ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN
ĐÀO THỊ TUYẾT MAI
NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC VỀ SỐNG THỬ
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP Ở HÀ NỘI: TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA,
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
VÀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN) LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI - 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN
sự biến đổi xã hội. Sự biến đổi của gia đình biểu hiện ở nhiều mặt: quy mô, cơ cấu,
vai trò, chức năng của gia đình. Bên cạnh mô hình gia đình truyền thống, gia đình
hiện đại, hiện nay ngày càng phổ biến các mô hình gia đình mới như gia đình đồng
tính, gia đình chỉ có bố hoặc mẹ nuôi con, đặc biệt là việc chung sống trước hôn
nhân của các cặp đôi nam nữ có thể coi là mô hình gia đình tiền hôn nhân.
Theo Báo cáo tổng hợp được công bố vào tháng 2 năm 2009 của Dự án quốc
gia điều tra về tình trạng hôn nhân của Mỹ (The national marrige Project) thì xu
hướng ngày càng nhiều các cặp đôi nam nữ chung sống trước hôn nhân và tỉ lệ này
gia tăng với tốc độ rất nhanh [60, pg2] (xem thêm phụ lục số 1). Qua bảng số liệu
điều tra về tỉ lệ các cặp đôi chung sống không kết hôn trên tổng số các cặp đôi sống
chung tại một số nước trên thế giới cho thấy cao nhất là ở New Zealand, thập niên
đầu của thế kỷ 21 tỷ lệ các cặp đôi chung sống không kết hôn tăng 59,1% so với tỷ
lệ đó của những năm 90 thế kỷ 20. Con số này ở các nước Anh, Mỹ, Úc lần lượt là
52,5%; 49% và 48,2%. Dữ liệu công bố ở Anh cho thấy rằng 12% dân chúng ở tuổi
từ 18 đến 24 là đang sống chung không hôn nhân với nhau [1, tr474].
Ở Mỹ, trong cuộc tổng điều tra dân số đều có chỉ số về các cặp chung sống
trước hôn nhân (cohabiting), đồng nghĩa với việc họ xem việc chung sống trước hôn
nhân cũng là một chỉ báo của hệ thống gia đình. Hiện nay tỷ lệ kết hôn của Mỹ đã
giảm xuống còn 43% kể từ năm 1960. Cùng với đó, số lượng cặp đôi nam nữ chung
sống không kết hôn tại Mỹ tăng gấp 6 lần vào thập niên 60 của thế kỷ XX và đã
tăng thêm 48% nữa vào giữa những năm 1990 và 1998. Theo báo cáo năm 2001 của
Cục thống kê Mỹ, 50% số người tuổi từ 25 đến 40 là sống chung với nhau không
kết hôn [1, tr475]. Theo số liệu công bố của Dự án quốc gia nghiên cứu về hôn nhân
của Mỹ cho thấy: năm 1960 có 439.000 cặp đôi sống chung không kết hôn, năm 1
1970 là 523.000 cặp đôi, năm 1980 là 1.589.000 cặp đôi, đến năm 2007 con số này
là 6.445.000 cặp đôi [59, pg7] (xem thêm phụ lục số 2). Như vậy từ năm 1960 đến
năm 2007 số cặp đôi nam nữ chung sống không kết hôn đã tăng 15 lần. Trong đó,
là thích thử. Gọi là “sống thử” nhưng thực tế đây là cuộc sống thật bởi những cặp
đôi này sống chung, cùng ăn, cùng sinh hoạt chung và có QHTD như các cặp vợ
chồng thật, tuy nhiên chưa đăng ký kết hôn hay đơn giản hơn là chưa có một đám
cưới chính thức ra mắt họ hàng.
Đối tượng sống thử tập trung vào giới thanh niên, trong đó có SV. Là một
nhóm xã hội đặc thù, SV Việt Nam ngày càng đông đảo: năm 1996-1997 có
568.300 SV, đến 2001-2002 con số này đạt 974.119 SV, tăng 1,7 lần trong vòng 5
năm. Số SV trên 1 vạn dân năm 1994 là 26, đến 2000-2001 đã là 118 SV/10000
dân. Số SV năm 2003 là 1.131.000, năm 2004 là 1.319.800 SV, năm 2005 là
1.387.100 SV, năm 2006 là 1.666.200 SV và đến năm 2007 tính sơ bộ có 1.928.400
SV [58]. Cùng với sự lớn mạnh về lượng là sự trưởng thành về chất. Bên cạnh
những thành tích vượt trội trong học tập và nghiên cứu khoa học, đời sống tinh thần
của SV hiện nay cũng có nhiều biến đổi. Việc nam nữ SV chung sống trước hôn
nhân ngày càng phổ biến. Cùng với đó là QHTD trước hôn nhân, những vấn đề về
sức khỏe sinh sản, tình trạng nạo phá thai, sự biến đổi tâm lý giới trẻ,…
Ở Việt Nam, cũng đã có một số nghiên cứu về những vần đề liên quan như:
nhận thức, thái độ và hành vi tình dục của SV đại học, nạo thai trước hôn nhân của
nữ thanh niên tại Hà nội, kiến thức phòng tránh thai của nam nữ thanh niên chưa lập
gia đình,…Chỉ trong 0,22 giây tìm kiếm trên mạng Google cho kết quả 17.200.000
bài viết liên quan đến “sống thử” (tất nhiên trong số này có các bài báo trùng lặp vì
đăng tải ở nhiều Website khác nhau). Một số nơi tổ chức những diễn đàn bàn luận
về sống thử - nên hay không nên, tiêu biểu là buổi tranh luận trực tuyến do báo
mạng Tienphongonline tổ chức ngày 8/4/2005 đã thu hút số lượng độc giả rất lớn.
Và ngày 2/12/2007 tại Hội trường trường ĐHKHXH&NV Hà Nội đã diễn ra cuộc
trao đổi thẳng thắn và sôi nổi giữa các chuyên gia tâm lý và SV với chủ đề “Yêu và
sống sao cho lành mạnh”,…Những điều này cho thấy sống thử thực sự đang là một
vấn đề nóng bỏng trong giới SV và thu hút được nhiều sự quan tâm của nhiều đối
tượng khác nhau.
3
4
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu nhận thức của SV Đại học đối với vấn đề sống thử trước hôn nhân
dưới góc độ so sánh với cuộc sống gia đình, đánh giá những yếu tố tác động đến
nhận thức đó, phân tích hệ quả xã hội. Từ đó góp phần đưa ra kiến nghị, giải pháp
giúp cho SV có nhận thức đúng đắn hơn đối với vấn đề này và sẽ góp phần phát
triển lối sống có văn hoá trong giới thanh niên nói chung và SV nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những khái niệm, cơ sở lý luận và thực tiễn cũng như phương pháp
nghiên cứu về nhận thức của SV đối với vấn đề sống thử.
- Tìm hiểu nhận thức của SV đại học đối với vấn đề sống thử dưới góc độ so
sánh với cuộc sống gia đình.
- Phân tích những yếu tố tác động đến nhận thức của SV đối với vấn đề sống thử.
- Nhận diện xu hướng sống thử thông qua nhận thức của SV.
- Đề xuất một số giải pháp cụ thể để góp phần giúp SV có những nhận thức
thực tiễn đúng đắn, hợp lý hơn về vấn đề sống thử.
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Nhận thức của SV đại học với vấn đề sống thử.
4.2. Khách thể: SV Đại học, độ tuổi từ 18-24
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: SV 3 trường ở Hà Nội: ĐH BKHN, HVBC&TT và ĐH
KHXH&NV.
- Thời gian: từ tháng 9 năm 2008 đến tháng 9 năm 2009
5. Giả thuyết nghiên cứu
- Phần lớn SV chấp nhận sống thử như một hiện tượng tất yếu trong quá trình
biến đổi xã hội của Việt Nam.
- SV coi trọng đời sống tinh thần hơn đời sống vật chất và đời sống tình dục
trong sống thử.
+ 3 cán bộ đoàn (mỗi trường một đại diện).
6
Danh sách các SV được lựa chọn để phỏng vấn:
- Học viện BC&TT: 6 sinh viên, 3 nam và 3 nữ
- Đại học KHXH&NV: 7 sinh viên, 4 nữ và 3 nam
- Đại học BKHN: 6 sinh viên, 4 nam và 3 nữ.
Về tỉ lệ khóa học:
- Sinh viên năm 1 và năm 2: 10 người (5 ngoại tỉnh và 5 ở Hà Nội)
- Sinh viên năm 3 và năm 4: 10 người (6 ngoại tỉnh – có 2 bạn đang
sống thử và 4 ở Hà Nội)
c. Phát phiếu trưng cầu ý kiến: 300 bảng hỏi, số liệu được sử dụng song
song với đề tài "Thực trạng nhận thức, hành vi về tình dục và các biện pháp tránh
thai của SV các trường Đại học ở Hà Nội hiện nay" - luận văn cao học xã hội học -
Trương Thuý Hạnh.
6.2. Phương pháp xử lý thông tin.
- Xử lý thông tin định tính bằng chương trình NVivo
- Xử lý thông tin định lượng bằng chương trình SPSS 12.0
7. Khung lý thuyết
- Biến độc lập:
+ Đặc trưng nhân khẩu – xã hội: giới tính, tuổi, dân tộc
+ Gia đình: Quy mô, hoàn cảnh kinh tế, địa bàn cư trú
+ Nhà trường: khóa học, ngành học, hoạt động Đoàn.
- Biến phụ thuộc: Nhận thức của SV đại học về sống thử
+ Nhận thức về đời sống vật chất
+ Nhận thức về đời sống tinh thần
+ Nhận thức về đời sống tình dục
- Hệ quả của biến phụ thuộc:
+ Lối sống của sinh viên
+ Hệ quả xã hội
về sống thử Nhận thức về
đời sống tinh thần
Nhận thức về
đời sống vật chất
Nhận thức về
đời sống tình dục
Môi trường kinh tế - xã hội và văn hoá
Lối sống của sinh viên
Hệ quả xã hội
Gia đình
- Quy mô
- Hoàn cảnh kinh tế
- Địa bàn cư trú 8
8. Cấu trúc của luận văn:
Mở đầu.
Nội dung:
Chương 1: Cở sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Nhận thức của SV đại học về hiện tượng sống thử của SV
hiện nay
1.2.1. Lý thuyết về gia đình
- Khái niệm Gia đình:
Gia đình là một tổ chức xã hội được hình thành từ khá sớm trong lịch sử của
loài người, đồng thời cũng là một thiết chế xã hội quan trọng và đặc biệt. Mỗi ngành
10
khoa học có cách tiếp cận với gia đình không hoàn toàn giống nhau: tâm lý học
nghiên cứu quá trình hình thành và hoàn thiện nhân cách của cá nhân trong gia
đình; dân số học quan tâm đến vai trò và cơ cấu của gia đình trong tái sản xuất dân
số; kinh tế học nghiên cứu về gia đình là một đơn vị kinh tế cơ bản - đơn vị tiêu
dùng. Xã hội học nghiên cứu các vấn đề xã hội của gia đình: các mối quan hệ bên
trong gia đình, sự tương tác giữa các thành viên trong gia đình, sự tác động qua lại
giữa gia đình và xã hội
Cũng từ cách tiếp cận khác nhau nên có nhiều cách giải đáp về khái niệm
gia đình.
Theo từ điển triết học, gia đình là đơn vị xã hội (nhóm xã hội nhỏ), hình thức
tổ chức quan trọng nhất của sinh hoạt cá nhân, dựa trên hôn nhân và các quan hệ
huyết thống, tức là quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị
em và những người thân thuộc khác cùng chung sống và có kinh tế chung. Đặc
trưng của sinh hoạt gia đình là các quá trình vật chất và tinh thần [18, tr378].
Theo tác giả Levy Strauss: gia đình là một nhóm xã hội học được quy định
bởi 3 đặc điểm thường thấy:
+ Hôn nhân
+ Quan hệ hôn nhân
+ Các ràng buộc và trách nhiệm giữa các thành viên trong gia đình.
Aguste Comte coi "gia đình là một tập đoàn xã hội cơ bản và quan trọng nhất
mang tính lịch sử trong quá trình tiến triển của xã hội". Còn Karl Marx cho rằng
"gia đình là một mối liên hệ, thông qua đó và nhờ đó mà thực hiện việc tái sản xuất
con người và cơ cấu của việc tái sản xuất con người".
Theo Ăng-ghen: "Khái niệm gia đình thường gắn với hôn nhân và là khái
con cái nên người. Cha mẹ phải luôn giữ gìn lời ăn tiếng nói cũng như tác phong
làm việc của mình để làm tấm gương cho con cái noi theo. Ngược lại, con cái phải
luôn hiếu kính với ông bà, cha mẹ, biết phụng dưỡng chăm sóc ông bà, cha mẹ, biết
làm cho ông bà, cha mẹ được rạng rỡ và không làm việc gì khiến cho ông bà, cha
mẹ phải tủi hổ với hàng xóm láng giềng. Một gia đình hoà thuận còn là một gia đình
mà anh em biết bảo ban nhau cùng tiến bộ, biết thương yêu đùm bọc lẫn nhau, biết
em ngã thì chị nâng.
12
Trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước,
khi nhắc lại nhận xét của Mác về “sự giống nhau giữa thiết chế gia đình với những
hệ thống chính trị, pháp luật, tôn giáo và triết học”, Ăngghen cho rằng mọi thiết chế
khác đều có thể thay đổi theo những điều kiện kinh tế – xã hội khách quan nhưng
“chỉ khi nào gia đình hoàn toàn thay đổi thì những hệ thống ấy mới hoàn toàn thay
đổi” [10, tr.85]. Ông cũng cho rằng cơ sở căn bản cho sự bền vững của các giá trị
gia đình chính là sự chặt chẽ của các quan hệ huyết thống. Nhưng quan hệ này,
thậm chí trong khi nhiều chuẩn mực và giá trị trong gia đình đã có thể thay đổi thì
chính bản thân tính huyết thống của nó vẫn cứ “chai sạn lại rất lâu”.
Tính bền vững của mỗi gia đình đều có ảnh hưởng tới sự ổn định của xã hội,
tới sự chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hoá sang nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN mà chúng ta đang tiến hành. Gia đình mới mà chúng ta xây dựng là
một gia đình hòa thuận dựa trên cơ sở dân chủ: vợ chồng, cha con anh em tôn trọng
lẫn nhau, cùng nhau bàn bạc và quyết định những vấn đề lớn của gia đình. Hạt nhân
của mỗi gia đình ấy chính là vợ và chồng. Vì vậy, những hành vi ứng xử và giao
tiếp của mỗi thành viên trong gia đình được Nho giáo quy định chặt chẽ, phụ thuộc
vào danh phận mỗi người gia đình là cái nước nhỏ (nhất gia nhân, nhất quốc hưng
vong). Nho giáo khẳng định, nếu xây dựng được một gia đình hoà thuận, con cái
biết hiếu đễ cha mẹ biết từ nhượng thì đó cũng là làm chính trị rồi. Bởi nước cũng
chỉ là một cái nhà to. Các căn nhà nhỏ - gia đình mà hòa thuận thì căn nhà to cũng
sẽ hòa thuận.
quan trọng của gia đình. Cùng với sự phát triển của xã hội, quan niệm về tầm quan
trọng của chức năng sinh sản cũng có những thay đổi. Trình độ dân trí và sự nhận
thức đang dần làm thay đổi hành vi sinh đẻ. Việc tái sản xuất con người từ một quá
trình tự nhiên đang chuyển sang quá trình tự giác, được kiểm soát. Dù tại một số xã
hội công nghiệp, tâm lý không thích sinh con vì muốn tập trung cho công việc, cho
việc hưởng thụ cá nhân vẫn tồn tại nhưng tại Việt Nam, đứa con vẫn là một biểu
hiện của giá trị hạnh phúc gia đình.
+ Chức năng kinh tế:
Chức năng kinh tế của gia đình được thể hiện trên hai khía cạnh: sản xuất và
tiêu thụ; vì nhu cầu thiết yếu đầu tiên của các thành viên trong gia đình là được đảm
14
bảo nhu cầu về ăn, ở, mặc. Chức năng kinh tế của gia đình vừa mang tính chia sẻ
thu nhập vừa mang tính đóng góp thu nhập.
Tiêu thụ là chức năng tất yếu của gia đình. Để tồn tại và phát triển, các thành
viên trong gia đình cần có đủ các phương tiện vật chất và tinh thần. Chúng bao gồm
thức ăn nuôi sống con người, nhà cửa, đồ dùng sinh hoạt, phương tiện đi lại,
phương tiện thông tin phục vụ đời sống văn hoá, Ngày nay, chức năng tiêu thụ của
gia đình càng được thực hiện tốt hơn bởi sự phát triển của điều kiện kinh tế, văn
hoá, xã hội.
Trong việc thực hiện chức năng kinh tế, gia đình Việt Nam hiện nay thực
hiện tốt cả hai vai trò là đơn vị sản xuất và tiêu thụ. Bên cạnh đó, vai trò tiêu thụ của
gia đình ngày càng được đề cao bởi nhu cầu của con người không chỉ dừng lại ở
việc sinh hoạt mà còn đòi hỏi được phát triển cá nhân, được vui chơi giải trí. Những
loại hình dịch vụ dành cho gia đình như người giúp việc, bác sĩ gia đình, ngày
càng đa dạng.
+ Chức năng giáo dục, xã hội hoá cá nhân:
Chức năng giáo dục của gia đình là sự tiếp tục hoàn thiện chức năng sinh
sản. Khoa học ngày nay đã khẳng định cơ sở trí tuệ và tình cảm cá nhân hình thành
từ tuổi ấu thơ và chính gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên của mỗi cá nhân, là
cái, Cơ sở của những tình cảm trên là các chuẩn mực xoay quanh chữ “hiếu”.
Hai là, quan hệ vợ chồng mà sự gắn kết là tình yêu và hôn nhân. Có thể nói
đây là mối quan hệ nền tảng của mỗi gia đình. Sự gắn kết của người vợ và người
chồng quyết định sự bền vững của gia đình. Chuẩn mực của mối quan hệ này xoay
quanh chữ “tình”.
Ba là, tình cảm giữa những người cùng thế hệ – là anh chị em trong một gia
đình. Người xưa vẫn ví tình cảm cao quý này là như chân với tay, không thể tách
rời. Mối quan hệ này được xây dựng trên cơ sở các chuẩn mực về “nghĩa”.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, các chuẩn mực về “hiếu”,
“tình” và “nghĩa” đều có sự biến đổi nên có sự mở rộng trong các mối quan hệ trên.
1.2.2. Lý thuyết về giới
Trong các nghiên cứu về gia đình, lý thuyết về giới có vai trò đặc biệt quan
trọng, nó cho phép xem xét, đánh giá, phân tích các sự vật hiện tượng theo một góc
16
độ hoàn toàn khác biệt so với các lý thuyết khác. Đó là sự xem xét sự vật hiện tượng
dựa trên vai trò xã hội xuất phát từ sự khác biệt về giới.
Lý thuyết về giới, lý thuyết nữ quyền xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX ở Phương
Tây. Làn sóng nữ quyền thứ nhất (1848-1918) với mục tiêu đạt được các quyền phụ
nữ trong phạm vi công cộng, đặc biệt là quyền bầu cử, giáo dục, nghề nghiệp. Quan
điểm của các nhà nữ quyền thời kỳ này là nhanh chóng đưa phụ nữ tham gia vào
lĩnh vực công cộng, nơi có sự nghiêm khắc về đạo đức giới tính và ứng xử. Đại biểu
cho thuyết nữ quyền thời kỳ này là Mary Wollstonecraft. Làn sóng thứ hai (1918-
1968) có liên quan đến các cải cách xã hội và cuộc "cách mạng" trong lĩnh vực
riêng tư như quyền tránh thai, chấm dứt áp bức tình dục. Trong thời kỳ này có hai
xu hướng lớn: phong trào nữ quyền Mac-xít và phong trào nữ quyền tự do, cấp tiến
và cách mạng. Đại biểu của giai đoạn này là Betty Friedan. Làn sóng thứ ba (từ
1968 đến nay) lại chủ yếu liên quan đến các vấn đề công cộng (vấn đề bình đẳng về
lương, chấm dứt phân biệt giới tính trong nghề nghiệp, lương hưu, thế chấp tài
sản ) và các vấn đề riêng tư (sự hãm hiếp và bạo lực gia đình). Trong giai đoạn
một là, tính khách quan của sự kiện xã hội thể hiện ở chỗ các sự kiện xã hội tồn tại
độc lập, không phụ thuộc vào ý thức cá nhân; hai là, sự kiện xã hội có khả năng
cưỡng chế, kiểm soát, bắt buộc đối với hành vi, hoạt động của cá nhân. Sự thay đổi
một yếu tố, một bộ phận nào đó sẽ kéo theo sự thay đổi ở các bộ phận, yếu tố khác
và làm biến đổi cả hệ thống.
Cũng theo Durkheim, đặc trưng nổi bật của sự kiện xã hội là sự cưỡng bức
của nó đối với hành vi cá nhân. Sự cưỡng bức của các sự kiện xã hội không phải là
do ý chí cá nhân mà là do hiện thực xã hội quy định, là sản phẩm của nguyên nhân
nhất định.
Trong luận văn này, lý thuyết cấu trúc - chức năng được vận dụng để tìm
hiểu sự tác động của các yếu tố cá nhân – gia đình – nhà trường – cộng đồng xã hội
đến nhận thức của SV về sống thử. Đó là sự lựa chọn mang tính chất cá nhân hay là
sự phục tùng theo khuôn mẫu hành động xã hội.
1.2.4. Lý thuyết hành vi lựa chọn hợp lý
Định đề cơ bản của lý thuyết này được nhà xã hội học người Mỹ Homans
diễn đạt theo kiểu định lý toán học: khi lựa chọn các hành động có thể thực hiện, cá
18
nhân sẽ chọn cách nào mà họ cho là tích của xác xuất thành công của hành động đó
là lớn nhất. Còn John Elster thì khái quát rằng:" Khi đối diện với một số cách hành
động, mọi người thường làm cái mà họ tin là có khả năng đại được kết quả cuối
cùng tốt nhất".
Như vậy, thuyết sự lựa chọn hợp lý được vận dụng để dự báo xu hướng sống
thử của SV, phân tích mục đích họ muốn đạt được và có thể đạt được.
Hai thành tố chủ chốt trong lý thuyết này là các tác nhân và các tiềm năng.
Tác nhân chính là SV và tiềm năng là một lối sống lành mạnh mà ai cũng mong
muốn có được.
Cuộc sống ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người càng vươn tới vô
hạn trong khi khả năng thoả mãn những ước vọng đó có giới hạn và mức độ khác
nhau ở các cá nhân khác nhau. Bởi lẽ mỗi người bị bao vây bởi môi trường xung
các câu lạc bộ vui chơi giải trí…hay theo hướng tiêu cực: đánh bài ăn tiền, tham
gia vào các hoạt động đồi trụy, nghiện hút…). Đây là nhân tố quan trọng của từng
cá nhân.
- Thái độ trong hoạt động chính trị - xã hội: sư tham gia vào các hoạt động
chính trị - xã hội của cá nhân trong các tổ chức xã hội (mức độ, thái độ, hành vi khi
tham gia (theo hướng nào? Tích cực hay tiêu cực). [44,tr.4-8]
Dưới góc độ xã hội học, nghiên cứu lối sống là nghiên cứu thái độ, làm rõ
mặt văn hóa của lối sống con người, nhóm xã hội đối với từng mặt của đời sống
(trong lao động xã hội, trong ứng xử hàng ngày và trong hoạt động chính trị - xã
hội). Vì thế, để tiến hành nghiên cứu và lý giải nó dưới góc độ xã hội học, XHH lối
sống không chỉ vận dụng những phương pháp nghiên cứu chung của xã hội học, mà
còn phải vận dụng một cách thành thạo các phương pháp nghiên cứu của các ngành
Khoa học xã hội khác có liên quan.
Ứng dụng hướng tiếp cận xã hội học lối sống, tác giả luận văn xem xét nhận
thức của SV đối với sống thử, qua đó biểu hiện thái độ của họ hay suy rộng ra là thể
hiện một phần trong lối sống người Việt trẻ, có thể dự báo một phần xu hướng của
lối sống này.
20
1.3. Một số khái niệm
- SV: là một nhóm xã hội đang trong quá trình xã hội hoá nghề nghiệp.
Trong đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu SV đang theo học tại các trường đại học,
độ tuổi từ 18-24.
- Sống thử: là khái niệm chỉ sử dụng trong đề tài. Hiện nay chưa có một khái
niệm chuẩn nào về “sống thử”. Tuy nhiên, trên góc độ nghiên cứu của luận văn này,
sống thử được hiểu là quá trình chung sống của cặp đôi nam nữ sinh viên khi chưa
đăng ký kết hôn và cũng chưa tổ chức đám cưới. Đó là trên cơ sở pháp lý những cặp
đôi này chưa được công nhận là vợ chồng nhưng thực tế về đời sống họ ở chung, ăn
chung, ngủ chung, sinh hoạt như một đôi vợ chồng thật. Vậy nên có thể dùng các
khái niệm tương đương là chung sống trước hôn nhân, gia đình tiền hôn nhân. Tác
Tóm lại, hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn, là cơ sở
của gia đình, là phương thức để xây dựng, duy trì, củng cố và phát triển gia đình
bền vững. Hôn nhân vừa tác động trực tiếp đến cuộc sống mỗi cá nhân, vừa là sự
phản ánh sắc thái văn hoá tộc người vì mỗi dân tộc có nét độc đáo riêng trong hôn
nhân. Vì vậy, có thể nói hôn nhân không chỉ là thừa nhận tính hợp pháp của quan hệ
giới tính mà còn mang nhiều ý nghĩa văn hoá - xã hội - kinh tế khác.
- Giới tính - giới và các khái niệm liên quan:
+ Giới tính là sự khác biệt về mặt sinh học phổ biến và không thay đổi được
ở mỗi cá thể từ lúc sinh ra đến khi không tồn tại về mặt sinh học. (Hiện nay có một
vài trường hợp phẫu thuật thay đổi giới tính). Giới tính được quy định bởi hệ thống
gen từ lúc con người còn là bào thai
+ Giới là nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho
nam và nữ bao gồm cả việc phân công lao động, các kiểu phân chia nguồn và lợi
ích. Giới được xác định theo văn hoá, có thể thay đổi cùng thời gian và chịu sự chi
phối của gia đình, xã hội gắn với nền văn hoá của từng khu vực.
Sự khác nhau giữa giới và giới tính chỉ ra nguồn gốc sâu xa của bất bình
đẳng về giới là giới tính. Các cá thể nói riêng và xã hội nói chung phải vượt ra khỏi
mô hình sẵn có trước đây để xem xét tính riêng biệt của giới và giới tính. Một nhu
cầu đặt ra là phải hiểu nhu cầu của giới và khả năng thay đổi của nó thông qua các
nghiên cứu về văn hoá xã hội.
22
+ Định kiến giới: là những quan niệm mà xã hội gán cho phụ nữ và nam giới,
cho rằng họ có khả năng và nghĩa vụ phải làm theo.
+ Giá trị giới: là các ý tưởng hay những mong muốn mà xã hội yêu cầu phụ
nữ và nam giới nên thế nào, nên làm gì?
+ Vai trò giới: là những công việc và hành vi cụ thể mà xã hội trông chờ ở
mỗi cá nhân với tư cách là người đàn ông hay đàn bà.
+ Nhu cầu giới: mang tính lịch sử cụ thể, ở bối cảnh xã hội khác nhau thì nhu
cầu xã hội khác nhau: