ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Hà Nội - 2013 Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Hoàng Bá Thịnh
Hà Nội - 2013 MỤC LỤC
Nội dung
Trang
MỞ ĐẦU
1
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
3
3. Mục đích nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu
4
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu và mẫu nghiên cứu
5
5. Câu hỏi nghiên cứu
5
6. Giả thuyết nghiên cứu
6
7. Khung lý thuyết
7
8. Phương pháp thu thập thông tin
34
2.1.1. Thực trạng nhận thức về con đường lây nhiễm HIV/AIDS
34
2.1.2. Nhận thức của cộng đồng về con đường lây nhiễm HIV theo thời gian
37
2.2. Nhận thức của cộng đồng về quyền và nghĩa vụ của người có
HIV/AIDS
40
2.2.1. Thực trạng nhận thức của cộng đồng về quyền và nghĩa vụ của người
có HIV/AIDS
40
2.2.2. Nhận thức của cộng đồng về quyền và nghĩa vụ của người có
HIV/AIDS theo giới tính
44
2.3. Nhận thức của cộng đồng về vấn đề việc làm của người có HIV/AIDS
47
2.3.1. Thực trạng nhận thức của cộng đồng về vấn đề việc làm của người có
HIV/AIDS
47
2.3.2. Nhận thức của cộng đồng về vấn đề việc làm của người có
HIV/AIDS theo địa bàn
51
Chương 3. THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI CỦA CỘNG ĐỒNG VỀ
HIV/AIDS
54
3.1. Thái độ của cộng đồng với người có HIV/AIDS
54
3.1.1. Thực trạng thái độ của cộng đồng với người có HIV/AIDS
54
3.1.2. Các yếu tố tác động đến thái độ của cộng đồng với người có
3.2.2.3.2. Hành vi của nhóm cha mẹ, người lớn tuổi
79
3.2.3. Hành vi của cộng đồng với người có HIV/AIDS tại trường học
81
3.2.3.1. Hành vi của VTN-TN với người có HIV/AIDS tại trường học
81
3.2.3.2. Hành vi của nhóm cha mẹ với người có HIV/AIDS tại trường học
84
3.3. Dự báo tình trạng kỳ thị với người có HIV/AIDS tại địa phương
89
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
94
1. Kết luận
94
2. Khuyến nghị
96
TÀI LIỆU THAM KHẢO
98
PHỤ LỤC
103
DANH MỤC BẢNG
Hành vi của người dân thôn Cao Bồ và An Lộc Hạ với người có HIV
qua các tình huống giả định
Bảng 3.7
Đánh giá của cộng đồng về sự thay đổi trong vấn đề kỳ thị với người có
HIV/AIDS so với 5 năm trước DANH MỤC BIỂU
Biểu 2.1
Nhận thức của cộng đồng về một số quyền của người có HIV/AIDS
Biểu 2.2
Nhận định của người dân về những nghề mà người có HIV/AIDS không
nên làm
Biểu 3.1
Thái độ của cộng đồng khi bất ngờ biết người đang nói chuyện nhiễm
HIV/AIDS
Biểu 3.2
Hành vi của cộng đồng với người có HIV/AIDS qua các tình huống giả
định
Biểu 3.3
So sánh hành vi của VTN-TN với người có HIV/AIDS bán đồ ăn từ 2010
- 2012
Biểu 3.4
So sánh hành vi của nhóm cha mẹ với người có HIV/AIDS bán đồ ăn từ
2010 - 2012
Biểu 3.5
sống chung với HIV, trong đó có 3.400 ca nhiễm mới trong năm 2012 [50] Đến
cuối tháng 6-2012 tại Việt Nam có hơn 200.000 người nhiễm HIV đang sống, trong
đó có hơn 58.500 người ở giai đoạn AIDS. Mỗi tháng, cả nước vẫn phát hiện trên
1.000 ca nhiễm mới. Đáng lo ngại là dịch HIV vẫn tiếp tục lan rộng về địa dư và
trong các nhóm người được coi là có hành vi nguy cơ thấp; lây truyền qua đường
tình dục ngày càng chiếm tỷ lệ cao [39]. Những con số này cho thấy dù y học thế
giới đã tiến bộ đáng kể, dù đã có nhiều chiến dịch ngăn ngừa và chống lại
HIV/AIDS nhưng căn bệnh này vẫn là một vấn đề nan giải của cộng đồng.
Nhận thức được những hậu quả của đại dịch HIV/AIDS, Đảng và Nhà nước
ta cũng đã xác định, đầu tư cho công tác phòng, chống HIV/AIDS là đầu tư góp
phần tạo ra sự phát triển bền vững của đất nước mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội
trực tiếp và gián tiếp. Đồng thời xác định công tác phòng, chống HIV/AIDS phải
được coi là một nhiệm vụ trọng tâm và lâu dài, coi đây là một vấn đề cấp bách của
xã hội cần phải huy động sự tham gia không chỉ của các cơ quan, tổ chức chính
quyền mà cần huy động sự tham gia của toàn xã hội. Chính phủ Việt Nam cũng như
các tổ chức xã hội dân sự trong những năm qua đã và đang có những nỗ lực rất đáng
kể trong việc giảm sự lây lan của căn bệnh HIV/AIDS. Chiến lược phòng, chống
2
HIV/AIDS đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 của thủ tướng chính phủ cũng đặt ra
mục tiêu: “100% các đơn vị, địa phương trên cả nước, đưa hoạt động phòng, chống
HIV/AIDS trở thành một trong các mục tiêu ưu tiên của chương trình phát triển
kinh tế - xã hội tại các đơn vị và địa phương; Nâng cao hiểu biết của người dân về
dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS: 100% nhân dân khu vực thành thị và 80% ở khu
vực nông thôn, miền núi hiểu đúng và biết cách dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS.”
[23, tr.49]. Trên cơ sở đó, rất nhiều các chương trình, kế hoạch dự phòng, ngăn chặn
lây nhiễm; giảm thiểu tác động; quản lý, điều trị, tư vấn và chăm sóc cho người có
HIV… đã được các tổ chức phi chính phủ, các viện, trung tâm nghiên cứu, các cơ
quan nhà nước triển khai một cách rộng rãi, tích cực và bước đầu đã đạt được những
sai về bản thân, có thái độ thiếu tự tin, bi quan, có thể dẫn đến những suy nghĩ và
hành động tiêu cực với bản thân và cộng đồng. Tính từ ca nhiễm HIV lần đầu tiên
năm 1990, bệnh AIDS đã có hơn 20 năm lịch sử ở Việt Nam. Nhà nước, các tổ chức
xã hội dân sự và toàn thể cộng đồng cũng đã tiến hành thực hiện nhiều chương
trình, dự án can thiệp, chiến dịch truyền thông… nhằm nâng cao nhận thức, thái độ,
hành vi của người có HIV cũng như người dân trong cộng đồng nói chung. Vậy cho
đến nay thực trạng của của vấn đề kỳ thị, phân biệt đối xử với người có HIV/AIDS
ở vùng nông thôn Việt Nam đang diễn ra như thế nào? Nhận thức, thái độ, hành vi
của cộng đồng với người có HIV/AIDS thay đổi như thế nào qua những năm gần
đây? Với mong muốn trả lời được câu hỏi trên cùng với sự quan tâm về mảng đề tài
HIV/AIDS tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Sự kỳ thị của cộng đồng đối với người
có HIV/AIDS ở khu vực nông thôn Việt Nam” (Nghiên cứu trường hợp tại xã Yên
Hồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định từ 2010 - 2012). Thực tế đã cho thấy, người
nhiễm HIV không sợ cái chết bằng sợ sự kỳ thị, phân biệt đối xử từ gia đình, cộng
đồng, xã hội. Và không phải ngẫu nhiên mà chương trình phối hợp của Liên hợp
quốc (UNAIDS) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cùng khẳng định: “Cần phải nhổ
tận gốc rễ sự kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV, bởi nó là thành trì
ngăn cản chính của việc mở rộng các tiếp cận điều trị và chăm sóc cho những
người mang bệnh” [47].
2. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
2.1. Ý nghĩa khoa học
Đại dịch HIV/AIDS nói chung và sự kỳ thị của cộng đồng với người có
HIV/AIDS nói riêng là một vấn đề xã hội rộng lớn mang tầm quốc tế. Các vấn đề
liên quan đến HIV/AIDS không chỉ là vấn đề của ngành dịch tễ học, công tác xã
hội, y tế công cộng mà nó là mối quan tâm chung của rất nhiều ngành khoa học,
trong đó có xã hội học. Việc vận dụng các kiến thức xã hội vào nghiên cứu, phân
4
tích chủ đề trên sẽ góp phần làm phong phú thêm lý thuyết của khoa học xã hội, đặc
Dự báo diễn biến và đề xuất một số gợi ý để dự phòng cho vấn đề phát hiện
trong nghiên cứu.
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu và mẫu nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Vấn đề kỳ thị với người có HIV/AIDS ở khu vực nông thôn Việt Nam
4.2. Khách thể nghiên cứu
Các bậc cha mẹ và vị thành niên/thanh niên
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Thôn Cao Bồ và thôn An Lộc Hạ, xã Yên Hồng, huyện Ý Yên,
tỉnh Nam Định.
Thời gian: Từ tháng 9/2011 đến tháng 11/2012.
Giới hạn lĩnh vực nghiên cứu:
Vấn đề HIV/AIDS bao hàm rất nhiều khía cạnh như dịch tễ học; phòng,
chống lây nhiễm HIV/AIDS; chăm sóc sức khỏe cho người có HIV/AIDS; kỳ thị
liên quan đến HIV/AIDS. Trong luận văn này, tác giả chọn nghiên cứu và phân tích
một khía cạnh đó là sự kỳ thị của cộng đồng với người có HIV/AIDS tại khu vực
nông thôn.
4.4. Mẫu nghiên cứu
Mẫu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên có chủ đích, bao gồm 411 đơn
vị mẫu là vị thành niên, thanh niên, các bậc cha mẹ và người lớn tuổi của 02 thôn
An Lộc Hạ và Cao Bồ, xã Yên Hồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
5. Câu hỏi nghiên cứu
5.1. Nhận thức của người dân về các vấn đề liên quan đến HIV/AIDS trong cộng
đồng hiện nay như thế nào?
5.2. Thái độ kỳ thị và hành vi phân biệt đối xử với người có HIV/AIDS đang diễn ra
ở mức độ nào?
5.3. Sự biến đổi nhận thức, thái độ, hành vi của cộng đồng trong vấn đề kỳ thị với
người có HIV/AIDS thay đổi như thế nào qua thời gian?
5.4. Những yếu tố nào ảnh hưởng đến nhận thức, thái độ, hành vi của cộng đồng với 7
7. Khung lý thuyết
cộng đồng với
người có
HIV/AIDS
Hành vi của
cộng đồng với
người có
HIV/AIDS
8
8. Phương pháp thu thập thông tin
8.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Trong đề tài luận văn này, tác giả sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để
có một cơ sở vững chắc nhằm tiếp cận và tìm hiểu vấn đề kỳ thị với người có
HIV/AIDS một cách toàn diện dưới góc độ nghiên cứu của khoa học xã hội học. Tài
liệu mà đề tài sử dụng có thể chia thành các nhóm chính sau:
- Tài liệu từ các công trình nghiên cứu khoa học, các dự án, báo cáo, giáo
trình, các cuộc điều tra như: Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt
Nam, báo cáo quốc gia về HIV/AIDS…
- Tài liệu và nguồn số liệu từ dự án: “Nâng cao kiến thức, kỹ năng và năng lực
của vị thành niên/thanh niên, cha mẹ và cộng đồng về giới, quyền sức khỏe sinh
sản/quyền sức khỏe tình dục và phòng chống HIV/AIDS ở khu vực nông thôn Việt
Nam” (sau đây gọi tắt là “Giới và phòng chống HIV/AIDS”) do Trung tâm Nghiên
cứu Giới, Gia đình và Môi trường trong Phát triển (CGFED) thực hiện. Dự án được
triển khai tại 4 tỉnh thuộc khu vực nông thôn Việt Nam là: huyện Lục Ngạn, tỉnh
Bắc Giang; huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định; thị xã Sông Cầu (trước 2010 là huyện
Sông Cầu), tỉnh Phú Yên và huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh. Dự án
được chia thành hai giai đoạn, mỗi giai đoạn kéo dài 05 năm, giai đoạn 01 của dự án
từ 2003 đến hết nửa đầu năm 2007; giai đoạn 02 từ nửa cuối năm 2007 đến 6/2012.
195
107
88
195
An Lộc Hạ
109
107
216
100
116
216
Tổng
212
199
411
207
204
411
Các phiếu trưng cầu ý kiến sau khi thu thập đã được xử lý qua chương trình
xử lý thống kê SPSS 16.0 for Windows. Từ đó xử lý các tương quan theo những
yêu cầu của nghiên cứu và tiến hành kiểm định giả thuyết thống kê theo tiêu chí khi
bình phương (γ²) và Cramer’V.
8.3. Phương pháp phỏng sâu
Trong luận văn này, tác giả phỏng vấn sâu 6 trường hợp tại hai thôn Cao Bồ
và An Lộc Hạ, xã Yên Hồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Trong đó, có 2 đối
tượng là cán bộ cấp thôn, 3 đối tượng là người dân và 1 trường hợp là người có
HIV. Trong 6 phỏng vấn này, 3 trường hợp là nam giới, 3 trường hợp là nữ giới.
vật lịch sử, xã hội học Macxit là cơ sở lý luận để nghiên cứu đề tài.
- Nghiên cứu các sự vật hiện tượng không chỉ dừng lại ở việc xem xét các biểu
hiện hình thức bên ngoài mà cần đi sâu vào tìm hiểu bản chất bên trong cũng
như quy luật vận động khách quan của các sự vật hiện tượng.
- Quá trình nghiên cứu không chỉ xem xét các sự vật hiện tượng một cách riêng lẻ
mà phải đặt chúng trong các mối quan hệ tác động lẫn nhau trong từng sự vật
hiện tượng.
11
- Vận dụng cơ sở lý luận của các chuyên ngành như Xã hội học Sức khỏe, Xã hội
học về Giới và Phát triển, Xã hội học Văn hóa, Xã hội học về truyền thông và dư
luận xã hội giúp cho việc tiếp cận vấn đề nghiên cứu một cách khách quan, sâu
sắc và đa chiều.
1.2. Các lý thuyết xã hội học áp dụng
1.2.1. Lý thuyết cấu trúc chức năng của Talcott Parsons về y tế và sức khỏe
Mô hình cấu trúc chức năng trong xã hội học dựa trên hình ảnh xã hội như
một hệ thống phức tạp mang tính hội nhập tốt và ổn định bên trong. Talcott Parsons
(1902 – 1979) là nhà nghiên cứu xã hội người Mỹ đã đưa ra học thuyết cơ cấu xã
hội nổi tiếng về những nguyên lý cấu tạo nên cấu trúc xã hội. Ông cho rằng cấu trúc
xã hội chi phối toàn bộ xã hội và hành vi con người tùy thuộc nhiều đến vai trò và
địa vị xã hội; học thuyết này được xem như là dòng tư tưởng chủ đạo hình thành
chủ nghĩa cấu trúc trong xã hội học. Trong lý thuyết cấu trúc chức năng về Y tế và y
khoa, Talcott Parsons cho rằng vấn đề sức khỏe của thành viên mang tính quyết
định đối với vận động chức năng của xã hội. Bệnh tật mang tính rối loạn chức năng,
nghĩa là làm xói mòn khả năng của cá nhân để góp phần vào hoạt động xã hội [2,
tr.656]. Theo cách đó, những người có HIV/AIDS được xác định là mang bệnh tật
và bệnh AIDS được xem là mang tính rối loạn chức năng đối với hoạt động xã hội.
Áp dụng mô hình cấu trúc – chức năng của Talcott Parsons giải thích y tế, y khoa về
vấn đề HIV/AIDS dựa trên hai khía cạnh chính đó là vai trò bệnh tật và vai trò của
hội được chữa bệnh, đa số người nhiễm HIV sau khi phát hiện bệnh đều thực hiện
các thủ tục nhằm nhận sự tư vấn, thuốc men, hỗ trợ điều trị của các trung tâm y tế
gần nhất.
Một khía cạnh cần nói đến trong thuyết cấu trúc – chức năng của Talcott
Parsons về y tế và y khoa trong giải thích này đó là vai trò của bác sĩ. Vai trò của
bác sĩ một mặt được coi như nhà cung cấp chăm sóc y tế chính, định hình bằng mối
quan hệ với vai trò ốm của bệnh nhân. Như vậy, bác sĩ ở đây cũng có thể được hiểu
dưới góc độ là những người có chuyên môn trong cung cấp sức khỏe cho mọi
người. Theo định nghĩa của tổ chức Y tế thế giới (WHO) “Sức khỏe là trạng thái
thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có
tình trạng không có bệnh hay thương tật”. Để cung cấp chăm sóc về sức khỏe tinh
thần và xã hội thì bác sĩ ở đây còn có thể hiểu là những cá nhân, tổ chức có chuyên
môn và hoạt động trong lĩnh vực cung cấp các chăm sóc để nâng cao sức khỏe như
13
các chuyên gia, các viện, trung tâm, các tổ chức phi chính phủ, nhân viên y tế và
cán bộ cộng đồng tại địa phương. Theo Talcott Parsons, mối quan hệ giữa bác sĩ và
bệnh nhân thường theo hệ thống thứ bậc, bác sĩ có vị trí quyền lực cao hơn bệnh
nhân. Quyền lực của bác sĩ dựa trên cơ sở văn hóa những người bệnh phải hợp tác
với bác sĩ, và được củng cố hơn nữa bằng thực tế bác sĩ có kiến thức mà bệnh nhân
không có [2, tr.657]. Trách nhiệm chính của bác sĩ là phải chữa bệnh. Vì vai trò ốm
bao gồm sự mong đợi rằng những người mắc bệnh muốn lành bệnh và sẽ tìm kiếm
sự giúp đỡ từ những người có năng lực chữa bệnh, người bệnh thường tìm kiếm
dịch vụ của bác sĩ và những người có chuyên môn. Trong một số trường hợp, việc
chữa bệnh là không thể, nhưng cả bác sĩ và bệnh nhân ban đầu có chung hy vọng
rằng bệnh tình sẽ được chữa khỏi. Bác sĩ không những hy vọng bệnh nhân tuân thủ
yêu cầu của mình mà còn hỏi bệnh nhân những thông tin mà bệnh nhân có thể
không nói cho người khác biết. Parsons nhận xét thông tin này được cung cấp cho
bác sĩ không chỉ hỗ trợ quá trình điều trị, bác sĩ cũng không sử dụng thông tin này
thuyết cấu trúc chức năng về y tế và y khoa của Talcott Parsons giúp giải thích khá
rõ ràng về vai trò và trách nhiệm của người có HIV/AIDS và vai trò của những
người làm công tác cộng đồng, nhân viên y tế trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và
phòng, chống HIV/AIDS.
1.2.2. Lý thuyết gán nhãn của George Herbert Mead
Người đưa ra những quan điểm và phân tích có tính chất nền móng cho lý
thuyết gán nhãn hiệu là nhà xã hội học nổi tiếng người Mỹ George Herbert Mead
(1863 - 1931). Lý thuyết gán nhãn hiệu “khẳng định sự lầm lạc và tính tuân thủ là
do kết quả của quá trình người khác xác định hay gán nhãn hiệu một người” [2,
tr.265]. Lý thuyết gán nhãn nhấn mạnh đến tính tương đối của sự lầm lạc, nói cách
khác cùng một hành vi có thể định nghĩa khác nhau từ tình huống này đến tình
huống khác. Vì thế, Howard S.Becker khẳng định rằng sự lầm lạc chỉ có thể định
nghĩa như “hành vi mà con người được gọi như thế” Tất cả hành vi đều có một số
hay không có ý nghĩa nào đối với người khác tùy theo quá trình phát hiện, định
nghĩa và phản ứng khác nhau. Con người cũng có thể bị gán nhãn hiệu tiêu cực vì
tham gia vào tình huống mà họ ít hay không có trách nhiệm [2, tr.265]. Nạn nhân
của những căn bệnh nghiêm trọng cũng có thể gọi là kẻ lầm lạc cho dù họ không hề
vi phạm tiêu chuẩn hành vi (có lẽ ngoại trừ tiêu chuẩn con người nên khỏe mạnh).
Người nhiễm HIV/AIDS cách đây chừng 10 năm bị gia đình, họ hàng, bạn bè, đồng
nghiệp, hàng xóm xa lánh, hắt hủi, kỳ thị. Và cho đến nay, ít nhiều người có
15
HIV/AIDS vẫn còn phải chịu thái độ xa lánh, phân biệt đối xử này ở các mức độ
khác nhau. Ngay cả những người bị nhiễm HIV/AIDS từ chồng/vợ, người yêu hay
những người nhiễm HIV/AIDS do không may sử dụng các dịch vụ y tế không đảm
bảo cũng rất có thể bị gán nhãn, bị xa lánh và phân biệt đối xử.
Theo quan niệm của nhà xã hội học George Herbert Mead, lý thuyết gán
nhãn giải thích đánh giá của người khác có thể gây tác động lớn đến việc chúng ta
nhận xét về chính mình. Phản ứng lúng túng, hoảng hốt hay quá lo lắng có thể khiến
Lý thuyết gán nhãn được sử dụng để giải thích sự kỳ thị, phân biệt đối xử của
cộng đồng với người nhiễm HIV/AIDS với các lý do như: Người dân trong cộng
đồng nhìn chung đã có hiểu biết về các đường lây truyền của HIV, nhưng sự mơ hồ
và hoài nghi vẫn tồn tại dai dẳng khiến họ vẫn còn lo sợ về việc lây nhiễm HIV
thông qua các tiếp xúc thông thường hàng ngày với người bị nhiễm. Điều này đã
dẫn tới việc người dân áp dụng những biện pháp, thường là không cần thiết và mang
tính kỳ thị, mà họ nghĩ là có tác dụng phòng tránh sự lây truyền của căn bệnh.
Nguyên nhân thứ hai dẫn đến sự kỳ thị đối với HIV/AIDS gắn tới một thực tế là
trong suy nghĩ của các lãnh đạo cộng đồng, của các cán bộ y tế cơ sở, và của người
dân, HIV/AIDS liên quan chặt chẽ với nghiện chích ma tuý và mại dâm, hai vấn đề
bị coi là “tệ nạn xã hội”. Sự phức tạp đặc biệt nảy sinh khi đụng tới nhóm nghiện,
tiêm chích ma tuý, là những người thường bị cộng đồng coi là hư hỏng. Do vậy, sự
phán xét đạo đức đã lan từ nhóm này sang những người có HIV/AIDS do lây
nhiễm từ chồng/vợ hay sử dụng các dịch vụ y tế; Ngoài ra, do công tác tuyên truyền
chưa phản ánh hết bản chất của nguy cơ lây nhiễm bệnh, trong một thời gian dài
ban đầu trong các chiến dịch phòng chống HIV/AIDS truyền thông thường mai tính
chất hù dọa, cho rằng HIV/AIDS đồng nghĩa với tệ nạn xã hội như ma túy, mại
dâm, quan hệ tình dục bừa bãi… mà ít đề cập tới nguyên nhân nhiễm HIV/AIDS là
rủi ro, tai nạn. Chính cách tuyên truyền này đã gây nên thái độ kỳ thị, ghê sợ với
những người nhiễm HIV/AIDS. Như vậy, thái độ phân biệt đối xử và kỳ thị của
cộng đồng đối với người bị nhiễm HIV/AIDS không hẳn là nhận thức không đúng
về cách lây truyền bệnh, mà nguyên nhân sâu xa là do mọi người gán cho một cái
nhãn tiêu cực và cái nhãn này cứ theo người bị nhiễm và người sống chung với
HIV/AIDS suốt cả cuộc đời. Người có HIV/AIDS không chỉ bị xã hội, cộng đồng
gán nhãn, kỳ thị mà ngay chính bản thân họ cũng đã tự gán nhãn cho mình, do đó,
trong cuộc sống người có HIV bị áp lực từ mọi phía và cả sự tự kỳ thị bản thân. Vậy
17
cộng đồng cần phải có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về những con đường lây truyền,
18
chính đó là: (1) Nâng cao năng lực về quyền SKSS & SKTD đối với VTN/TN và
cha mẹ; (2) Xây dựng môi trường ủng hộ việc bảo vệ quyền SKSS & SKTD; (3)
Mô hình nâng cao năng lực về SKSS & SKTD đối với VTN/TN duy trì bền vững và
nhân rộng ở các địa bàn dự án. Đây là một dự án lớn, được thực hiện trong một thời
gian dài, trên một địa bàn rộng trải dài từ Bắc vào Nam và cung cấp những kiến
thức một cách toàn diện về các vấn đề như: Quyền sức khoẻ sinh sản/ Quyền sức
khoẻ tình dục; Giới và Công bằng giới; Các bệnh lây qua đường tình dục và
HIV/AIDS; Quan hệ cha mẹ – con cái; Vai trò của cha mẹ trong việc chăm sóc sức
khoẻ sinh sản vị thành niên; Bạo lực gia đình và phòng chống bạo lực gia đình;
Quấy rối, xâm hại và lạm dụng tình dục. Dự án “Giới và phòng chống HIV/AIDS”
là một gợi mở để tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu “Sự kỳ thị của cộng đồng với
người có HIV/AIDS ở khu vực nông thôn Việt Nam”. Dự án “Giới và phòng chống
HIV/AIDS” là một dự án can thiệp, là nguồn cung cấp tài liệu và số liệu tham khảo
hữu ích, tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả có những điểm khác biệt và chuyên sâu
so với dự án trên. Nghiên cứu của tác chỉ chỉ đi sâu về mảng HIV/AIDS mà cụ thể
là khía cạnh sự kỳ thị và phân biệt đối xử với người có HIV/AIDS. Nghiên cứu chỉ
thực hiện tại địa phương là thôn Cao Bồ và An Lộc Hạ, xã Yên Hồng, huyện Ý
Yên, tỉnh Nam Định – là nơi mà có những trường hợp nhiễm HIV/AIDS đang sống
trong cộng đồng. Nghiên cứu được thực hiện tháng 11/2012, sau khi dự án “Giới và
phòng chống HIV/AIDS” đã kết thúc vào tháng 12/2011 do đó, nghiên cứu có thể
chỉ ra sự biến đổi nhận thức, thái độ, hành vi về HIV/AIDS qua thời gian. Tóm lại,
so với dự án “Giới và phòng chống HIV/AIDS” nghiên cứu “Sự kỳ thị của cộng
đồng với người có HIV/AIDS ở khu vực nông thôn Việt Nam” chỉ ra sự thay đổi
theo thời gian, phân tích các yếu tố tác động như giới, nhóm đối tượng và địa bàn,
đồng thời cung cấp một cái nhìn chuyên sâu về chủ đề kỳ thị với người có
HIV/AIDS.
“Nghiên cứu về kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan tới HIV và AIDS” [11]
do TS. Khuất Thu Hồng và Th.S. Nguyễn Thị Vân Anh, Viện nghiên cứu phát triển