Đời sống của người dân nghèo, cận nghèo đô thị dưới tác động của lạm phát - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN VIỆT NGA
ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN NGHÈO, CẬN NGHÈO
ĐÔ THỊ DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT
(Khảo sát tại một số tỉnh phía Bắc)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC


Hà Nội - 2009

LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian thực hiện, luận văn cao học với nghiên cứu về: “Đời sống
của người dân nghèo, cận nghèo đô thị dưới tác động của lạm phát” (Khảo sát tại
một số tỉnh phía Bắc) đã được hoàn thành. Báo cáo này đã được thực hiện với sự hỗ
trợ, hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình của các quý thầy cô trong khoa Xã hội học trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn các quý thầy cô trong Khoa Xã hội học,
trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, đặc biệt các
thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy tôi trong suốt quá trình học tập tại lớp Cao học.
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Thị Kim Hoa đã dành nhiều thời
gian và tâm huyết hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như hoàn
thiện luận văn tốt nghiệp. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ và động viên của
TS. Nguyễn Thị Thu Hà trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Để hoàn thành được luận văn này, tôi cũng xin cảm ơn sự hỗ trợ về số liệu của
Văn Phòng Hỗ trợ Tư vấn Phản biện và Giám định Xã hội – Liên Hiệp các Hội Khoa
học và Kỹ thuật Việt Nam, sự hỗ trợ về kỹ thuật của Trung tâm Phát triển Xã hội và
Môi trường Vùng.
Đồng thời, tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, động viên khuyến khích
của người thân, bạn bè, đồng nghiệp… tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này.
Tuy nhiên, dù đã hết sức nỗ lực hoàn thiện luận văn, song khó có thể tránh được
những hạn chế, sai sót. Chính vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp quí báu của
quý thầy cô và các bạn nhằm hoàn thiện luận văn này.
Hà Nội, 2009
Học viên

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 14
1.1. Các hướng tiếp cận lý thuyết xã hội học 14
1.1.1. Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý của George Homans 14
1.1.2. Lý thuyết cái “vòng luẩn quẩn” & cú huých từ bên ngoài của Samuellson 15
1.2. Khái niệm công cụ 16
1.3. Tổng quan vấn đề nghiên cứu. 19
1.4. Tổng quan địa bàn nghiên cứu 22
1.4.1. Phường Quyết Thắng -Thành phố Sơn La 22
1.4.2. Phường Thái Bình-Thành phố Hoà Bình 22
1.4.3. Phường Liễu Giai-Thành phố Hà Nội 23

2
CHƯƠNG 2: ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN NGHÈO, CẬN NGHÈO DƯỚI
TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT 25
2.1. Thực trạng đời sống người dân nghèo, cận nghèo đô thị 25
2.1.1. Thu nhập 25
2.1.2. Chi tiêu 35
2.1.3. Tình trạng vay mượn của các hộ gia đình nghèo 36
2.2. Tác động của lạm phát đến đời sống của người dân nghèo, cận nghèo đô thị 39
2.2.1. Tình hình lạm phát trên thế giới và trong nước 39
2.2.2. Tác động của lạm phát đến đời sống của người dân nghèo, cận nghèo đô thị 41
2.3. Khả năng ứng phó với lạm phát của người dân nghèo, cận nghèo đô thị 54
2.3.1. Nguồn vốn ứng phó với lạm phát của người nghèo 54
2.3.2. Các ứng phó của người dân nghèo, cận nghèo đô thị với tác động của lạm phát 62
2.4. Tác động của các chính sách hỗ trợ với đời sống của các nhóm nghèo đô thị 69
2.4.1. Tổng quan chính sách xoá đói giảm nghèo và chính sách hỗ trợ chống lạm phát 69
2.4.2. Quá trình triển khai các chính sách hỗ trợ đối với người dân nghèo, cận nghèo
đô thị 71
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 77
1. Kết luận. 77

46
Bảng 2.8: Tác động của lạm phát đến việc giáo dục con cái ……………………
52
Bảng 2.9: Tác động của lạm phát đến việc chăm sóc sức khoẻ của các thành viên
trong gia đình …………………………………………………………….
52
Bảng 2.10: Các loại đất sản xuất của các hộ gia đình hiện đang giữ chủ quyền
55
Bảng 2.11: Nguồn vốn vay của các hộ gia đình nghèo, cận nghèo đô thị ……….
57
Bảng 2.12: So sánh mục đích sử dụng vốn vay của các hộ gia đình nghèo, cận
nghèo tại 3 đô thị ………………………………………………………………
58
Bảng 2.13: Một số biện pháp ứng phó tác động của lạm phát đối với hoạt động
sản xuất kinh doanh ……………………………………………………………
63
Bảng 2.14: Biện pháp ứng phó liên quan đến chất lượng bữa ăn………………….
64
Bảng 2.15: Các hình thức cắt giảm chi tiêu cho các mối quan hệ xã hội …………
66
Bảng 2.16: Cách thức ứng phó với những tác động của lạm phát đối với việc GD
67
Bảng 2.17: Cách thức ứng phó của người nghèo trước các tác động của lạm phát
đối với sức khoẻ của các thành viên trong gia đình …………………………
68
Bảng 2.18: Chính sách hỗ trợ của Nhà nước ……………………………………….
73

Biểu đồ 2.11: Số thành viên trong độ tuổi lao động ………………………………
59
Biểu đồ 2.12: Số nhân khẩu trong độ tuổi lao động có việc làm ………………….
59
Biểu đồ 2.13: Cơ cấu nguồn thu của các hộ gia đình trong 6 tháng đầu năm 2008 ….
61
Biểu đồ 2.14: Tỷ lệ các hộ được hưởng chính sách của Nhà nước từ năm 2007 đến nay
72
Biểu đồ 2.15: Đánh giá của người dân về tính kịp thời trong việc triển khai các chính
sách 6 tháng đầu năm 2008 ………………………………………………
75
Danh mục sơ đồ:
Sơ đồ 2.1: Tác động của lạm phát đến đời sống người dân nghèo, cận nghèo đô thị
43
Sơ đồ 2.2: Huy động các nguồn vốn ứng phó với lạm phát của người dân nghèo,
cận nghèo đô thị …………………………………………………………………
55
Sơ đồ 2.3: Các biện pháp ứng phó với lạm phát của người nghèo………………
63
Danh mục hộp:
Hộp 1: Chăn nuôi năm 2008: Hết dịch bệnh, thiên tai đến… lạm phát ……………….
34
vững bước trên chặng đường chinh phục các mục tiêu Thiên niên kỷ.

6
Tuy nhiên, như hai mặt của một vấn đề, câu chuyện về xoá đói giảm nghèo ở
Việt Nam bên cạnh những thành tựu và những bài học thành công cũng không thiếu
những ví dụ chưa thành công và có một thực tế thành tích giảm nghèo của Việt Nam
còn thiếu bền vững cũng như khoảng cách giàu nghèo đang ngày càng có xu hướng
dãn ra. Bẫy nghèo luôn ở trạng thái rình rập và có thể sập bất kể lúc nào, người nghèo
sẽ lại càng nghèo trong khi nhóm cận nghèo lại rơi xuống nhóm nghèo. Bẫy nghèo
truyền thống được nhiều người thừa nhận bao gồm 5 yếu tố và rõ ràng trong bối cảnh
hiện tại bẫy nghèo này cần phải được cấu trúc lại và bổ sung nhân tố mới. Nhân tố mới
ở đây chính là các cú sốc xã hội, điển hình là lạm phát trong năm 2008. Trong bẫy
nghèo truyền thống, không có yếu tố lạm phát nhưng rõ ràng khó có thể khẳng định
lạm phát hay các yếu tố còn lại trong bẫy nghèo truyền thống có tác động mạnh hơn tới
người nghèo. Người nghèo từ trước tới nay mới chỉ quen và thậm chí được hỗ trợ để
ứng phó với thiên tai, thất học, ốm yếu…chứ chưa quen ứng phó với lạm phát. Chính
vì thế những cú sốc về kinh tế một mặt tạo ra những người nghèo mới, mặt khác làm
những người nghèo cũ trở nên nghèo sâu hơn.
Đối với Việt Nam nói riêng và đại đa số các nền kinh tế khác trên thế giới nói
chung, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã khiến mọi sự thay đổi kinh tế thế
giới dù là nhỏ nhất cũng có thể tạo ra những hiệu ứng domino trên toàn cầu. Thời điểm
cuối năm 2007, nhiều nền kinh tế chủ đạo của thế giới như Mỹ, Nhật Bản chững lại
kéo theo sự phát triển chậm lại của kinh tế thế giới nhưng Việt Nam vẫn vững vàng
vượt qua thời điểm này với tốc độ tăng trưởng GDP cao nhất trong hơn 20 Đổi mới
(8,5%). Tuy nhiên bước sang năm 2008, tình hình kinh tế vĩ mô đã có nhiều thay đổi
nhanh chóng, lạm phát tăng cao tác động đến toàn thể các nhóm xã hội buộc Chính phủ
phải điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng và chuyển trọng tâm điều hành nền kinh tế đất
nước sang ổn định kinh tế vĩ mô. Năm 2007, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam đã đạt đến
mức kỷ lục trong vòng 10 năm (12,63%) [16]. Năm 2008, tình hình lạm phát của Việt
Nam cũng không có dấu hiệu thuyên giảm, thậm chí còn có chiều hướng tăng mạnh

phó của chính những người dân này sẽ là cơ sở để đưa ra những khuyến nghị về chính
sách và hướng tới một chuẩn nghèo mới theo hướng bám sát với tình hình thực tiễn của
xã hội, có lợi cho người nghèo nói chung và người nghèo ở đô thị nói riêng khi mà
những dự báo về sự nhích lên của tỷ lệ nghèo ở khu vực đô thị đã xuất hiện [23]. Với
mục tiêu này, tác giả đã thực hiện đề tài: “Đời sống của người dân nghèo, cận nghèo
đô thị dưới tác động của lạm phát” (Khảo sát tại một số tỉnh phía Bắc)

8
2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài.
2.1. Ý nghĩa lý luận.
Về phương diện khoa học, đói nghèo vẫn luôn nhận được sự quan tâm của nhiều
ngành khoa học. Kinh tế học tập trung vào các diễn biến của nền kinh tế với các chỉ số
rõ ràng, cụ thể. Ngành dân số xem xét đói nghèo với cách nhìn nhận về chất lượng
sống của các hộ nghèo, những nguyên nhân, giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chất
lượng sống cho các hộ gia đình này. Xã hội học nghiên cứu đói nghèo dưới nhiều chiều
cạnh và góc độ khác nhau trong mối tương quan với các vấn đề khác để tìm ra bản
chất, xu hướng…của thực trạng đói nghèo bằng việc lý giải các hiện tượng xã hội dưới
hệ thống các lý thuyết chuyên ngành. Các kết quả trong nghiên cứu này có thể góp
phần làm sáng tỏ một số lý thuyết xã hội học đại cương như: lý thuyết phân tầng xã
hội, lý thuyết hành động xã hội…cũng như áp dụng, chứng minh các quan điểm của xã
hội học kinh tế, xã hội học đô thị…
2.2. Ý nghĩa thực tiễn.
Nghiên cứu về đói nghèo không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn mang
một ý nghĩa thực tiễn to lớn. Những kết quả và những khuyến nghị về chính sách tốt từ
các nghiên cứu về đói nghèo sẽ là cơ sở quan trọng giúp các nhà hoạch định chính sách
đưa ra được những quyết sách có lợi cho người nghèo. Mặc dù thế giới ngày càng phát
triển, của cải vật chất cũng ngày càng nhiều hơn nhưng không vì thế mà thế giới không
còn đói nghèo cho dù ở những nước phát triển nhất. Với nghiên cứu này, hy vọng đời
sống của nhóm dân nghèo tại đô thị dưới tác động của lạm phát sẽ được chỉ ra một
cách khoa học và những bài học cũng như những khuyến nghị đưa ra thực sự có thể

chỉ tập trung tìm hiểu một số khía cạnh trong đời sống của người dân nghèo, cận nghèo
đô thị như: thu nhập, chi tiêu, tình trạng vay mượn của các hộ gia đình; một số tác động
của lạm phát lên đời sống của người dân nghèo, cận nghèo đô thị với các khía cạnh cụ
thể: hoạt động sản xuất kinh doanh, chất lượng sinh hoạt, giáo dục, sức khoẻ; ứng phó
của họ với các tác động của lạm phát và một số tác động của chính sách đối với đời
sống của người dân nghèo, cận nghèo đô thị.
4.4. Mẫu nghiên cứu
Dung lượng mẫu: là 180 đơn vị trong đó mỗi địa phương gồm 60 đơn vị mẫu
theo tỷ lệ 30 hộ nghèo và 30 hộ cận nghèo tính theo chuẩn nghèo, cận nghèo hiện tại
của Việt Nam ở khu vực đô thị.
Phương pháp chọn mẫu: Dựa trên mục tiêu, nhiệm vụ của cuộc nghiên cứu,
mẫu được chọn trong nghiên cứu chủ yếu là theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên.

10
Lập danh sách các hộ nghèo và cận nghèo theo chuẩn nghèo quy định ở khu vực đô thị.
Sau đó, chọn ngẫu nhiên hộ gia đình nghèo hoặc cận nghèo sẽ tham gia khảo sát đánh
giá về đời sống của người dân nghèo, cận nghèo đô thị dưới tác động của lạm phát.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.
5.1. Phương pháp luận
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là phương pháp luận
quan trọng giúp người nghiên cứu trong quá trình nhìn nhận và đánh giá vấn đề nghiên
cứu. Theo đó, quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng mọi sự vật, hiện
tượng đều nằm trong mối quan hệ ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Không có sự vật, hiện
tượng nào tồn tại một cách độc lập, riêng rẽ. Đứng trên góc độ của quan điểm này khi
nhìn vào đời sống của người dân nghèo, cận nghèo chúng ta cũng có thể thấy nó cũng
chịu sự tác động của rất nhiều nhân tố xung quanh: từ các yếu tố chủ quan của chính
bản thân những người dân nghèo cho đến các nhân tố từ chính môi trường kinh tế - xã
hội xung quanh họ, trong đó có tác nhân lạm phát. Do đó, để có thể tìm hiểu và lý giải
được các vấn đề trong đời sống của người dân nghèo, cận nghèo ở đô thị, chúng ta cần
phải xem xét nó trong mối tương quan với rất nhiều các nhân tố khác, bao gồm cả nhân

chất lượng sinh hoạt; giáo dục và y tế. Ngoài hai phần thông tin chủ yếu này, bảng hỏi
cũng thiết kế một số câu hỏi đánh giá về vai trò và tính hiệu quả, kịp thời của các chính
sách hỗ trợ, xoá đói giảm nghèo đối với người dân nghèo và cận nghèo trong bối cảnh
lạm phát.
Để đáp ứng các mục tiêu của luận văn, tác giả đã khai thác bộ số liệu của dự án
về nhóm nghèo, cận nghèo của khu vực đô thị (bộ số liệu từ 180 bảng hỏi cho nhóm
nghèo, cận nghèo ở khu vực đô thị). Đối với dự án này, tác giả đã được tham gia với tư
cách thành viên nghiên cứu, trực tiếp tham gia vào quá trình xây dựng bộ công cụ cũng
như quá trình khảo sát thu thập thông tin và viết các báo cáo chuyên đề cho dự án. Vì
vậy có thể hiểu rõ về mục tiêu cũng như kết quả của dự án cũng như có điều kiện thu
thập thêm các thông tin định tính phục vụ cho luận văn của mình.
- Phương pháp quan sát: đây là một phương pháp được sử dụng dụng nhằm kiểm
chứng các thông tin đã thu thập được từ bảng hỏi cũng như nhằm cung cấp thêm thông
tin cần thiết cho việc chứng minh giả thuyết nghiên cứu. Việc quan sát ở đây chủ yếu là
quan sát về điều kiện sống, sinh hoạt của nhóm dân nghèo ở một số khu vực đô thị phía
Bắc.

12
- Phương pháp phân tích tài liệu: được sử dụng nhằm bổ sung thêm các thông tin
chứng minh cho giả thuyết nghiên cứu. Nguồn tài liệu được sử dụng chủ yếu: sách,
báo, tạp chí, tài liệu trên mạng Internet…
- Phương pháp phỏng vấn sâu: được thực hiện nhằm cung cấp thêm thông tin đa
dạng, chi tiết để chứng minh cho giả thuyết nghiên cứu. Trong đề tài này, người nghiên
cứu tiến hành 10 cuộc phỏng vấn sâu với các đối tượng khác nhau như: người dân, cán
bộ chính quyền phường, tỉnh.
5.2.2. Phương pháp xử lý thông tin.
Thông tin định lượng được xử lý bằng chương trình SPSS.
6. Giả thuyết nghiên cứu.
- Đa số người dân nghèo, cận nghèo đô thị đều chịu tác động tiêu cực của tình trạng
lạm phát.

1.1.1. Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý của George Homans.
George Homans (1910 – 1989), nhà xã hội học người Mỹ, một trong các tác giả
của lý thuyết trao đổi xã hội, nổi tiếng với chủ trương đưa con người trở lại xã hội học.
Trong các lý thuyết của mình Homans đưa ra mô hình lựa chọn duy lý của hành vi cá
nhân trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản đã được khái quát thành các định đề sau:

Định đề phần thưởng: đối với tất cả các hành động của con người, hành động
nào càng thường xuyên được khen thưởng thì càng có khả năng được lặp lại.

Định đề kích thích: nếu một (nhóm) kích thích nào trước đây đã từng khiến
cho một hành động nào đấy được khen thưởng thì một (nhóm) kích thích mới càng
giống với kích thích đó bao nhiêu thì càng có khả năng làm cho hành động tương tự
trước đây được lặp lại bấy nhiêu.

Định đề giá trị: Kết quả của hành động càng có giá trị cao đối với chủ thể bao
nhiêu thì chủ thể đó càng có xu hướng thực hiện hành động đó bấy nhiêu. Và khi thấy
mối lợi đủ lớn thì cá nhân sẽ sẵn sàng bỏ ra nhiều “chi phí” vật chất và tinh thần để đạt
được nó.

Định đề duy lý: Cá nhân sẽ lựa chọn hành động nào mà giá trị của kết quả
hành động đó và khả năng đạt được kết quả đó là lớn nhất.

Định đề giá trị suy giảm (nhàm chán): Càng thường xuyên nhận được một
phần thưởng nào đó bao nhiêu thì giá trị của nó càng giảm đi bấy nhiêu đối với chủ thể
hành động.

Định đề mong đợi: nếu sự mong đợi của con người được thực hiện thì người ta sẽ
hài lòng, còn nếu không được thực hiện thì cá nhân sẽ bực tức, không hài lòng [18, tr313].
Như vậy, có thể thấy rằng con người là một động vật duy lý, trước khi thực hiện
hành động con người quan tâm nhiều nhất tới vấn đề lợi ích và phần thưởng, và thường

16

Để thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn này, bên cạnh việc cải thiện các yếu thế của
mình như nhân lực, kỹ thuật, tư bản hay tài nguyên, Samuellson cũng đặc biệt đề cao
vai trò của cú huých từ bên ngoài. Cú huých mang tính đột phá này theo ông chính là
cú huých đầu tư FDI.
Ở khía cạnh vi mô, cuộc sống của người nghèo là một vòng luẩn quẩn. Người
nghèo vẫn thường là những nhóm yếu thế trong xã hội, sự yếu thế của họ được thể hiện
trên nhiều phương diện, nghèo cả về vốn tài nguyên, vốn vật chất, vốn nhân lực thậm
chí là cả vốn xã hội… Trên thực tế, sự cộng hưởng của những thiếu hụt này cũng khiến
cho cái đói nghèo vẫn mãi quanh quẩn trong cuộc sống của họ. Do đó, để phá vỡ được
vòng luẩn quẩn đó, cần có những cú huých thực sự kết hợp giữa nội lực của người
nghèo và sự hỗ trợ bên ngoài. Điều này không chỉ giúp người nghèo thoát nghèo, mà
còn hướng đến thoát nghèo bền vững.
1.2. Khái niệm công cụ.
 Nghèo [43], [29], [30]:
Nghèo là thuật ngữ diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương
ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định. Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên
nhân dẫn đến nghèo thay đổi tùy thuộc vào từng địa phương và từng thời điểm nhất
định. Thông thường các yếu tố đói nghèo được xác định bằng các chuẩn nghèo, cách
tính chuẩn nghèo của các quốc gia, các tổ chức cũng rất khác nhau, ví dụ:
- Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO): một người là nghèo khi thu nhập hàng năm
ít hơn một nửa thu nhập bình quân đầu người hàng năm của quốc gia.
- Theo Ngân hàng thế giới: một người nghèo khi có mức thu nhập 1
USD/người/ngày theo sức mua tương đương (PPP).
Tiết kiệm đầu tư thấp
Tốc độ tích luỹ thấp

Đô thị là khu dân cư tập trung có những đặc điểm sau:
1. Về cấp quản lý, đô thị là thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quyết định thành lập;
2. Về trình độ phát triển, đô thị phải đạt được những tiêu chuẩn sau:

18
Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát
triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ như: vùng liên tỉnh, vùng
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc vùng trong tỉnh, trong thành phố trực thuộc
Trung ương; vùng huyện hoặc tiểu vùng trong huyện.
Đối với khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn tỷ lệ lao động phi nông nghiệp
tối thiểu phải đạt 65% tổng số lao động; cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân
cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn thiết kế quy hoạch xây dựng quy
định cho từng loại đô thị, quy mô dân số ít nhất là 4000 người và mật độ dân số tối
thiểu phải đạt 2000 người/km².
Mới đây nhất, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 42/2009/NĐ-CP ngày
7/5/2009 về việc phân loại đô thị. Trong đó, có đưa ra các tiêu chuẩn cơ bản để phân
loại đô thị như sau:
Các tiêu chuẩn cơ bản để phân loại đô thị được xem xét, đánh giá trên cơ sở hiện
trạng phát triển đô thị tại năm trước liền kề năm lập đề án phân loại đô thị hoặc tại thời
điểm lập đề án phân loại đô thị, bao gồm:
1. Chức năng đô thị
Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên
tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc đẩy
sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định.
2. Quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4 nghìn người trở lên.
3. Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và
được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn.
4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội
thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động.

mạnh mẽ. Ngược lại tỷ lệ nghèo ở khu vực thành thị lại có vẻ như chững lại, thậm chí
còn tăng nhẹ” [23, tr4]. Đây là kết quả của việc đại đa số các chính sách xoá đói giảm
nghèo đều được tập trung cho các khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa trong khi quá
trình đô thị hoá đang ở tốc độ cao và thiếu những bộ giảm sốc phù hợp để hạn chế các
cú sốc từ những sự chuyển dịch này. Điều này chưa bao gồm các nguyên nhân nghèo
cố hữu đã tồn tại nhiều năm tại đô thị nhưng chưa được giải quyết một cách triệt để.
Như vậy, từ những nhận định của WB và những dự báo về tác động của lạm phát đến
đời sống các nhóm nghèo, việc nghiên cứu những tác động của lạm phát đến đời sống
các nhóm dân nghèo đô thị càng có nhiều ý nghĩa cả ở khía cạnh khoa học và thực tiễn.
Trong số các báo cáo phát triển Việt Nam hàng năm cho đến nay, báo cáo phát
triển Việt Nam năm 2004 của Ngân hàng Thế giới về chủ đề “nghèo” được coi là một
điển hình về nghiên cứu nghèo đói ở Việt Nam trên cả hai phương diện lý luận và thực

20
tiễn. Báo cáo gồm 3 phần: (i) Phần I: Người nghèo là ai và vì sao họ nghèo, (ii) Phần
II: Chính sách công hiện nay và người nghèo, và (iii) Phần III: Tiến tới chú trọng
nhiều hơn đến giảm nghèo trong các chính sách công. Trong báo cáo này, bên cạnh
việc tập trung phân tích, định hình các đặc trưng nghèo đói, nguyên nhân, biến động
nghèo đói ở Việt Nam, báo cáo còn tập trung đánh giá vai trò của hệ thống chính sách
đối với người nghèo và đi liền với đó là các khuyến nghị cụ thể đối với các vấn đề
chính sách liên quan tới nghèo đói. Tuy nhiên các nội dung liên quan tới nghèo ở khu
vực đô thị ít được đề cập đến trong nghiên cứu này, đây cũng là một xu hướng chung
trong các nghiên cứu về đói nghèo ở Việt Nam hiện nay.
Cho đến nay, Việt Nam đã và đang thực hiện rất nhiều các chương trình, mục
tiêu quốc gia liên quan tới xoá đói giảm nghèo trong đó chương trình 135 có thể coi là
chương trình lớn nhất. Báo cáo đánh giá và lập kế hoạch cho tương lai: đánh giá
chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo và chương trình 135 do Bộ Lao
động, Thương binh và Xã hội & UNDP công bố năm 2004 đã đánh giá một cách chi
tiết và đầy đủ về tình hình thực hiện các chương trình, mục tiêu về xoá đói giảm nghèo
ở Việt Nam thành tựu và những cách thách thức mà Việt Nam đã, đang và sẽ gặp phải.

biệt so với tình trạng lạm phát của những năm trước đó như sự gia tăng mạnh và đồng
đều ở các nhóm hàng lương thực và phi lương thực; vượt ngoài sự dự báo của Chính
phủ và kéo theo sự mất giá của đồng tiền Việt Nam. Từ đó, tác giả đã chỉ ra một số tác
động của lạm phát đối với đời sống của những người có thu nhập thấp. Trong đó có
những tác động cụ thể với từng nhóm đối tượng như: những người sống bằng tiền
lương với những tác động mạnh nhất tới vấn đề thu nhập và chi tiêu; những người
nông dân và những người kinh doanh nhỏ lẻ với áp lực về chi phí đầu vào tăng nhanh
và đầu ra không tương xứng. Có thể nhận thấy rằng, các phân tích và đánh giá của tác
giả trong bài viết là khá sâu sắc, với nhiều dẫn chứng về số liệu. Tuy nhiên, những
phân tích này cũng mới chỉ là cái nhìn tổng quát về lạm phát cũng như tác động của nó
đối với đời sống người có thu nhập thấp. Mặc dù vậy, đây cũng là một tư liệu quan
trọng, cung cấp những dữ liệu khá thiết thực cho người nghiên cứu trong việc tìm hiểu
những tác động cụ thể của lạm phát đối với đời sống của các nhóm nghèo và cận nghèo
ở khu vực đô thị.
Như vậy, có thể thấy vấn đề nghèo đói và nghèo đói ở đô thị cũng đã được đề
cập tới trong khá nhiều các công trình nghiên cứu và Báo cáo phát triển của các tổ chức
trong và ngoài nước. Tuy nhiên, nghèo đói luôn có tính thời sự và là một phạm trù chịu
tác động của nhiều nhân tố khác nhau. Mỗi thời điểm, bối cảnh nhất định, sự nhận diện
về vấn đề đói nghèo, nguyên nhân cũng như hệ quả từ thực trạng này cũng luôn luôn
mới mẻ, đặc biệt trong bối cảnh lạm phát tăng cao. Do đó, cần phải có một nghiên cứu

22
mới về tác động của lạm phát đối với đời sống của nhóm dân nghèo thành thị cũng như
qua đó đánh giá khả năng ứng phó với tình trạng này của nhóm dân nghèo thành thị.
Với mục đích đó, đề tài: “Đời sống của nhóm dân nghèo, cận nghèo đô thị dưới tác
động của lạm phát” (Khảo sát tại một số tỉnh phía Bắc) được thực hiện.
1.4. Tổng quan địa bàn nghiên cứu
1.4.1. Phường Quyết Thắng -Thành phố Sơn La.
Thành phố Sơn La là một trong những thành phố trẻ của đất nước, mới được
chính thức thành lập vào năm 2008. Thành phố Sơn La được coi là thủ phủ của vùng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status