MỤC LỤC
Lời nói đầu ...................................... Error! Bookmark not defined.
I. Mô tả tình huống :......................................................................... 3
II. Phân tích lý tình huống:............................................................... 6
III. Xử lý tình huống: ........................................................................ 9
IV. Kiến nghị: ................................................................................. 15
V.Kết luận : .................................................................................... 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................ 24
PhầnI. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Giới thiệu về khoá bồi dưỡng kiến thức lớp chuyên viên.
Khóa học bồi dưỡng kiến thức dành cho chuyên viên nhằm cung cấp
cho người học những kiến thức cơ bản, giúp người học nâng cao năng lực
cho công chức, viên chức nhà nước trong đơn vị hành chính.
Khóa học cung cấp cho người học kiến thức cơ bản về nhà nước, cơ
chế tổ chức và nội dung quản lý hành chính nhà nước, từ đó giúp người học ý
thức được những chức trách, nhiệm vụ của mình trong quá trình nâng cao
chất lượng trong công tác.
Khóa học chú trọng đến việc hình thành các kỹ năng nhận thức và vận
dụng những kiến thức vào việc bồi dưỡng nhân cách cho công chức, viên
chức làm việc tại các cơ quan hành chính Nhà nước; đồng thời góp phần hình
thành các kỹ năng về quản lý con người, quản lý tài sản... Các kỹ năng chủ
yếu được hình thành thông qua các nội dung của môn học có sự lồng ghép
của giảng viên.
2. Trình bày lý do mà cá nhân quyết định tham dự khoá bồi dưỡng;
Trường học là đơn vị hành chính sự nghiệp, nằm trong nền hành chính
quốc gia. Là một giáo viên kiêm tổ trưởng chuyên môm của trường, bản thân
mới được bồi dưỡng kiến thức về quản lý giáo dục; Vốn hiểu biết về Nhà
nước và quản lý hành chính nhà nước còn còn hạn chế. Tôi quyết định tham
gia lớp bồi dưỡng chuyên viên k22 do Bộ Nội Vụ đào tạo để nâng cao kiến
Nguyễn Thị Hồng G dạy lớp cháu bà ta học đã bắt cóc. Bà Trần Thị T yêu
cầu Ban Giám hiệu phải kiểm điểm và xử lý kỷ luật cô Nguyễn Thị Hồng G
vì thiếu trách nhiệm để con chị đi ra khỏi trường như vậy là không đúng, vì
vậy bà T khóc lóc và đòi đền cháu.
Lúc này là đang hoạt động học bình thường, Cô Nguyễn Thị Hồng G
đang dạy học sinh trên lớp, hơn nữa nhà trường cũng chỉ nắm được thông tin
từ phía phụ huynh học sinh, chưa chao đổi được với giáo viên chủ nhiệm lớp
vì vậy cô phó Hiệu trưởng nhà trường đã mời bà Trần Thị T vào văn phòng
trao đổi và uống nước(nhằm nắm thêm tình hình và xoa dịu bức xúc bà
T).Đồng thời cử một số cô ở các lớp đi tìm cháu trong đó có tôi. Sau khi tìm
hiểu hỏi thăm thì tôi nhận được một thông tin khoảng 9h kém 20 có một cháu
trai bước ra khỏi cổng và có một người đàn ông khoảng chừng 32 tuổi tên là
D dắt đi khỏi và gửi cháu vào nhà bà họ cháu, sau đó báo cho bà cháu biết và
ngay lập tức bà cháu đến trường lu loa lên, khi nhận được thông tin đó ngay
lập tức tôi về báo cáo lại với cô phó Hiệu Trưởng. Trong khi đó bà T vẫn
khóc lóc đòi cháu và bắt nhà trường phải sử lí cô giáo. Hiệu trưởng hứa sẽ
tìm hiểu thêm vụ việc và xử lý thấu tình đạt lý sự cố đã xảy ra. Tôi về
khoảng 20 phút sau thì bà họ của cháu lai cháu đến và khóc lóc chửi bới nhà
trường là trông nom như thế ah chúng mày về hết đi hôm nay tao phải cho
mấy con ở cái lớp này phải thôi việc, nếu như hôm nay mất cháu bà thật thì
chúng mày sẽ thế nào. Và bà đòi đuổi việc ba cô giáo đã để cháu chốn về.
Thật sự là một tổ trưởng và là một giáo viên đứng lớp đã 13 măm cũng có đôi
chút kinh nghiệm tôi tiếp cận bà họ của cháu là mẹ của bạn học tôi, đầu tiên
tôi xoa dịu bằng những lời nhẹ nhàng “ Bác hãy nể mặt con là bạn của thuận
cũng như con của bác, không mừng gì hơn là đã thấy cháu đó là cái mừng lớn
của gia đình và của chúng con, bác hãy nể mặt con và từ từ nói chuyện, Hiệu
trưởng trường con sẽ giải quyết thỏa đáng cho bác, và rót một cốc nước mời
bác ấy uống với vẻ mặt thân thiện và mong thông cảm, lúc đầu bà vẫn nhẩy
được ra ngoài. Vì vậy nhà trường sẽ nhận lỗi là phải sát sao hơn và tạm đình
chỉ ba cô giáo tạm nghỉ trong một tháng. Lúc đó đại diện bên phụ huynh là bố
của cháu p đứng lên có ý kiến. Vụ việc sảy ra cũng là do một phần của gia
đình lẽ ra đã gửi con là phải tin tưởng cô giáo chứ không thể thập thò ngấp
nghé để con ngóng chông và các bà cũng không nên làm quá lên như vậy. Và
bố của cháu bé đứng lên trực tiếp xin cho ba cô giáo không phải đình chỉ việc
để không ảnh hưởng đến danh dự của các cô và bố cháu có nói đây là một bài
học của các cô giáo cần phải rút kinh nghiệm và cả gia đình tôi cũng vậy.
Qua tình huống trên đó cũng là bài học cho tôi để mình sẽ phải luôn luôn đề
cao trách nhiệm trong việc chăm sóc giáo dục trẻ.
II. Phân tích tình huống:
Vụ việc diễn ra đã chứa đựng mâu thuẫn giữa giáo viên và phụ huynh
học sinh. Mâu thuẫn có thể tăng thêm nếu giải quyết tình huống không khẩn
trương và triệt để
Qua tìm hiểu, Hiệu trưởng nhà trường được biết bà Trần Thị T vừa
mới li dị chồng, nhà bà cũng ở gần trường, chính vì bức xúc trong gia đình
nên mới có những hành vi như vậy. Gia đình cô Nguyễn Thị Hồng G cũng
có một số lục đục gần đây nên trong các ngày lên lớp Cô G cũng hay cáu
gắtvà lơ đãng trong công việc. Bản thân em P cũng hay khóc và cũng đã
nhiều lần chốn ra khỏi lớp nhưng được cô giáo phát hiện và đưa về lớp.
Trước việc này Hiệu trưởng trao đổi với các P.Hiệu trưởng, Tổ trưởng
chuyên môn là tôi và đưa ra nhận định.
- Cách quản lí trẻ của Cô G là chưa đủ trách nhiệm, dựa vào các căn cứ sau
đây:
+ Quyết định số 16 /2008/QĐ-BGDĐT ngày 16 tháng 4 năm 2008 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc quy định đạo đức Nhà giáo: Điều 4
có nêu Nhà giáo phải “Tâm huyết với nghề nghiệp, có ý thức giữ gìn danh
Nhiệm vụ quan trọng của một cô giáo là làm thế nào để học sinh nhận
được sự yêu thương chăm sóc như một người mẹ thứ hai của mình. Khi đến
lớp cô giáo phải là người bạn, người anh, người chị, người mẹ, người cha.
Về phía phụ huynh học sinh (Bà T) xử sự như vậy là không đúng, quá
nóng nảy và xúc phạm đến giáo viên, thiếu thiện chí trong việc phối hợp với
giáo viên trong giáo dục học sinh, ngoài ra còn có ý dấu cháu để thử các cô
sau đó đến bắt đền nhà trường đó là hành vi không đúng, không phối hợp với
giáo viên và nhà trường để có cách chăm sóc giáo dục con một cách tốt nhất.
Nên đã có những phản ứng thái quá.
Qua phân tích, Lãnh đạo nhà trường xác định nguyên nhân, hậu quả
của vụ việc trên:
- Nguyên nhân khách quan:
Các văn bản quy định của Bộ Giáo dục về quy chế chuyên môn giáo nắm
chưa rõ ràng, vì vậy giáo viên vẫn chưa hiểu được hậu quả của nó.
-Nguyên nhân chủ quan:
Sự kém hiểu biết về các quy định của phụ huynh học sinh và giáo viên về
các quy định của pháp luật, của ngành Giáo dục đối với việc chăm sóc giáo
dục trẻ.
- Hậu quả của vụ việc:
Tình huống xẩy ra, tuy chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng nhưng đã
làm phát sinh mâu thuẫn, giữa giáo viên với phụ huynh học sinh, làm mất uy
tín của nhà trường, mất uy tín của giáo viên, giảm sút lòng tin của nhân dân,
gây bất bình trong nhân dân và ảnh hưởng đến kỷ cương nhà trường.
Tóm lại: Cách quản lớp của cô G đối với học sinh như vậy là chưa có
trách nhiệm, tuy nhiên hậu quả chưa nghiêm trọng, có thể khắc phục được.
Về phía phụ huynh học sinh xử sự như vậy là không đúng, quá nóng nảy và
xúc phạm đến giáo viên, thiếu thiện chí trong việc phối hợp với giáo viên
tiêu tốt nhất cần đạt chủ yếu là hòa giải, để các bên liên quan nhận ra thiếu
sót, có hướng khắc phục để công tác, học tập tốt hơn. Nếu không đạt được
mục tiêu này mới tiến hành xem xét kỷ luật, kiểm điểm.
2. Xây dựng, phân tích và lựa chọn phương án giải quyết tình huống:
2.1. Xây dựng các phương án:
Chủ trương chung để giải quyết tình huống nêu trên là vừa đảm bảo
đúng các quy định hiện hành vừa giải quyết nhẹ nhàng, êm thấm mà vẫn đạt
được mục tiêu đề ra là giải quyết mâu thuẫn đã phát sinh (mâu thuẫn giữa
giáo viên và bà Trần Thị T), không để bà T đến trường chửi mắng giáo viên
làm mất uy tín giáo viên và nhà trường, ảnh hưởng đến tính trang nghiêm của
nhà trường, đồng thời phải làm cho giáo viên thấy được sai sót trong cách
quản học sinh và tìm cách khắc phục. Đồng thời yêu cầu giáo viên chủ nhiệm
có biện pháp chăm sóc giáo dục đối với cháu P. Mục tiêu tốt nhất cần đạt chủ
yếu là hòa giải, để các bên liên quan nhận ra thiếu sót, có hướng khắc phục
để công tác chăm sóc giáo dục trẻ được tốt hơn.
Nhà trường đã đưa ra 3 phương án như sau:
* Phương án 1:
+Mục tiêu của phương án:
Giải quyết mâu thuẫn giữa cô G và bà T ,giữ uy tín cho giáo viên và nhà
trường.
+ Nội dung của phương án:
Nhà trường yêu cầu cô Nguyễn Thị Hồng G gặp trực tiếp gđ em P để giải
quyết.
+ Ưu điểm của Phương án 1:
Giải quyết nhanh gọn, người trong cuộc trực tiếp đối thoại, mâu thuẫn được
giải quyết tận gốc.
Hạn chế của Phương án 1:
Không có người chủ trì giải quyết, bước đầu Cô G và bà T không đồng
* Phương án 3:
+Mục tiêu của phương án:
Dựa trên các văn bản pháp lý về xử phạt nhà trường có hình thức cảnh cáo ,
nhắc nhở đối với giáo viên lớp 3C1 trước toàn trường để làm gương cho
những giáo viên khác nhằm giữ uy tín giáo viên và nhà trường. Làm cho GV
trong trường có ý thức tốt hơn nữa trong việc chấp hành kỷ cương nề nếp
+ Nội dung của phương án:
Tiến hành họp xét kỷ luật cô Nguyễn Thị Hồng G và đề nghị chính quyền địa
phương (ấp hoặc xã) họp kiểm điểm bà Trần Thị T vì có hành vi xúc phạm
giáo viên và làm mất trật tự trường học. Phân định rành mạch thiếu sót,
khuyết điểm của từng người (Cô G, bà T, bà họ em P) trong tình huống đã
nêu và đề ra hình thức xử lý thích đáng đối với từng người trong vụ việc
+ Ưu điểm của phương án 3:
Giải quyết đúng trình tự khi hòa giải không thành.
+ Hạn chế của phương án 3:
Phức tạp, mất nhiều thời gian công sức, tạo căng thẳng giữa GV với
phụ huynh và gây không khí căng thẳng trong trường. Ảnh hưởng mối quan
hệ tốt đẹp giữa nhà trường với cha, mẹ học sinh.
Đôi lúc khó thực hiện trong trường hợp bà T ngang bướng , không
nhận khuyết điểm và tiếp tục chửa bới giáo viên, chính quyền địa phương
không quan tâm đúng mức để giải quyết vấn đề. Hậu quả có thể tiến triển
xấu.
2.3. Phương án lựa chọn:
Chọn Phương án 2
Qua phân tích điểm mạnh, điểm yếu, tính khả thi của từng phương án,
lãnh đạo nhà trường quyết định chọn Phương án 2, tức là Hiệu trưởng Nhà
trường sau khi tư vấn và giao cho tổ trưởng chuyên môn mời cô G và bà T và
em P đến trường để giải quyết vụ việc. Tổ trưởng chuyên môn đóng vai trò
Được Hiệu trưởng nhà trường góp ý, cô G là có sơ xuất, mặt khác em P cũng
có lỗi, bà T cũng nóng nảy thành thử có ứng xử không tốt… bà T suy nghĩ lại
và vui vẻ nhận lời dự họp với tổ trưởng và Cô G để hòa giải.
Bước 4: Giáo viên chủ nhiệm lớp 6C tổ chức họp giải quyết vụ việc.
Tổ trưởng chủ trì cuộc họp (bà T, cô G ) để giải quyết vụ việc và báo cáo
kết quả cho BGH.
- Tổ trưởng tuyên bố lý do họp, tuyên bố mình được Hiệu trưởng ủy quyền
giải quyết vụ việc.
- Tổ trưởng thông báo vắn tắt diễn biến vụ việc, đồng thời nói rõ những vấn
đề mà bàT, cô G đã nhận thấy thiếu sót, những vấn đề mà bà T và cô G yêu
cầu phía bên kia nên thực hiện :
Về phía bà T tự thấy mình nóng nảy, do hoàn cảnh gia đình có nhiều
vấn đề, không xem xét kỹ sự việc thành thử có sụ hành xử không đúng với
cô G và nhà trường và mong cô G bỏ qua. Bà T cũng đề nghị, cô giáo quan
tâm hơn nữa tới em P .
Cô C nhận mình đã quá lơ là trong việc chăm sóc giáo dục học sinh.
Bà T và cô G cùng trao đổi, hai bên đều thống nhất như nhận định như
tổ trưởng trao đổi và xin lỗi nhau, đề nghị hai bên bỏ qua lỗi cho nhau.
IV. Kiến nghị:
- Đối với các trường Sư phạm cần chú ý hơn trong việc rèm luyện kỹ
năng chăm sóc giáo dục trẻ, quy chế nuôi dạy trẻ, cho sinh viên của mình.
- Đối với các trường học, hiệu trưởng cần triển khai đầy đủ các văn
bản của cấp trên liên quan đến quy chế nuôi dạy trẻ
- Về phía giáo viên, tuy hiện nay, giáo viên luôn chịu áp lực từ nhiều
phía như yêu cầu chất lượng dạy và... Ai cũng hiểu tức giận, căng thẳng có
thể làm chúng ta có những hành vi nóng giận nhất thời và gây hậu quả tai hại.
Để hạn chế tình trạng căng thẳng trên, giáo viên nên tự rèn luyện bản thân
với chế độ ăn uống, ngủ nghỉ phù hợp, Các cô có thể giảm căng thẳng bằng
Đảng Cộng Sản Việt Nam - Nghị quyết 2, Ban Chấp hành Trung Ương
Đảng Khoá VIII.NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.
2.
Đảng Cộng Sản Việt Nam – Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
IX. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001.
3.
Đảng Cộng Sản Việt Nam - Nghị quyết 6, Ban Chấp hành Trung Ương
Đảng Khoá IX.NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
4.
Điều lệ trường Phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo Thông
tư số: 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3 /2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo)
5.
Chính phủ - Nghị quyết 90/CP ngày 21/8/1987 của Chính phủ về
Phướng và chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn
hoá.
6.
Chỉ thị số 40 Ban Chấp hành Trung ương, Ngày 15 tháng 6 năm 2004
về việc nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo
13.
Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 được Quốc hội
Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 5
thông qua ngày 15/6/2004
14.
GS-TS Nguyễn Duy Quý – Phát triển con người, tạo nguồn nhân lực,
tạo nguôn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở
nước. Tạp chí Công sản số 19, tháng 10/1998.
15.
GS-TS Phạm Minh Hạc - Muời năm đổi mới giáo dục đào tạo. NXB
Giáo dục, Hà Nội, 1997.
16.
GS-TS Phạm Minh Hạc (Tổng chủ biên) – Xã hội hoá công tác giáo
dục. NXB Giáo dục, Hà Nội, 1997.
17.
Quyết định số 16 /2008/QĐ-BGDĐT ngày 16 tháng 4 năm 2008 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc quy định đạo đức Nhà giáo.
18.
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
LỚP BỒI DƯỠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN VIÊN CHÍNH
(Tổ chức tại tỉnh Kiên Giang năm 2011)
TIỂU LUẬN
TÌNH HUỐNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
Tên tình huống : XỬ LÝ XUNG ĐỘT GIỮA GIÁO
VIÊN VÀ PHỤ HUYNH HỌCC SINH TỪ VIỆC
XỬ PHẠT HỌC SINH
Họ và tên học viên:
Chức vụ:
Đơn vị công tác :
Người hướng dẫn :
Đỗ Quốc Huy
Hiệu trưởng
Trưởng Trung học phổ thông Đông Thái
TS Đào Đăng Kiên
Kiên Giang, tháng 11 năm 2011
.