhìn của lý thuyết xã hội hóa cá nhân và lý
thuyết học hỏi xã hội
1.2.1. Bạo lực học đường từ góc nhìn của lý thuyết xã hội hóa cá nhân
Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về xã hội hóa, hay cụ thể hơn
là xã hội hóa cá nhân. Có thể điểm qua một số định nghĩa đáng lƣu ý nhƣ sau: tác
25
giả David Popenoe cho rằng “xã hội hóa là một quá trình, thông qua đó cá nhân
phát triển nhân cách và học hởi đƣợc hành vi, lối sống của một xã hội hoặc một
nhóm” [37]. Từ điển Xã hội học của Nhà xuất bản Oxford viết: “Xã hội hóa là quá
trình thông qua đó chúng ta học để trở thành những thành viên của xã hội, bằng
cách tiếp thu những giá trị, chuẩn mực của xã hội và học tập đóng các vai trò xã
hội” [40]. Tác giả G.Andreeva thì cho rằng: “Xã hội hóa là quá trình hai mặt. Một
mặt, cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào môi trƣờng xã
hội, vào hệ thống các mối quan hệ xã hội. Mặt khác, cá nhân tái sản xuất một cách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status